ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ LƢƠNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM GIÀNG (TỈNH HẢI DƢƠNG)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ LƢƠNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM GIÀNG (TỈNH HẢI DƢƠNG)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Kim Oanh
HÀ NỘI, 2014
Tác giả
Vũ Thị Luơng
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH
Công nghiệp hóa
HĐH
Hiện đại hóa
NXB
Nhà xuất bản
UBND
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 6
3.1. Một sô nhận xét .....................................................................................................80
3.1.1. Thành tựu và nguyên nhân ................................................................................80
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ....................................................................................88
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu ................................................................................91
KẾT LUẬN .................................................................................................................98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................101
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng nông nghiệp qua các
năm 2001 - 2005 ...........................................................................................................46
Bảng 1.2. Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm (Đơn vị: con).......................47
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa qua các năm 2006 - 2010 .................71
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô qua các năm 2006 - 2010 ................72
Bảng 2.3. Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 2006 - 2010 .........................74
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng, vật nuôi làm tư liệu và
nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm, cung cấp
nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Xét về mặt lịch sử phát triển,
nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất hình thành đầu tiên của xã hội loài
người. Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nông nghiệp luôn luôn
là một ngành kinh tế lớn, có vai trò rất quan trọng trong lịch sử phát triển kinh
tế, xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: nước ta là một nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp, cho
triển kinh tế, có tuyến quốc lộ 5 chạy qua từ Hà Nội về Hải Phòng. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng, nhân dân Cẩm Giàng đã nêu cao
tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống của địa phương, bắt tay vào việc
thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế. Ngành nông nghiệp đã sản xuất ra
nhiều loại hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của thị trường đạt giá trị sản xuất ngày
càng cao. Những khu công nghiệp, trung tâm công nghiệp, thị trấn, khu chợ
đã và đang được hình thành. Các công trình xây dựng phục vụ sản xuất và dân
sinh được đưa vào sử dụng ngày càng nhiều. Những thành tựu đó làm cho
Cẩm Giàng không chỉ được biết đến với tư cách là một vùng đất giàu truyền
thống lịch sử, văn hóa, mà còn được nhắc đến với tư cách như một mô hình
điển hình trong tỉnh trong việc xây dựng nông thôn mới. Cẩm Giàng đang
được biết đến như một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn phát triển mạnh mẽ
trong tương lai không xa.
Đảng bộ huyện Cẩm Giàng sau khi quán triệt và vận dụng sáng tạo
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Hải Dương, tinh thần
nỗ lực cố gắng của nhân dân, sản xuất nông nghiệp huyện đã đạt được những
2
kết quả đáng khích lệ trong những năm 1997 - 2010. Tuy nhiên những thành
tựu đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của huyện. Vì vậy,
cần phải có một sự tổng kết, lý giải nguyên nhân, đúc kết kinh nghiệm để
Đảng bộ tiếp tục có chủ trương, giải pháp phù hợp đẩy nhanh sự phát triển
kinh tế nông nghiệp của huyện trong những năm tiếp theo. Bên cạnh đó, việc
tìm hiểu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
bộ huyện những năm sau ngày chia tách huyện đến năm 2010 góp phần cung
cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, những bài học kinh nghiệm quý để Đảng
bộ huyện tiếp tục lãnh đạo nhân dân phát huy tiềm năng, thế mạnh đưa huyện
Cẩm Giàng thành một huyện có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, kinh tế
phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb Thống kê; PGS. TS Lâm Quang
Huyên (2002), Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội; Trần Đình Thiên (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam phác thảo lộ trình, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; PGS. TS
Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới 1986 - 2002,
Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội; Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát
triển bền vững nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; GS. TS
Nguyễn Kế Tuấn (2006), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng
Kim Sơn (2006), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát
triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; PGS. TS Nguyễn Văn Bích (2007), Nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; TS Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Việt Nam - Hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Các bài báo, công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa học,
đáng chú ý là các bài viết về kinh tế nông nghiệp được đăng tải trên các báo, tạp
4
chí: Nguyễn Tấn Dũng (2002): “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước”, Báo Nhân dân ngày 19 tháng 3; Nguyễn Tấn Dũng (2002),
“Để nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững người dân giàu lên”, Tạp chí
Cộng sản, tháng 10 (số 28); Nguyễn Tấn Dũng (2005), “Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thành tựu và giải pháp”, Báo Nhân dân, ngày
28 tháng 7; Phan Diễn (2002), “Tạo bước chuyển biến hơn nữa tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, tháng 10
nông nghiệp. Đây là bức tranh sinh động khá toàn diện của kinh tế nông
nghiệp Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; một số công trình đã thể hiện
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và vận dụng sáng tạo của Đảng bộ các địa phương
trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Qua nguồn
tài liệu tham khảo gợi mở phương pháp tiếp cận, cung cấp nguồn tư liệu tham
khảo cho quá trình nghiên cứu đề tài luận văn.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu về quá trình
lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của huyện Cẩm Giàng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng bộ huyện từ năm 1997 đến năm 2010, để từ đó thấy được đường lối đúng
đắn của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng. Vì vậy với đề tài: Đảng bộ huyện Cẩm
Giàng (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm
2010, nhằm dựng lại bức tranh tổng quan về tình hình phát triển kinh tế nông
nghiệp huyện, sự lãnh đạo của Đảng bộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nêu
những thành tựu, hạn chế và một số bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ
huyện lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1997 - 2010.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ, toàn diện và khách quan sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng
bộ huyện Cẩm Giàng đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
6
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế của kinh tế nông nghiệp huyện
Cẩm Giàng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện.
- Bước đầu đúc rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng
trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp và hệ thống hóa lại các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài.
- Trình bày một cách khái quát đường lối, chủ trương, chính sách của
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế,
đặc biệt là kinh tế nông nghiệp; chủ trương, nghị quyết của Tỉnh uỷ Hải
Dương, UBND tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp.
5.2. Nguồn tài liệu
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh
về xây dựng kinh tế nông nghiệp.
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam về
phát triển kinh tế nông nghiệp từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
(1996) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) và các Hội nghị Trung
ương khóa VIII, IX, X của Đảng.
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo, tạp chí có liên
quan do các cơ sở nghiên cứu khoa học có uy tín công bố.
- Nguồn tư liệu chính của luận văn là các Nghị quyết Đại hội, Hội nghị
của tỉnh Hải Dương, huyện ủy Cẩm Giàng, các báo cáo tổng kết hàng năm
của UBND huyện Cẩm Giàng, Phòng Nông nghiệp huyện, niên giám thống kê
các năm của huyện Cẩm Giàng từ 1997 đến năm 2010; các chỉ thị của Đảng
bộ tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế nông nghiệp. Số liệu điều tra, khảo
sát thực tế ở một số địa phương trong huyện Cẩm Giàng.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và
8
phương pháp lôgich. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác
như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh số liệu để làm rõ nội
dung cần nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Giá trị về mặt lý luận
Chương 1. Đảng bộ huyện Cẩm Giàng lãnh đạo kinh tế nông
nghiệp(1997 - 2005)
Chương 2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng phát
triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
Chương 3. Nhận xét và một số kinh nghiệm
10
Chƣơng 1. ĐẢNG BỘ HUYỆN CẨM GIÀNG LÃNH ĐẠO
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (1997 - 2005)
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng chủ trƣơng của
Đảng bộ huyện về phát triển kinh tế nông nghiệp
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Huyện Cẩm Giàng nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hải Dương,
thuộc trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Phía Bắc giáp huyện Lương Tài (tỉnh Bắc
Ninh); phía Nam giáp huyện Bình Giang và huyện Gia Lộc; phía Đông giáp
huyện Nam Sách và Thành phố Hải Dương; phía Tây giáp huyện Mỹ Hào
(tỉnh Hưng Yên) và huyện Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh).
- Địa hình và đất đai: Địa hình đồng bằng, do phù sa của hệ thống sông
Thái Bình bồi đắp, với tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 10.934,3 ha.
Nhóm đất này tương đối màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển một
nền nông nghiệp toàn diện và vững chắc với nhiều sản phẩm phong phú bao
gồm cả cây lương thực (lúa gạo, ngô, khoai... ), cây công nghiệp (lạc, đay,
mía... ), cây ăn quả (vải thiều, nhãn, táo, cam, quýt, bưởi, chanh... ).
- Khí hậu: Cẩm Giàng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với
hai loại gió chủ yếu là gió Đông Nam và gió Đông Bắc, được chia thành hai
mùa rõ rệt với một mùa đông khô, lạnh và một mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều.
Lượng mưa trung bình là 1.500 - 1.700 ml/năm, nhiệt độ trung bình hàng năm
được tái lập với diện tích là 109,3 km2; 29.282 hộ, 116.610 khẩu gồm 19 xã
và thị trấn.
- Đơn vị hành chính: Huyện Cẩm Giàng gồm 2 Thị trấn: Thị trấn Cẩm
Giàng và Thị trấn Lai Cách và 17 xã: Cẩm Hưng, Cẩm Văn, Cẩm Hoàng, Ngọc
Liên, Thạch Lỗi, Cẩm Vũ, Đức Chính, Cẩm Sơn, Cẩm Định, Kim Giang, Lương
Điền, Cao An, Tân Trường, Cẩm Phúc, Cẩm Điền, Cẩm Đông và Cẩm Đoài.
12
- Hệ thống giao thông: Cẩm Giàng là huyện đồng bằng có hệ thống
giao thông đường thuỷ, đường bộ, đường sắt thuận lợi cho giao lưu, phát triển
kinh tế và đi lại của nhân dân. Đường giao thông do huyện quản lý có tổng
chiều dài 351,4 km được trải nhựa và vật liệu cứng. Cẩm Giàng có các trục
đường giao thông chiến lược chạy qua như Quốc lộ 5A, Quốc lộ 38, Đường
tỉnh 394; được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Thái Bình và sông Kẻ Sặt
và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng qua huyện với hai nhà ga tại Thị trấn
Cẩm Giàng và ga Cao Xá (xã Cao An).
- Nguồn lao động: Cẩm Giàng có nguồn nhân lực dồi dào với đức tính
cần cù, hiếu học, nghiêm túc trong lao động, có trình độ văn hoá và khả năng
tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật tốt. Đó là những điều kiện quan
trọng để hình thành một lực lượng lao động chất lượng cao trong phát triển
công nghiệp, nông nghiệp của địa phương. Dân số trung bình của huyện năm
2008 là 125.458 người. Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là
76.829 người, trong đó có 45.560 người lao động trong ngành trồng trọt, chăn
nuôi và thuỷ sản (chiếm 59,3%); 19.720 người lao động trong ngành công
nghiệp và xây dựng (chiếm 25,6%) và 11.549 người lao động trong ngành
dịch vụ (chiếm 15,1%). Hàng năm nguồn lao động này không ngừng được bổ
sung cả về số lượng và nâng cao về trình độ. Đó chính là nguồn lực mạnh mẽ
cho sự phát triển kinh tế của huyện.
Giàng đã hưởng ứng phong trào khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật, tham
gia phong trào nông dân của cụ Hoàng Hoa Thám, để tang cụ Phan Châu
Trinh, đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Ban Tỉnh ủy lâm thời Hải Dương
ra đời (6/1940) và chi bộ Đảng đầu tiên của huyện được thành lập (cuối năm
1944) do đồng chí Ngô Thị Sâm làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân Cẩm Giàng bừng lên khí thế cách mạng. Cẩm Giàng là địa phương giành
chính quyền sớm nhất của tỉnh Hải Dương (17/8/1945). Trong 9 năm kháng
chiến chống Pháp, Cẩm Giàng đã có những địa chỉ vang dội chiến công.
14
Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân trong toàn huyện đã hăng hái đóng
góp sức người, sức của chi viện cho miền Nam với tinh thần: “Thóc không
thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Ở hậu phương nhân dân tích cực
tham gia sản xuất và chiến đấu bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Với những
thành tích trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ xâm lược, năm 1998
nhân dân và lực lượng vũ trang trong huyện được phong tặng danh hiệu “Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”; 6 xã, thị trấn được Đảng và Nhà nước
phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” (xã Cẩm
Điền, Tân Trường, Cẩm Sơn, Cẩm Đông, Đức Chính và thị trấn Lai Cách).
Huyện Cẩm Giàng có 2/16 cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng
trong toàn tỉnh, đó là: Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Tiến Như (xã
Thạch Lỗi) và Anh hùng Lao Động Vũ Văn Mùi (xã Tân Trường). Toàn
huyện có 89 bà mẹ được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam Anh hùng”.
Từ xa xưa nhân dân trong huyện đã có truyền thống hiếu học, với Văn
Miếu Mao Điền - trường học, trường thi xứ Đông - chứng tích về một vùng
quê hiếu học, đã có nhiều người đỗ đạt cao, nổi danh như: Phạm Tử Hủ,
Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Kim Bảng… Cụ Thần Đồng ở Thạch Lỗi đã ứng
khẩu thành chương, 13 tuổi thi đỗ cử nhân (vì nhỏ tuổi chỉ phong là Thần
nghề truyền thống, đặc biệt là chạm khắc gỗ Đông Giao (xã Lương Điền), rượu
Phú Lộc (xã Cẩm Vũ), trồng cói, dệt chiếu (xã Đức Chính), nuôi tằm, dệt lụa (xã
Cẩm Sơn), làm bột tẻ ở thôn Mỏ (xã Tân Trường)… Những sản phẩm này không
chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong nước mà còn vươn xa, chiếm
lĩnh một số thị trường ở khu vực châu Á và thế giới. Điều đó thể hiện sự cần cù,
khéo léo, tài hoa, con mắt thẩm mỹ tinh tế của người dân Cẩm Giàng.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Cẩm Giàng có nhiều yếu
tố thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Điều kiện khí hậu, đất đai rất
thuận lợi cho sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng. Đặc biệt khí hậu
mùa đông thuận lợi cho việc phát triển các loại rau vụ đông thuận lợi cho việc
16
xuất khẩu. Với vị trí địa lý thuận lợi trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,
Cẩm Giàng có vai trò quan trọng là cầu nối Thủ đô Hà Nội với thành phố
cảng Hải Phòng, thành phố du lịch Hạ Long, cung cấp sản phẩm, hàng hóa
thiết yếu và là địa bàn tham gia quá trình trung chuyển hàng hóa giữa hệ thống
cảng biển và các thành phố, khu công nghiệp lớn, vừa có cơ hội đóng vai trò là
một trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với những thách thức cạnh
tranh trong quá trình khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Cẩm
Giàng là một huyện thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Với mạng lưới giao thông
thuỷ bộ thuận lợi; ruộng đất màu mỡ, phì nhiêu; nhân dân dũng cảm, kiên cường
trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất và
xây dựng quê hương; có truyền thống hiếu học, giàu truyền thống lịch sử, văn hoá.
Đó chính là những tiềm năng để Cẩm Giàng tiếp tục phát triển trong tương lai,
xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh.
1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Cẩm Giàng trước năm 1997
Trước năm 1997, Cẩm Giàng nằm trong huyện Cẩm Bình (gồm có
Cầm Giàng và Bình Giang). Đại hội Đảng bộ huyện Cẩm Bình lần thứ VI