Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam tại 43 tỉnh thành (SAVI) năm 2003 - Bộ Y tế _phần 1 chương 1 - Pdf 65

13
Điều tra Quốc gia về Vò thành niên và Thanh niên Việt Nam
Chương 1
Giới thiệu khái quát
Cuộc điều tra quốc gia về
Vò thành niên và Thanh
niên Việt Nam (SAVY)
Đây là báo cáo của cuộc Điều tra Quốc gia về Vò
thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY), đánh
dấu một bước ngoặt trong công tác phát triển đối
với vò thành niên và thanh niên ở Việt Nam. Kết
quả cuộc điều tra chọn mẫu quốc gia lần đầu tiên
này nhằm cung cấp thông tin cho các sáng kiến
chương trình trong tương lai để thúc đẩy sự phát
triển của thanh thiếu niên trên cả nước, không chỉ
trong lónh vực sức khỏe mà các lónh vực khác như
giáo dục, việc làm, văn hóa thông tin và vai trò
của gia đình.
Theo kết quả điều tra SAVY, đa số thanh thiếu
niên Việt Nam chăm chỉ, siêng năng, có mối quan
hệ mật thiết với gia đình, lạc quan về tương lai và
nhìn chung hài lòng với công việc hiện tại của họ.
Thanh thiếu niên phấn khởi về việc học hành và
trường lớp đồng thời cảm thấy được đối xử công
bằng. Rất ít cá nhân tham gia vào các hành vi có
hại hoặc không phù hợp với thuần phong mỹ tục.
Đa số không ủng hộ quan hệ tình dục sớm, mà có
thái độ cam kết mang tính bền vững, yêu và tiến
tới hôn nhân trước khi có quan hệ tình dục. Tuy
nhiên có những khác biệt về giới, trong đó nam
thường tham gia vào các hành vi có hại cho sức

Nam nhằm cung cấp thông tin để xây dựng những
chương trình giúp thanh thiếu niên trên toàn quốc
phát triển một cách toàn diện.
Phần I
Giới thiệu
và Phương pháp
14
Điều tra Quốc gia về Vò thành niên và Thanh niên Việt Nam
1.1. Giới thiệu khái quát về Việt
Nam
Việt Nam có diện tích tự nhiên là 331.000 km
2
với
3/4 là đồi núi và cao nguyên. Hơn 40% dân số cả
nước sống ở Châu thổ Đồng bằng sông Hồng và
sông Cửu Long.
Việt Nam là quốc gia gồm hơn 54 dân tộc, trong
đó đa số là người Kinh (chiếm 86%), có 4 dân tộc
có trên 1 triệu dân là Tày, Thái, Mường, Kh’me
(Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999). Tiếng
Việt là ngôn ngữ chính thức. Năm 2003 dân số Việt
Nam là 80,6 triệu người, thuộc nhóm 14 nước đông
dân nhất trên thế giới. Đa số dân số sống ở khu
vực nông thôn và làm nông nghiệp (hơn 75%). Tốc
độ tăng dân số bình quân hàng năm từ 1989-1999
là 1,64%/năm.
Các tôn giáo chính
1
: Phật giáo (7,1 triệu tín đồ),
tiếp đó là Công giáo (5,1 triệu tín đồ), Hòa hảo

Do đặc điểm đòa lý nằm trải dài từ Bắc xuống
Nam, đòa hình đồi núi gãy khúc nên việc đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng tốn kém, hiệu quả thấp.
Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo
nên sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội giữa
các vùng, đặc biệt là giữa dân tộc thiểu số và dân
tộc Kinh. Nhận thức được điều này, trong nhiều
năm qua Nhà nước Việt Nam đang thực hiện nhiều
chương trình mục tiêu nhằm ưu tiên cho phát triển
kinh tế-xã hội miền núi như chương trình 135, 143,
v.v...
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu không thể
phủ nhận trong một thập niên qua về phát triển
kinh tế - xã hội, chính sách hội nhập, mở cửa
cũng làm gia tăng và phát sinh những thách thức
mới, các vấn đề xã hội như ma túy, mại dâm, vấn
đề lây nhiễm HIV/AIDS, tình trạng di dân, tai nạn
giao thông, bạo lực trong gia đình và tình trạng gia
đình tan vỡ, tính cá nhân hóa ngày càng tăng
trong thò trường cạnh tranh…
1.2. Thanh thiếu niên Việt Nam
Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề
được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như ở
nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, thanh thiếu
niên ở độ tuổi 14-25 là nhóm đông nhất (chiếm
24,5% dân số - theo số liệu Tổng điều tra dân số
1999). Vì thanh thiếu niên có tiềm năng to lớn
quyết đònh sự lớn mạnh và thònh vượng của đất
nước nên việc nắm được những vấn đề cốt lõi
trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng.

đích:
z Cung cấp thông tin để làm cơ sở cho các sáng
kiến trong tương lai để thúc đẩy sự phát triển
lành mạnh của thanh thiếu niên trên cả nước.
z Làm cơ sở cho quá trình phát triển chính sách
và chương trình để hỗ trợ thanh thiếu niên.
z Cung cấp dữ liệu nền về thanh thiếu niên để
xác đònh xu hướng phát triển trong những
năm sắp tới.
Cuộc điều tra SAVY là một quá trình phối hợp giữa
nhiều cơ quan, tổ chức và thanh thiếu niên để xây
dựng cơ sở dữ liệu và thông tin về vò thành niên
và thanh niên đồng thời góp phần vận động nâng
cao sự hỗ trợ cho thanh thiếu niên. Đây là kết quả
của một quá trình đầu tư thích đáng và cộng tác
chặt chẽ giữa chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Y
tế, Tổng cục Thống kê với các tổ chức Liên hợp
quốc gồm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ
Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), đồng thời có sự
hỗ trợ của các bộ ngành như: Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam. Trung tâm Đông-Tây Honolulu, Hawaii phụ
trách hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo chất lượng về
phương pháp nghiên cứu. Trước cuộc điều tra này
cũng đã có nhiều thông tin về thanh thiếu niên
Việt Nam qua các nghiên cứu khác nhau. Tuy
nhiên, những thông tin đó chưa đủ tính đại diện
để có thể xây dựng những chương trình dựa trên
một cơ sở dữ liệu toàn diện. Các chương trình can

5
. Tuy nhiên đối tượng của điều tra
16
Điều tra Quốc gia về Vò thành niên và Thanh niên Việt Nam
này là vò thành niên và thanh niên trong độ tuổi
14-25 vì những lý do sau: Đây là nhóm có thể đại
diện trung thực nhất cho thanh thiếu niên Việt
Nam hiện nay. Đây cũng là nhóm tuổi phù hợp
nhất để có thể tiến hành điều tra (vì vò thành niên
tuổi 14 trở lên có thể được xem là tương đối lớn
để trả lời một số câu hỏi nhạy cảm được thiết kế
trong phiếu hỏi mà không phải có sự có mặt của
cha mẹ như thiết kế của điều tra này). Trong báo
cáo này, thuật ngữ thanh thiếu niên được dùng để
chỉ nhóm tuổi 14-25.
Mặc dù nếu tìm hiểu về suy nghó và trải nghiệm
của nhóm tuổi 10-13 cũng sẽ mang lại một số giá
trò nhất đònh, nhưng đối với SAVY việc điều tra
nhóm tuổi 14-25 là phù hợp để tìm hiểu lứa tuổi vò
thành niên theo thực tế ở Việt Nam. Ví dụ theo kết
quả SAVY, độ tuổi dậy thì trung bình ở nữ là 14,4,
so với ở Hoa Kỳ là 12,5
6
. Tương tự, sự phát triển
về xã hội và tình cảm của thanh thiếu niên Việt
Nam cũng tương đối chậm hơn so với các nước
phương Tây: chỉ có 33% nam thanh niên thành thò
độ tuổi 22-25 cho biết có quan hệ tình dục thì tỷ
lệ này là hơn 90% nam thanh niên độ tuổi 20-24 ở
Anh

thường tò mò và thử những hành vi tương đối
nguy hại. Tuy hầu hết vò thành niên bước qua giai
đoạn chuyển đổi mà không gặp trở ngại khó khăn
gì, nhưng cũng có một số thanh thiếu niên tham
dự vào những hành vi và hoạt động gây tổn hại
đến sức khỏe. Nhiều chương trình trên thế giới
đang nỗ lực phòng ngừa những hành vi nguy hiểm
của giới trẻ bằng cách vận dụng mô hình yếu tố
nguy cơ và yếu tố bảo vệ. Mô hình đó là giảm
những yếu tố được biết là có tác động tiềm tàng
làm tăng các hành vi “có vấn đề” (các yếu tố nguy
cơ), đồng thời nhấn mạnh vào các yếu tố giúp
thúc đẩy sự vững vàng, nghò lực, khả năng của tuổi
trẻ đối phó với các giai đoạn khó khăn của mình
(các yếu tố bảo vệ)
10
.
Nghiên cứu thanh thiếu niên trong khung cảnh gia
đình là một lăng kính hữu ích nhằm đánh giá giá
trò của mô hình yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ.
SAVY đã cho thấy hầu hết thanh thiếu niên dù
đang ở trong tình trạng khó khăn, vẫn gắn bó với
gia đình, sẵn sàng nỗ lực làm việc cho gia đình,
tôn trọng gia đình và ước mong có một gia đình
của riêng mình. Tất cả những điều này chính là
những yếu tố bảo vệ chủ đạo, sẽ nâng cao tính tự
chủ, củng cố lòng tự trọng, sự vững vàng và nghò
lực của thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, có một số
vò thành niên không có quan hệ gắn bó với gia
đình, đó là một nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe

thiệp nhằm tăng cường những yếu tố mang tính
bảo vệ đồng thời góp phần cải thiện cuộc sống
của giới trẻ:
z
Thúc đẩy các hành vi tích cực của thanh
thiếu niên: Những kết quả tương đối tích cực
trong điều tra SAVY cho thấy cần ghi nhận
một cách đầy đủ đồng thời triển khai các
chiến lược nhằm duy trì và thúc đẩy những
hành vi, thái độ tích cực, hợp lý và an toàn.
Tập trung củng cố hành vi không hút thuốc ở
phụ nữ, khuyến khích tính chung thủy trong
hôn nhân gia đình, tiếp tục tạo điều kiện để
thắt chặt mối quan hệ gia đình và giúp cho
giới trẻ có tiếng nói và được lắng nghe.
Những phương thức vẫn được vận dụng từ
trước đến nay nói chung chưa thực sự hấp
dẫn. Tuy nhiên, với thế mạnh của các yếu tố
bảo vệ (giáo dục, gia đình và tình bạn), thì
cách tiếp cận tăng cường các yếu tố này cần
phải là lónh vực ưu tiên trong tương lai.
z Đói nghèo và việc làm: Tập trung vào việc
tăng các cơ hội việc làm và nghề nghiệp cho
thanh niên ngay tại đòa phương có thể góp
phần giảm số hộ nghèo, giảm nhu cầu di dân
và các nguy cơ liên quan đến việc rời bỏ quê
hương đối với nam thanh niên và gia đình
của họ. Ước tính mỗi năm cần 1,4 triệu việc
làm mới để đáp ứng nhu cầu lao động của
người dân và tốc độ tăng trưởng dân số trẻ.

trung các nỗ lực phòng chống cho những đối
tượng thanh thiếu niên có nguy cơ cao nhất
như thanh thiếu niên sử dụng ma túy, mại
dâm.
z Giới: Vấn đề giới có vẻ như là yếu tố làm
giảm, trung hòa một số nguy cơ ở thanh thiếu
niên: So với các bạn nam, thanh thiếu niên nữ
rất ít khi vướng vào các chất gây nghiện và
có xu hướng tâm sự với gia đình nhiều hơn.
Tuy vậy, nữ lại kém lạc quan hơn nam về
bản thân và tương lai. Thúc đẩy bình đẳng
giới ở trường học có thể giúp nữ thanh thiếu
niên tiếp cận với cơ hội công bằng về việc
làm, thu nhập và tài chính; tăng cường cơ hội
học hành cho nữ thanh thiếu niên và tiếp cận
với các dòch vụ thông qua chương trình giáo
dục kỹ năng sống và các dòch vụ y tế thân
thiện sẽ nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh
sản; kiến thức này thực sự hữu ích góp phần
giảm tử vong bà mẹ, thúc đẩy vai trò của nữ
giới trong kế hoạch hóa gia đình.
1.7. Cấu trúc báo cáo SAVY
Báo cáo này là báo cáo đầu tiên của nhiều báo cáo
kết quả SAVY. Các thông tin mô tả được trình bày
ở Phần II - Kết quả điều tra, tập trung vào các vấn
đề có liên quan đến vò thành niên và thanh niên.
Mỗi chủ đề được trình bày bằng các số liệu thu
thập và phân tích theo nhóm tuổi, giới, thành thò,
nông thôn, dân tộc với các nội dung phù hợp có
phân tích theo nhóm đã lập gia đình và chưa lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status