Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN HẬU

CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN HẬU

CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

2.2. Đánh giá chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở thành phố Đà Nẵng .27
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ...............................................41
3.1 Yêu cầu của giải pháp .........................................................................................41
3.2. Các giải pháp cụ thể ...........................................................................................44
3.3. Các giải pháp khác .............................................................................................50
KẾT LUẬN ..............................................................................................................58


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT

Cơ quan tiến hành tố tụng

HĐTP

Hội đồng Thẩm phán

HĐXX

Hội đồng xét xử


Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.

Tên bảng
Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của
TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016

Trang

24

Tổng hợp các vụ án có kháng cáo, kháng nghị và kết quả xét
2.2.

xử phúc thẩm của TAND TP Đà Nẵng và TAND cấp cao tại
Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016

25


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó
Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố
tụng theo quy định của pháp luật nhằm xác định một người có tội hay không có tội

định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tất cả những phân tích nêu trên là lý do để tôi lựa chọn đề án "Chất lượng xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ
luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một trong những phạm vi thực
hiện chế độ hai cấp xét xử, mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, đây là cấp xét xử
lần đầu vụ án hình sự, do vậy mà một trong những vấn đề pháp lý đặt ra thu hút
nhiều ý kiến tranh luận ở nước ta trong suốt một thời gian dài kể từ khi BLTTHS
năm 1988 ra đời và sau đó tiếp tục kế thừa bổ sung có sữa đổi là BLTTHS năm
2003 và cho đến thời điểm hiện nay khi ban hành BLTTHS năm 2015, đã có nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này. Đó là:
- Hoàng Mạnh Hùng (2010), Hiệu quả của hoạt động xét xử trong tố tụng hình
sự. Luận án tiến sĩ, Hà Nội. Luận án đã xây dựng khái niệm khoa học về hiệu quả
của hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự trên cơ sở phân tích, đánh giá, làm rõ
bản chất của nó; Tác giả luận án đã phân tích, làm sáng rõ nội dung, ý nghĩa hiệu
quả của hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự, qua đó góp phần tạo ra sự thống
nhất về nhận thức vấn đề hiệu quả của hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự. Đồng
thời luận án cùng đưa ra một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật TTHS và những
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải
cách tư pháp như đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân, tăng
cường nhận thức pháp luật và năng lực hoạt động của các chủ thể tham gia vào quá
trình tạo nên hiệu quả của hoạt động xét xử...[11].
- Hồ Nguyễn Quân, Một số giải pháp nâng cao chất lượng xét xử tại phiên
tòa, Thông tin khoa học kiểm sát, Hà Nội, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chitiet/79/303. Bài viêt đã đưa ra giải pháp về kiện toàn đội ngũ Thẩm phán nhằm nâng

2


cao chất lượng xét xử tại phiên tòa. Cụ thể là: phải xây dựng đội ngũ Thẩm phán đủ

vần đề: Về lập quy và hoạt động thực tiễn, về mặt đạo đức nghề nghiệp, chuyên

3


môn nghiệp vụ và đào tạo các chức danh tư pháp và nhóm vấn đề về cơ sở vật chất
phục vụ phiên tòa. Các giải pháp mang tính thực tiễn này có ý nghĩa tích cực, hướng
cho hoạt động tố tụng được chuyên nghiệp hóa và theo hướng đổi mới phiên tòa
hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay [13].
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề chất lượng xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự trong TTHS, cũng như xuất hiện trên nhiều tạp chí chuyên
ngành. Bên cạnh đó, vấn đề chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn được đề
cập trong các công trình nghiên cứu, cũng như các bài viết về các vấn đề khác có
liên quan như: Nguyễn Hữu Chính (2012): Một số vấn đề về tranh tụng tại phiên
tòa hình sự sơ thẩm, Tạp chí Tòa án nhân dân số 13/2012, số chuyên đề tháng
07/2012; Trần Văn Độ (2012): Một số vấn đề về hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự về thủ tục xét xử sơ thẩm, Tạp chí Kiểm sát số 8/2012, số chuyên đề;
Trương Hòa Bình (2014): Nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án - giải pháp
đột phá để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Báo Công lý, số
87 (1205) ngày 29/10/2014...
Trong các công trình trên, theo tác giả biết thì chưa thấy có công trình nào
nghiên cứu một cách trực diện về chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực
tiễn tại một địa phương là thành phố Đà Nẵng.
Tuy nhiên, vấn đề chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đến nay vẫn còn
nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau, việc xây dựng nội dung điều luật sao
cho phù hợp cả về lý luận và thực tiển vẫn chưa đạt hiệu quả cao, mặt dù BLTTHS
năm 2015 ra đời tiếp tục kế thừa, có sửa đổi, bổ sung, nhưng vẫn chưa đạt. Điều
này cần phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ về vấn
đề chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong mối quan hệ giữa lý luận và thực

sự nên luận văn chỉ tập trung vào giải pháp tăng cường các biện pháp triển khai thi
hành tốt BLTTHS năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và nâng cao chất
lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

5


- Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định của
BLTTHS năm 2003 về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ ngày 01/6/2012 đến ngày
01/6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, Nhà
nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp;
những tri thức khoa học của triết học, xã hội học, luật học, các học thuyết chính trị
pháp lý.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, điều tra xã hội học, suy luận logic...
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia, tọa đàm
và phương pháp nghiên cứu các bản án và hồ sơ vụ án của Tòa án trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, để kết hợp giữa lý luận và thực tiển rút ra các kết luận khoa học của
mình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện lý luận khoa học về
Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án cấp sơ thẩm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ và tinh thần trách

vốn có của sự vật. Quan niệm chung nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất,
giá trị của một người, một sự vật, sự việc.
Bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo
nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức
năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân.
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và
các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lí của vụ việc nhằm đưa
ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà
nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không
trái pháp luật của vụ việc [49]. Xét xử là một hoạt động đặc trưng, là chức năng,
nhiệm vụ của Tòa án; Tòa án là cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm
chức năng xét xử. Xét xử là hoạt động do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng.
Tòa án sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

8


các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và xử lý vụ án bằng việc xét xử và ra
bản án, quyết định căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định bị cáo có tội
hoặc không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác.
Mọi bản án do các Tòa án tuyên đều phải qua xét xử. Không một ai có thể bị
buộc tội mà không qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố
bằng bản án. Khi xét xử các Tòa án phải tuân theo các nguyên tắc: khi xét xử Thẩm
phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án nhân dân xét xử công
khai, trừ trường hợp do luật định; Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo
đa số...

thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ
án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ xem xét đánh giá
chứng cứ dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm sở để ra các phán quyết công
minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình [36. tr.339].
Định nghĩa này đã xác định xét xử sơ thẩm là giai đoạn của tố tụng hình sự và chỉ ra
được nội dung, mục đích của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Tuy nhiên, định
nghĩa này xác định xét xử sơ thẩm VAHS là việc “xét xử lần đầu” là chưa thực sự
chính xác. Bởi không phải mọi trường hợp xét xử sơ thẩm đều là xét xử lần đầu.
Trong trường hợp tòa án có thẩm quyền xem xét ra quyết định hủy bản án để điều
tra lại hoặc xét xử sơ thẩm lại thì việc xét xử sơ thẩm lại không phải là xét xử lần
thứ nhất.
Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội, Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Toà án
có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng
theo quy định của pháp luật [37, tr.345]. Định nghĩa này đã xác định được xét xử sơ
thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự. Tuy nhiên, định nghĩa này mới chỉ xem xét
hình thức của việc xét xử sơ thẩm VAHS để giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định
tố tụng theo quy định của pháp luật mà chưa làm rõ được những nội dung của việc
giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng.
Vụ án hình sự là vụ việc vi phạm pháp luật có dấu hiệu của tội phạm được quy
định trong BLHS được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử theo trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định.

10


Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động nhà nước do Tòa án thực hiện ở cấp
xét xử thứ nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, các tài liệu của vụ
án hình sự, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định có hành vi phạm tội hay
không, người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người đã

Góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự
Đây là công việc quan trọng đầu tiên của quá trình tố tụng vụ án hình sự.
Nghiên cứu hồ sơ tốt là cơ sở để việc xét xử tại phiên tòa được khách quan, đúng
pháp luật. Phải nghiên cứu kỹ lưỡng cả về nội dung vụ án và thủ tục tố tụng.
Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến
hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ
án và lưu trữ lâu dài.
Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các hoạt động: xem xét, đọc, phân
tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định
sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, xác định những vấn đề cần trao đổi, đề
xuất với Lãnh đạo, cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định
phương án để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thẩm phán cần phải
nghiên cứu hồ sơ một cách toàn diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan
trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, có thể nghiên
cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài
liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu
đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây
dựng kế hoạch xét hỏi, điều khiển phiên tòa, tranh tụng và quyết định hình phạt.
Góp phần nâng cao chất lượng xét hỏi và điều hành phiên tòa sơ thẩm
Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động quan trọng nhất của hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thể hiện sự tập trung nhất chức năng, nhiệm vụ
của Tòa án trong tố tụng hình sự, theo tinh thần cải cách tư pháp. Tại giai đoạn này,
yêu cầu Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải thực hiện đúng và đầy đủ các quy định
của pháp luật tố tụng, từ phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, đến xét hỏi, tranh luận, nghị

12



13


Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa có mục đích là chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo
đảm cho việc tiến hành phiên tòa theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Các
điều kiện cần thiết bao gồm cả điều kiện về sự có mặt của người tham gia tố tụng,
về chứng cứ và việc xác định nội dung vụ án làm tiền đề cho phần xét hỏi. Với ý
nghĩa đó, đọc bản cáo trạng là hoạt động nhằm làm rõ nội dung vụ án, chuẩn bị cho
phần xét hỏi và nên được quy định trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa. Khi Kiểm
sát viên trình bày ý kiến bổ sung vào bản cáo trạng, về nguyên tắc, Kiểm sát viên
phải đọc nguyên văn bản cáo trạng đã được giao cho bị cáo. Xác định thứ tự xét hỏi
hợp lí thực sự là công việc không đơn giản, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, kĩ
năng của người xét hỏi. Về nguyên tắc chung, theo chúng tôi, việc xác định thứ tự
xét hỏi phải xuất phát từ nội dung xét hỏi (các vấn đề cần được làm rõ) trong từng
vụ án, từ đặc điểm của những người tham gia tố tụng và phải đảm bảo nguyên tắc
xác định sự thật vụ án. Về nội dung xét hỏi, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án,
Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa cần lập kế hoạch xét hỏi trong đó
nêu rõ những vấn đề cần làm sáng tỏ. Cụ thể, Thẩm phán cần xác định được một
cách chính xác những điểm mấu chốt cần làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm. Từ nội dung
các vấn đề cần xét hỏi, Thẩm phán xác định thứ tự xét hỏi đối với từng vấn đề một.
Cách thức xét hỏi theo vấn đề như vậy sẽ giúp quá trình xét hỏi được mạch lạc, rõ
ràng, tránh sự trùng lặp, hỏi đi hỏi lại về cùng một vấn đề. Bộ luật tố tụng hình sự
không quy định cụ thể phải hỏi ai trước, ai sau mà tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể,
Hội đồng xét xử tiến hành xét hỏi theo thứ tự hợp lí. Tuy nhiên, trên thực tế, gần
như đã thành thông lệ, việc xét hỏi tại phiên tòa được bắt đầu từ bị cáo. Thứ tự xét
hỏi này không vi phạm quy định của BLTTHS và trên thực tế đã phát huy tác dụng,
giúp việc xét hỏi không bị kéo dài mà vẫn làm rõ được nội dung vụ án.
Góp phần nâng cao chất lượng đánh giá chứng cứ trong giai đoạn xét xử
Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án là quá trình kiểm tra, đánh giá

kinh nghiệm và phiên tòa lưu động nhằm nâng cao chất lượng của phiên tòa, cũng
như tiết kiệm chi phí.
1.3. Cơ sở xác định chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Vị trí pháp lý đặc biệt của Toà án nhân dân
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ nhiệm vụ của cải cách tư pháp là bảo

15


đảm để Toà án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm [2]. Trong số các quan
điểm và chủ trương của Đảng ta về cải cách tư pháp hình sự thì quan điểm và chủ
trương đề cao vai trò của Tòa án trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là quan điểm mang tính đột phá. Theo đó, về
mặt nhận thức cũng như quá trình tổ chức thực tiễn và xây dựng, hoàn thiện pháp
luật, phải bảo đảm để Toà án thực sự đóng vai trò là trung tâm của hệ thống tư pháp
ở nước ta.
Tòa án với tính cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp xuất phát từ vai trò và
những thẩm quyền hiến định. Chỉ Tòa án với bản án của mình mới có thẩm quyền
coi một người là có tội và phải chịu hình phạt. Điều 31 Hiến pháp Việt Nam xác
định: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật”. Trong tất cả các thiết chế quyền lực Nhà nước, không một thiết chế quyền
lực nào có được thẩm quyền phán xét đó.
Mặt khác cũng xuất phát từ việc bảo đảm một quyền quan trọng của bị can, bị
cáo với tính cách là quyền con người về dân sự. Đó là quyền được Toà án xét xử
khi bị cơ quan Nhà nước buộc tội. Nội dung của Điều 102 Hiến pháp Việt Nam về
thẩm quyền xét xử duy nhất của Tòa án cũng phần nào nói lên yêu cầu này. Toà án
đưa ra phán quyết nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền sửa
bản án, hủy bản án chỉ thuộc về Toà án thuộc cấp xét xử cao hơn (phúc thẩm, giám

thường dân sự là đủ.
Có thể nói một bản án, quyết định sai thẩm quyền thường dẫn đến nhiều hậu
quả xấu cho nền dân chủ và pháp chế của đất nước; vi phạm các quyền tự do dân
chủ của công dân. Tính hợp pháp của bản án, quyết định của Tòa án nhân dân còn
thể hiện ở việc bản án, quyết định được ban hành đúng trình tự, thủ tục và trong thời
hạn luật định. Hiện nay, theo quy định của pháp luật nước ta, các bản án, quyết định
được ban hành khi xét xử đều phải là những quyết định, bản án phán quyết theo
nguyên tắc: xét xử tập thể, quyết định theo đa số và phải trải qua các thủ tục tố tụng
chặt chẽ và trong một thời gian luật định. Các thủ tục tố tụng, đặc biệt là các thủ tục
tố tụng tại phiên tòa công khai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định sự thật
khách quan của vụ án. Các hành vi vi phạm quy định pháp luật tố tụng khi tiến hành
xem xét giải quyết một vụ án, dù là nhỏ, cũng đều có ảnh hưởng không tốt đến chất

17


lượng xét xử. Ví dụ: nếu không kiểm tra kỹ lý lịch và nhân thân bị can, bị cáo thì dễ
dẫn đến tình trạng kết tội nhầm người, do không chú ý đến việc tranh luận giữa các
bên đương sự và luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ nên Hội đồng xét xử đã
ban hành bản án không đúng với sự thật khách quan của vụ án dân sự hoặc hành
chính.
Thứ hai, thời hạn tiến hành các thao tác tố tụng theo đúng quy định của
pháp luật:
Người áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân phải tôn
trọng các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn ban hành và tống đạt các
quyết định đưa vụ án ra xét xử; thời hạn tạm giam; thời hạn kháng cáo v.v... Có
những thời hạn càng ngắn càng tốt (như thời hạn tạm giam; thời hạn chuẩn bị xét xử
vụ án...) nhưng cũng có những thời hạn không được phép rút ngắn (như thời gian
tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến lúc mở một phiên tòa hình sự...)
hoặc những thời hạn không được phép kéo dài (như thời hạn giải quyết một vụ án).

không định kiến, không thiên vị và là sản phẩm của một quá trình lao động nghiêm
túc, đầy trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm.
Tính hợp pháp, tính chính xác, khách quan, công minh của bản án, quyết định
của Tòa án tạo nên sức thuyết phục lòng người, "tâm phục, khẩu phục" của nội
dung bản án và quyết định. Một bản án chính xác, đúng pháp luật, khách quan, có
tình, có lý chắc chắn sẽ được dư luận xã hội, quần chúng nhân dân đồng tình ủng
hộ. Chính tính thuyết phục cao của nội dung bản án, quyết định của Tòa án tạo nên
sức mạnh góp phần rất có hiệu quả vào việc giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật....
Ngoài ra, bản án và quyết định của Tòa án mang tính chính xác, đúng pháp luật,
được nhân dân đồng tình ủng hộ cũng chính là tiền đề quan trọng không thể thiếu
được đối với việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Thứ tư, bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan nghiêm chỉnh
chấp hành
Hiến pháp đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng các bản án và
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực bởi vì bản án, quyết định Tòa án không chỉ
đơn thuần là của cơ quan Tòa án mà là của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Hiến pháp cũng đòi hỏi những cá nhân, tổ chức đã được xác định quyền
và nghĩa vụ cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án phải có bổn phận và trách

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status