VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ CƯỜNG DŨNG
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ CƯỜNG DŨNG
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI, 2020
BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................................. 65
3.1. Nâng cao nhận thức về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ........ 66
3.2. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn
nghiệp vụ về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ................................ 67
3.3. Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ................................................. 68
3.4. Nâng cao trình độ và năng lực, phẩm chất cho đội ngũ Thẩm phán . 71
3.5. Các giải pháp khác. ............................................................................ 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA
: Bộ Công an
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐXX
: Hội đồng xét xử
Bảng 1.2: Thống kê các loại thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm của một vụ
án hình sự phức tạp ................................................................................... 25
Bảng 1.3: Thống kê các loại thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm của một vụ
án hình sự được Tòa án nhận lại sau khi trả lại cho Viện kiểm sát để
điều tra bổ sung ......................................................................................... 26
Bảng 2.1: Thống kê kết quả xét xử sơ thẩm từ năm 2015 đến năm 2019 tại
Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ....................................... 41
Bảng 2.2: Số vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý, trả hồ sơ để điều tra bổ sung
và kết quả trả hồ sơ của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh từ năm 2015 đến năm 2019 .............................................................. 45
Bảng 2.3: Số vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý sau đó Đình chỉ; Tạm đình
chỉ của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015
đến năm 2019 ............................................................................................ 54
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do dân và vì nhân
dân, đảm bảo công lý, quyền con người và quyền công dân được quy định
trong Hiến pháp năm 2013, hoạt động xét xử hình sự nói chung và xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự nói riêng của Tòa án nhân dân đang được vận hành theo
tinh thần cải cách tư pháp được quy định tại Nghị quyết số 49 - NQ/BCT năm
2005 của Bộ Chính trị. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự diễn ra theo một quá trình gồm
các giai đoạn khác nhau, trong đó có giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự. Đây là giai đoạn quan trọng bởi kết quả chuẩn bị xét xử tốt, nhất là
nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án là yếu tố quan trọng để Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa và Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử nắm vững được nội dung
vụ án, chủ động tiến hành các hoạt động cần thiết, xét xử đúng người, đúng
Bởi lý do đó, học viên lựa chọn đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự từ thực tiễn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” để làm luận văn Thạc sĩ
luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để có thể nhận thức, học tập kinh nghiệm nghiên cứu, nhất là tránh
trùng lặp trong nghiên cứu, học viên tiến hành tham khảo một số công trình
khoa học đã được công bố trực tiếp liên quan hay gián tiếp liên quan đến đề
tài, trong đó có thể kể đến như: Sách “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng
hình sự” do GS.TS Võ Khánh Vinh (Chủ biên) Nxb Công an nhân dân 2004;
Giáo trình “Luật tố tụng hình sự Việt Nam” do tác giải Nguyễn Ngọc Chí chủ
biên, Giáo trình “Luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Học viện Tư pháp
(2011), Giáo trình “Luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật
Hà Nội (2015); Các công trình nghiên cứu chuyên sâu như Đề tài nghiên cứu
2
cấp Bộ của tác giả Vũ Đức Khiển (1996) về “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam”, “Một số vấn đề về quyết định
tạm giam và thời hạn tạm giam trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu
điều tra bổ sung tại phiên tòa” của tác giả Hoàng Đạt Nam (2017). Tác giả
Nguyễn Cảnh Hợp (2001) nghiên cứu về: “Các nguyên tắc của tố tụng hình
sự trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền”; “Xét xử sơ thẩm trong tố
tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Võ Thị Kim Oanh (2011)…
Trong số những luận văn luật học có thể kể đến: “Chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện
Tân Phú, tỉnh Đồng Nai của tác giả Nguyễn Văn Nam (2019)”, “Chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn
quận 12, thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Thùy Liên (2017)…
Từ những công trình khoa học đã được công bố trên đây, tác giải luận
nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, qua đó đạt được mục đích đã
đặt ra, Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung
nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật chuyên ngành hình
sự và tố tụng hình sự.
- Đề tài Luận văn chỉ nghiên cứu chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
trong phạm vi địa bàn cấp huyện và theo thủ tục thông thường, không nghiên
cứu chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo thủ tục đặc biệt.
4
- Luận văn tập trung đánh giá, khảo sát thực tiễn thi hành các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong khoảng thời gian 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng;
chính sách pháp luật của Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, tội phạm và
hình phạt, bảo vệ quyền con người, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện đề tài, Luận văn còn sử dụng các cách tiếp cận đa ngành,
sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
1.1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Toà án là một trong những cơ quan thuộc hệ thống bộ máy nhà nước có
chức năng xét xử các loại vụ án theo quy định của pháp luật. Trong tư pháp hình
sự, xét xử là giai đoạn trung tâm, quyết định của quá trình tố tụng, là hoạt động
của Tòa án nhân danh Nhà nước xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp
pháp, tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có tranh
chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau.
“Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo vệ lợi ích chung của Nhà nước và xã
hội”, quy định tại Điều 102 Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Và tại Luật tổ
chức Tòa án cũng quy định: “ Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn
nhân và gia đình, lao động, kinh doanh thương mại, hành chính và giải quyết
những việc khác theo quy định của pháp luật”.
Quyền tư pháp gồm nhiều thẩm quyền, trong đó thẩm quyền xét xử các
Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết
định tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án
hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trên cơ sở những chứng cứ đã
được kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa, Tòa án ra bản án xác định có
tội hay không có tội. Ngoài ra Tòa án còn có quyền ra các quyết định khác
nhằm giải quyết triệt để vụ án.
8
Để có thể ra bản án và các quyết định hình sự khác tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án hình sự cần được chuẩn bị kỹ càng, chu đáo, toàn diện. Bởi vậy,
giai đoạn xét xử sơ thẩm bao gồm chuẩn bị xét xử và thực hiện các thủ tục xét
xử tại phiên tòa, trong đó chuẩn bị xét xử vụ án hình sự là khâu đầu tiên khi
hồ sơ được chuyển từ Viện kiểm sát sang Tòa án. Chuẩn bị xét xử vụ án hình
sự không chỉ là một hay một vài hành vi, hoạt động tố tụng đơn giản mà là
một hệ thống các hoạt động tố tụng phức tạp, phối hợp liên hoàn với nhau
cùng nhằm mục đích là đảm bảo cho việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được
đảm bảo, đúng đắn và có hiệu quả như: hoạt động nhận hồ sơ vụ án, bản cáo
trạng và thụ lý vụ án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và ra các quyết định tố tụng cần
thiết theo quy định của pháp luật. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản
Giáo dục thì “Chuẩn bị là làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì”. Còn
xét xử là từ Hán Việt, theo Từ điển thuật ngữ pháp lý, “xét xử” là “hoạt động
do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tòa án nghiên cứu một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải
quyết và xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên
quan” còn “Sơ thẩm”, Từ điển Luật học định nghĩa “ lần đầu tiên đưa ra xét
xử vụ án tại một tòa án có thẩm quyền”. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì:
“Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là chuẩn bị những điều kiện cần thiết
để đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật” [25,tr. 15]. Trong
Rõ ràng, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một chế định trong
TTHS được BLTTHS năm 2015 quy định, là việc Tòa án (Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân) thực hiện những nhiệm vụ cần thiết để có thể ra quyết định
đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Mà cụ thể hơn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự là một hoạt động mang tính bắt buộc của quy trình tố tụng hình sự
được thực hiện bởi những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
và dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo cho việc xét
10
xử sơ thẩm một cách nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm xét xử đúng người, đúng
tội và đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Từ những phân tích khái quát trên, tác giả đưa ra quan điểm về khái
niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là một khâu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, là
hoạt động tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền (Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân được phân công) tiến hành các hoạt động tố tụng và các công
việc khác cần thiết theo đúng quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm tính
khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; bảo đảm lợi ích của
Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân của phiên tòa xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trên cơ sở khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, có thể
thấy các đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cụ thể là:
Thứ nhất: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một khâu trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai
đoạn độc lập của quá trình TTHS được quy định tại Chương XXI của BLTTHS
năm 2015 tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự
với từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền cũng như chủ thể tham
Thứ ba: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tố tụng
mang tính áp dụng pháp luật và có tính bắt buộc.
Các chủ thể đặc biệt (Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, hội thẩm nhân dân
được phân công) phải áp dụng các quy định của pháp luật hình sự và pháp
luật tố tụng hình sự trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để
thực hiện nhiệm vụ cần chuẩn bị.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động có tính bắt buộc,
bởi lẽ nếu không có việc chuẩn bị xét xử hoặc giai đoạn chuẩn bị chưa đầy đủ,
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì phiên tòa xét xử không
12
thể đảm bảo và việc xác định sự thật vụ án sẽ vô cùng khó khăn, không được
khách quan. Một số trường hợp do chuẩn bị xét xử không tốt sẽ dẫn đến việc
đánh giá, kiểm tra chứng cứ không đúng, xác định sai và bỏ lọt tội phạm; dẫn
đến phiên tòa xét xử phải hoãn, gây mất nhiều thời gian và chi phí cho Nhà
nước. Do đó chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một hoạt động tố tụng
không thể thiếu khi Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Thứ tư: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động pháp luật
có mục đích rõ ràng.
Bởi là hoạt động pháp luật, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có
mục đích rõ ràng, đó là góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền
công dân trong tố tụng hình sự. Nói cụ thể hơn mục đích của chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự là nhằm bảo đảm cho việc mở phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự một cách nhanh chóng, kịp thời; xét xử đúng người, đúng tội và
đúng pháp luật. Hoạt động xét xử sơ thẩm có hiệu quả hay không tùy thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó vai trò quan trọng thuộc về chất lượng
của việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
khách quan, toàn diện. Đảm bảo được quyền và lợi ích của người tham gia tố
tụng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, chuẩn bị tham gia phiên tòa
cũng như xuất trình chứng cứ cho Tòa án và thực hiện quyền khiếu nại khi
thấy cần thiết. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng góp phần nâng cao
việc tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật của công dân thông qua công tác
xét xử của Tòa án. Hạn chế những sai lầm, thiếu sót trong xét xử, thống nhất
được quan điểm đường lối về việc giải quyết vụ án giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng.
Tóm lại, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng
đối với hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần nâng cao ý thức tuân theo
pháp luật của công dân, xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc chứng
14
minh tội phạm. Hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần
đảm bảo chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tuân
thủ, đảm bảo tính công bằng giữa các chủ thể trước pháp luật. Củng cố niềm
tin của người dân vào hệ thống Tòa án với phương châm “Phụng công, thủ
pháp, chí công vô tư”.
1.1.2. Những vấn đề của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần
được thể chế hóa thành pháp luật
Từ việc nghiên cứu xây dựng khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, trên cơ sở đó phân tích đặc điểm, ý nghĩa có thể khẳng định
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động pháp luật, có tính quyền
lực Nhà nước, có mục đích rõ ràng và có tính bắt buộc...nên cần phải thể chế
hóa thành pháp luật. Việc thể chế hóa thành pháp luật còn nói lên tính hợp
pháp, tính công khai của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng như
đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự và sự kiểm tra, giám sát đối
với chuẩn bị xét xử. Trên cơ sở đó nêu lên những vấn đề của chuẩn bị xét xử
trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
như Thẩm phán, ngoài ra còn thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn, quy định
riêng cho chủ thể chuẩn bị xét xử sơ thẩm khi được phân công giải quyết vụ
án. Chính vì vậy cần phải thể chế hóa thành pháp luật những nhiệm vụ, quyền
hạn của chủ thể chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1.2.1. Khái quát quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đến trước khi ban hành Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
Năm 1945 sau khi giành được độc lập, Nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa chưa có nhiều văn bản được ban hành đáp ứng được yêu cầu quản lý về
mọi mặt của đời sống xã hội. Tình hình an ninh, chính trị, kinh tế gặp rất
16
nhiều khó khăn do bọn thực dân và phát xít khai thác triệt để trong Chiến
tranh thế giới thứ II, nạn ngoại xâm của quân Tưởng và đồng minh Nhật. Ở
Miền Nam thực dân Anh, Pháp tiếp tục thống trị Sài Gòn và mở rộng địa bàn
xâm chiếm ra các tỉnh khác.
Thời kỳ này Sắc lệnh số 13/SL được ban hành ngày 24/01/1946 quy
định về nguyên tắc cũng như quy chế hoạt động của Tòa án nhằm giữ vững an
ninh, chính trị, bảo vệ thành quả của Cách mạng. Đảng ta rất chú trọng trong
công tác xét xử, xem công tác xét xử là công cụ hữu hiệu để giữ vững nền độc
lập dân tộc. Đây là sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ tổ chức giải
quyết các tranh chấp, xử phạt các việc vi cảnh ở cơ sở cũng như tổ chức các Tòa
án và quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán như:
“Các phụ phẩm không được xem hồ sơ trước khi phiên tòa” [1, Điều 26].
Điều này phân định rõ khoảng thời gian trước phiên tòa và tại phiên tòa
Điều 6 Luật tổ chức Tòa án năm 1960 quy định Tòa án xét xử công khai.
Trong giai đoạn này, các quy phạm pháp luật hình sự cũng như TTHS
chưa được hoàn chỉnh, đặc biệt là thời điểm chuẩn bị xét xử chưa được quy
định cụ thể. Tại Điều 9 Nghị định số 301-TTg ban hành ngày 10/7/1957 quy
định: “Khi hồ sơ vụ án đã chuyển sang Toà án nhân dân tỉnh hoặc thành phố,
Toà án nhân dân phúc thẩm hoặc Toà án binh để xét xử, thì kể từ ngày nhận
được hồ sơ, các Toà án trên phải xét xử trong thời hạn hai tháng đối với
những vụ án mà luật pháp phạt từ năm năm tù trở xuống, và trong thời hạn
bốn tháng đối với những vụ án mà luật pháp phạt trên năm năm tù”. Đây có
thể được hiểu là quy định đầu tiên về chuẩn bị xét xử mà cụ thể là về thời hạn
chuẩn bị xét xử. Thời hạn này tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, tính chất
phức tạp hay đơn giản của vụ án.
Đến giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988: Đây là giai đoạn vô cùng
quan trọng đối với hoạt động TTHS bởi năm 1960 Luật tổ chức TAND và
VKSND lần đầu tiên được ban hành và năm 1988, BLTTHS đầu tiên được Quốc
18
hội thông qua. Cụ thể tại Điều 1 của Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định: “
Các Toà án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà. Toà án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự để trừng trị những kẻ
phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân”. Và tại
Điều 21 Luật Tổ chức TAND quy định: “TANDTC nghiên cứu những quy định về
tổ chức tư pháp, thủ tục tố tụng, luật hình sự, dân sự, phụ trách việc huấn luyện,
đào tạo cán bộ TAND và phụ trách việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong
nhân dân. TANDTC hướng dẫn các TAND cấp dưới áp dụng pháp luật, đường
lối, chính sách và thủ tục tố tụng trong việc xét xử”.
Tại Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 của TANDTC hướng dẫn
thực hiện chế độ Hội thẩm nhân dân trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình