Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN HẬU

CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


Công trình được hoàn thành tại
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HOÀNG THỊ MINH SƠN

Phản biện 1: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

Phản biện 2: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội 17 giờ 15 ngày 08 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại

1


gắng bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực
sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ
yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào
chữa, bị cáo, để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức
thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định [1]. Chất lượng
hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động xét xử nói riêng đã được
nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội
nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tất cả những phân tích nêu trên là lý do để tôi lựa chọn đề án
"Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Đà
Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Hoàng Mạnh Hùng (2010), Hiệu quả của hoạt động xét xử
trong tố tụng hình sự. Luận án tiến sĩ, Hà Nội.
- Hồ Nguyễn Quân, Một số giải pháp nâng cao chất lượng xét
xử tại phiên tòa, Thông tin khoa học kiểm sát, Hà Nội,
-

Http://www.baophuyen.com.vn/164/170119/nang-cao-

chat-luong-xu-an-hinh-su.html.
- Tôn Thiện Phương (2015), Giải pháp nâng cao chất lượng
tranh tụng trong tố tụng hình sự, Tạp chí KH-CN Nghệ An, số 3.
- Nguyễn Ngọc Kiện (2012), Một số giải pháp nâng cao chất

năm 2003 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và phiên tòa xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự có đối chiếu với quy định này trong
BLTTHS năm 2015. Do BLTTHS năm 2015 đã khắc phục hầu hết
những bất cập trong BLTTHS năm 2003 về xét xử sơ thẩm hình sự
nên luận văn chỉ tập trung vào giải pháp tăng cường các biện pháp
3


triển khai thi hành tốt BLTTHS năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự và nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Về thời gian, luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy
định của BLTTHS năm 2003 về bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và
phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND hai cấp thành phố
Đà Nẵng từ ngày 01/6/2012 đến ngày 01/6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối
chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp; những tri thức khoa học của
triết học, xã hội học, luật học, các học thuyết chính trị pháp lý.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, điều tra
xã hội học, suy luận logic... Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác
giả tham khảo ý kiến chuyên gia, tọa đàm và phương pháp nghiên cứu
các bản án và hồ sơ vụ án của Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
để kết hợp giữa lý luận và thực tiển rút ra các kết luận khoa học của
mình.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

đã có hiệu lực pháp luật”. Đây là cơ sở duy nhất để xác định một
người có bị coi là có tội hay không. Xét xử sơ thẩm VAHS có vị trí,
vai trò quan trọng nhất, không chỉ trong giai đoạn xét xử mà còn
trong cả quá trình giải quyết vụ án. Các giai đoạn tố tụng trước đó,
chỉ là quá trình chuẩn bị điều kiện cho xét xử sơ thẩm. Các giai đoạn
sau xét xử sơ thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của
5


nó, khắc phục những thiếu sót, sai lầm nếu có và đưa các quyết định,
bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành [39, tr.15]. Giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS bắt đầu kể từ thời điểm Toà án cấp sơ
thẩm nhận được hồ sơ vụ án cùng với cáo trạng (hoặc quyết định truy
tố) truy tố bị can trước Toà án, do Viện kiểm sát cùng cấp chuyển
sang và kết thúc bằng một bản án, quyết định giải quyết vụ án có hiệu
lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm. Tại phiên toà xét xử sơ thẩm
VAHS, trên cơ sở những chứng cứ đã được kiểm tra công khai,
khách quan, Toà án cấp sơ thẩm ra bản án xác định bị cáo có tội hay
không có tội. Nếu bị cáo có tội thì đó là tội gì, quy định tại điều
khoản nào của BLHS. Ngoài việc ra bản án, Toà án cấp sơ thẩm còn
có thẩm quyền ra các quyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ
án.
Hiện nay, khái niệm “xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” còn có
nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Từ điển luật học, xét xử sơ thẩm
là một từ Hán Việt, có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại
một Tòa án có thẩm quyền [42]. Đây là khái niệm mang tính khái
quát chung để chỉ tất cả việc xét xử sơ thẩm các VAHS, dân sự, hành
chính… Tuy nhiên, định nghĩa này còn sơ sài, chưa làm rõ được đầy
đủ nội dung, mục đích của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Như vậy: Chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giá trị

pháp luật được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành
Thứ năm, phiên tòa xét xử là diễn đàn dân chủ, khách quan và trang
nghiêm
xúc, tìm hiểu pháp luật và trực tiếp thu nhận thông tin các thủ
tục tố tụng.
1.3. Các tiêu chí đánh giá và tác động đến chất lượng xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự
7


- Các tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Các yếu tố tác động đến chất lượng xét xử án hình sự của
Tòa án
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự ở thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Tổng quan về kết quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở
thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.1. Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm
của TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016
Năm
2012
2013
2014
2015
2016


3.292

6.129

3.258

6.064

Nguồn: Báo cáo Tổng kết của TAND TP Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016
Từ năm 2012 đến năm 2016, TAND hai cấp thành phố Đà
Nẵng đã thụ lý sơ thẩm 3.292 vụ án với 6.129 bị cáo, trong đó đã xét
xử 3.258 vụ án với 6.064 bị cáo. Như vậy trung bình mỗi năm, các
TAND trên địa bàn TP Đà Nẵng đã xét xử sơ thẩm 651 vụ án với
1.212 bị cáo. Cụ thể: Năm 2012, thụ lý 608 vụ, 1.253 bị cáo, tăng

8


15,33% số vụ và tăng 26,83% số bị cáo so với năm 2011; Năm 2013,
thụ lý 642 vụ, 1.174 bị cáo, tăng 6,9% số vụ nhưng giảm 6,3% số bị
cáo so với năm 2012; Năm 2014, thụ lý 620 vụ, 1.106 bị cáo, giảm
3,4% số vụ và giảm 5,8% số bị cáo so với năm 2013. Tuy nhiên, nếu
so với năm 2012 thì số vụ vẫn tăng hơn; Năm 2015, thụ lý 655 vụ,
1.213 bị cáo, tăng 5,6% số vụ và tăng 9,6% số bị cáo so với năm
2014; Năm 2016, thụ lý 767 vụ, 1.383 bị cáo, tăng 17,1% số vụ và
tăng 14% số bị cáo so với năm 2015. Trong số 1422 vụ, 2.596 bị cáo,
TAND hai cấp TP Đà Nẵng đã giải quyết trong 2 năm (2015 và
2016), chủ yếu tập trung ở các nhóm tội sau: Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm: 296 vụ 554 bị cáo, chiếm tỉ lệ

minh chứng bởi số liệu về các bị cáo bị xét xử theo thủ tục phúc thẩm
của Tòa Hình sự TAND thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến 2016.
Bảng 2.2. Tổng hợp các vụ án có kháng cáo, kháng nghị và kết quả
xét xử phúc thẩm của TAND TP Đà Nẵng và TAND cấp cao
tại Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016
Năm

Số án

Số án có

giải quyết

KC/KN

Vụ

Bị

Bị
Vụ

cáo

KẾT QUẢ PHÚC THẨM
Đình chỉ
Vụ

cáo


2012 597 1.236 335

518 107 170 155 256

71

90 21,19% 02 02 0,59%

2013 626 1.147 321

453

58

74 18,06% 02 06 0,62%

2014 616 1.088 335

471 114 149 144 209

71 105 21,19% 06 08 1,79%

2015 655 1.213 325

470

90

120 167 232



Nguồn: Báo cáo tổng kết của TAND TP Đà Nẵng và TAND cấp cao
tại Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016.
10


Từ năm 2012 đến năm 2016, TAND hai cấp thành phố Đà
Nẵng đã thụ lý sơ thẩm 3.258 vụ án với 6.064 bị cáo, trong đó số án
có kháng cáo kháng nghị 1.615 vụ án với 2.314 bị cáo. Kết quả xét
xử phúc thẩm Đình chỉ xét xử phúc thẩm 682 vụ với 1.304 bị cáo, Y
án 783 vụ với 1.123 bị cáo, sửa án 319 vụ với 482 bị cáo và Hủy án
19 vụ với 27 bị cáo
Theo thống kê trên thì án hình sự mà Tòa án nhân dân hai cấp
thành phố Đà Nẵng đã giải quyết, xét xử sơ thẩm hàng năm đều có xu
hướng tăng cả số vụ và số bị cáo.
Trong 05 năm qua về cơ bản công tác xét xử án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng đạt chất lượng
tốt, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không có án xử oan
người không có tội, không bỏ lọt tội phạm, không có án để quá thời
hạn luật định. Trong công tác xét xử án hình sự Tòa án nhân dân hai
cấp thành phố Đà Nẵng đã quán triệt và vận dụng nghiêm túc các quy
định luật tố tụng, theo tinh thần cải cách tư pháp. Việc xét xử án hình
sự bảo đảm được sự nghiêm minh, dân chủ, bình đẳng. Việc xét hỏi
và tranh luận tại phiên toà được đổi mới tạo điều kiện cho tất cả
những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ hợp pháp của mình. Việc ra phán quyết của Hội đồng xét
xử căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở
xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, các ý kiến của những
người tham gia tố tụng khác. Do vậy, kết quả công tác giải quyết
xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng

vẫn diễn biến với tính chất hết sức phức tạp, đa dạng, gây ra những
hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội.
2.2.2. Hạn chế, vướng mắc

12


- Việc xét hỏi tại phiên toà chưa khoa học, chưa coi trọng và
quan tâm đúng mức về mặt hình thức tổ chức hoạt động của phiên
tòa.
- Việc ghi chép biên bản phiên tòa và viết bản án còn nhiều cẩu
thả, lập luận trong bản án chưa chặt chẽ, việc sử dụng ngôn ngữ viết bản
án còn tùy tiện.
- Việc đánh giá chứng cứ còn nhiều hạn chế. Xu thế coi trọng các
chứng cứ buộc tội, xem nhẹ chứng cứ gỡ tội tại các phiên tòa xét xử án
hình sự còn khá phổ biến.
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
* Nguyên nhân chủ quan:
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán, hội thẩm nhân
dân, Thư ký Tòa án chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra ngày càng cao.
- Mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan tiến hành tố
tụng (Công an, Viện kiểm sát) tuy đã có quy chế phối hợp trong từng
lĩnh vực công tác nhưng chưa mang tính đồng bộ và trách nhiệm cao.
- Công tác tổ chức cán bộ còn nhiều bất cập. Số lượng biên chế
Thẩm phán, công chức Tòa án như hiện tại chưa đáp ứng được yêu
cầu nhiệm vụ,
- Việc ứng dụng, khai thác tin học, công nghệ thông tin còn
chậm đổi mới (nhất là trong công tác báo cáo thống kê).
- Y thức, tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ làm công tác
xét xử chưa được phát huy, vẫn có những trường hợp sai phạm do

thống nhất khi áp dụng.
- Trong một số trường hợp, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
cùng cấp chưa làm hết trách nhiệm của mình theo quy định của pháp
luật trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, giám định, ủy thác tư
pháp, gây khó khăn cho Tòa án trong việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình.
14


- Hội thẩm nhân dân trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm án
hình sự còn khá mờ nhạt, mang nặng tính hình thức, bản thân Hội
thẩm nhân dân không chịu trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ; không
phát huy tinh thần trách nhiệm của mình trong việc nghiên cứu hồ sơ
và trong quá trình tham gia xét xử vụ án.
- Chế độ đãi ngộ, tiền lương đối với Thẩm phán, cán bộ công
chức Tòa án chưa khơi dậy được lòng nhiệt huyết, tận tâm với công
việc. Tác động mặt trái của cơ chế thị trường lên tâm lý, nhận thức
của cán bộ công chức, Thẩm phán Tòa án trong điều kiện thu nhập,
tiền lương thấp như hiện nay.
- Cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện làm việc còn lạc hậu,
thiếu thốn, giảm đi tính chất uy nghiêm của một phiên tòa hình sự.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1 Yêu cầu của giải pháp
Nâng cao chất lượng xét xử nói chung, chất lượng xét xử sơ
thẩm nói riêng là một vấn đề lớn, yêu cầu phải có giải pháp đồng bộ,
sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống Tòa án nói riêng,
của cả xã hội nói chung. Để nâng cao chất lượng công tác xét xử các
vụ án hình sự, giải pháp cần đáp ứng các yêu cầu sau đây.

Những năm vừa qua, mặc dù trong điều kiện kinh tế xã hội còn
khó khăn, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn
diễn biến phức tạp nhưng Tòa án hai cấp TP Đà Nẵng đã cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ của mình trong xét xử. Kết quả mà Tòa án hai
cấp TP Đà Nẵng đạt được, nhất là hoạt động đúng đắn trong xét xử
đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ lợi ích của Nhà nước nói chung,
16


của địa phương nói riêng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức và nhân dân thành phố, phục vụ tích cực vào công cuộc xây
dựng, phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố Đã Nẵng.
3.2. Các giải pháp cụ thể
3.2.1. Tăng cường triển khai các biện pháp thực hiện quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm nâng cao chất
lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, nhóm biện pháp về pháp luật.
Thứ hai, nhóm biện pháp về tổ chức thực hiện.
3.2.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt
động xét xử của Tòa án
Để thực hiện đề án thành công thì đầu tiên phải quán triệt và
triển khai có hiệu quả các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn công
tác; tranh thủ sự quan tâm, lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, để có điều
kiện thuận lợi nhất cho TAND huyện Trạm Tấu thực hiện có hiệu
quả công tác cải cách tư pháp, nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử
các vụ án hình sự.
Quán triệt đầy đủ trong việc triển khai thực hiện các chủ
trương cải cách tư pháp đã được khẳng định trong văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết 49-NQ/TW

duy trì đầy đủ các quy định về chế độ báo cáo nghiệp vụ, báo cáo tiến
độ giải quyết các vụ án; kịp thời đề ra các giải pháp để giúp các
Thẩm phán tháo gỡ các vướng mắc để việc giải quyết các vụ án hình
sự đúng quy định của pháp luật.
3.2.4. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; đào tạo, bồi
dưỡng chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ xét xử sơ thẩm hình sự
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; bồi dưỡng
Thẩm phán, cán bộ toà án; rèn luyện phẩm chất chính trị, nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng đội ngũ Thẩm phán và
18


cán bộ Toà án vững về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ đáp
ứng ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp và yêu cầu của
nhân dân. Khắc phục tình trạng một số cán bộ, Thẩm phán do năng lực
hạn chế, một phần chưa làm hết trách nhiệm với công việc được giao;
chưa chịu khó nghiên cứu học tập các văn bản pháp luật, cũng như đúc
rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn, nên chất lượng công tác chưa
cao. Do đó, cần phải có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.
- Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ
Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh và các văn bản hướng dẫn cần xây dựng Kế hoạch
thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh trong đơn vị Tòa án nhân dân với những nội dung, yêu cầu và
mục đích cụ thể; được triển khai sâu rộng đến từng cán bộ, Đảng viên
và quần chúng trong toàn đơn vị Tòa án.
- Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
(khóa XI) của Đảng, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh; xây dựng chuẩn mức của người cán
bộ Tòa án “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” theo phương

Nẵng đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức. TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng phải chủ động làm tốt công
tác tuyển dụng, luân chuyển, điều động cán bộ cho đơn vị, đồng thời
sử dụng cán bộ, công chức bố trí xắp xếp công việc phù hợp với năng
lực, sở trường theo vị trí công tác.
Xây dựng đề án nhân sự định hướng đến năm 2020 đối với
chức danh Thẩm phán cho Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà
Nẵng tương xứng với tính chất, mức độ công việc đặc thù của hệ Tòa
án. Chú trọng tăng cường đội ngũ Thẩm phán có kinh nghiệm làm
công tác xét xử án hình sự. Lựa chọn bồi dưỡng quy hoạch cán bộ

20


trẻ, có năng lực, có khả năng phát triển trong hệ thống để đào tạo, bồi
dưỡng làm nguồn Thẩm phán và cán bộ lãnh đạo.
3.2.6. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Toà án
với các cơ quan bảo vệ pháp luật và các tổ chức bổ trợ tư pháp
Thông qua hoạt động xét xử để đánh giá lại toàn diện, khách
quan các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chứng cứ mới do người
tham gia tố tụng cung cấp, đánh giá quá trình tiến hành tố tụng trước
đó của Cơ quan điều tra, hoạt động điều tra của Điều tra viên, Kiểm
sát viên. Trước khi mở phiên tòa hoạt động phối hợp giữa Thẩm
phán, Thư ký và Kiểm sát viên luôn được trao đổi bằng các thông tin
cần thiết, nhằm bổ sung những thiếu sót có thể khắc phục được. Hoạt
động phối hợp trong giai đoạn này là vô cùng quan trọng, một mặt
đảm bảo để HĐXX quyết định có tính đúng đắn, khách quan. Mặt
khác, tránh được việc truy tố không đúng, không đầy đủ và không có
căn cứ, giảm thiểu được việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhiều
lần, không để xảy ra trường hợp trả hồ sơ thiếu có căn cứ.

với các cơ quan bổ trợ Tư pháp như công chứng, Giám định tư pháp,
Trung tâm trợ giúp pháp lý, Đoàn luật sư... bảo đảm phục vụ tốt cho
hoạt động xét xử, đặc biệt quá trình nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán cần
kiểm tra kỹ lưỡng kết luận giám định, kết quả định giá trường hợp
phát hiện có dấu hiệu sai phạm thì có thể mời Giám định viên đến
phiên tòa hoặc gửi công văn trao đổi với cơ quan giám định, định giá
để có quyết định đúng đắn.
3.3 Các giải pháp khác
- Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ý thức
pháp luật của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, Luật sư
- Tăng cường kiểm tra, giám đốc, tổng kết thực tiễn xét xử và tập
huấn nghiệp vụ.

22


- Đảm bảo cơ sơ vật chất, kinh phí hoạt động cho ngành Tòa án
và chế độ chính sách đối với cán bộ Tòa án thực hiện công tác xét xử
- Đổi mới thủ tục hành chính Tư pháp trong hoạt động của Tòa
án nhân dân
KẾT LUẬN
1. Hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án chính là
hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, thể hiện thông qua việc xét
xử, căn cứ theo các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự
đưa ra phán quyết cuối cùng bằng một quyết định hay bản án nhằm
trừng trị người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã
hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status