(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha Collenette) hại thông Mã Vĩ tại Lộc Bình, Lạng Sơn - Pdf 65

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN NÚI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
LOÀI SÂU RÓM 4 TÚM LÔNG (Dasychira axutha Collenette)
HẠI THÔNG MÃ VĨ TẠI LỘC BÌNH, LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN NÚI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
LOÀI SÂU RÓM 4 TÚM LÔNG (Dasychira axutha Collenette)
HẠI THÔNG MÃ VĨ TẠI LỘC BÌNH, LẠNG SƠN
Ngành: Lâm Học
Mã số: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:

1. TS. Đặng Thị Kim Tuyến


LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Lâm Nghiệp, Phòng Đào Tạo - Trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên tác giả thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài sâu róm 4
túm lông (Dasychira axutha Collenette) hại thông mã vĩ tại Lộc Bình, Lạng
Sơn”.
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn
thành. Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo TS. Đặng
Thị Kim Tuyến giảng viên khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, Thầy giáo TS. Đào Ngọc Quang phó giám đốc trung tâm bảo vệ
phát triển rừng - Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam là người tận tâm hướng
dẫn tác giả trong quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Phòng Đào Tạo, khoa
Lâm Nghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những kiên thức và phương
pháp nghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Uỷ Ban Nhân Dân huyện Lộc Bình đã
nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu.
Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn
bè và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong
thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua.
Tôi kính mong nhận được sự góp ý bổ sung của quý thầy cô giáo và các
bạn đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Núi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .................................................. 6

1.3.1. Thành phần loài nhóm sâu róm hại thông......................................... 6
1.3.2. Đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học nhóm sâu róm hại thông ..... 7
1.3.3. Đặc điểm sinh thái nhóm sâu róm hại thông .................................... 9
1.3.4. Biện pháp phòng trừ nhóm sâu róm hại thông................................ 10
1.4.

Tình hình nghiên cứu trong nước.................................................... 11

1.4.1. Thành phần loài nhóm sâu róm hại thông....................................... 11
1.4.2. Đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học nhóm sâu róm hại thông ... 13
1.4.3. Đặc điểm sinh thái nhóm sâu róm hại thông .................................. 15
1.4.4. Biện pháp phòng trừ nhóm sâu róm hại thông................................ 16
1.5.

Đặc điểm cơ bản khu vực nghiên cứu............................................. 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


iv

1.5.1. Vị trí địa lý và địa hình ................................................................... 22
1.5.2. Khí hậu, thủy văn ............................................................................ 23
1.5.3. Tài nguyên đất ................................................................................. 25
1.5.4. Tài nguyên nước.............................................................................. 25

3.1.3. Đặc điểm hình thái các pha phát triển của Sâu róm 4 túm lông ..... 35
3.2.

Đặc điểm sinh thái loài Sâu róm 4 túm lông................................... 42

3.2.1. Thành phần thiên địch của Sâu róm 4 túm lông ............................. 42
3.2.2. Thời kỳ xuất hiện, biến động quần thể loài Sâu róm 4 túm lông hại
Thông mã vĩ tại Lạng Sơn............................................................... 48
3.2.3. Nhiệt độ khởi điểm phát dục và tổng nhiệt hữu hiệu của Sâu róm 4
túm lông .......................................................................................... 51

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


v

3.3.

Đề xuất một số gải pháp quản lý và phòng trừ loài sâu róm 4 túm
lông .................................................................................................. 52

3.3.1. Một số giải pháp quản lý ................................................................. 52
3.3.2. Một số biện pháp phòng trừ ............................................................ 52
3.3.3. Đề xuất biện pháp phòng trừ đối với các pha của Sâu róm 4 túm lông54
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ................................................. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 60

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1:

Thời gian phát triển của các pha của loài Sâu róm 4 túm lông
trong điều kiện phòng phí nghiệm......................................... 33

Bảng 3.2:

Thời gian phát triển của các pha và vòng đời của loài Sâu róm
4 túm lông trong điều kiện phòng phí nghiệm ................... 33

Bảng 3.3:

Các loài thiên địch bắt mồi và ký sinh Sâu róm 4 túm
lông ..................................................................................... 43

Bảng 3.4:

Lịch xuất hiện các lứa của Sâu róm 4 túm lông tại Lộc Bình
- Lạng Sơn năm 2018 .......................................................... 50

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


Hình 3.8:

Nhộng cái Sâu róm 4 túm lông ......................................... 40

Hình 3.9:

Nhộng đực Sâu róm 4 túm lông ........................................ 41

Hình 3.10:

Nuôi sâu trưởng thành để thu trứng .................................. 41

Hình 3.11:

Nuôi sâu trong phòng thí nghiệm ..................................... 41

Hình 3.12:

Sơ đồ vòng đời sâu róm 4 túm lông.................................. 42

Hình 3.13:

Bọ ngựa xanh .................................................................... 44

Hình 3.14:

Bo xít đỏ............................................................................ 44

Hình 3.15:

Biểu đồ biến động mật độ sâu non Sâu róm 4 túm lông và độ ẩm
trung bình tháng tại Lộc Bình - Lạng Sơn (năm 2018).............. 49

Hình 3.23:

Biểu đồ biến động mật độ sâu non Sâu róm 4 túm lông và lượng
mưa trung bình tháng tại Lộc Bình - Lạng Sơn (năm 2018) ..... 49

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN

http://lrc.tnu.edu.vn


1

MỞ ĐẦU
1. Đặt Vấn Đề
Thông là một trong những loài cây có giá trị kinh tế cao, ngoài gỗ cho
xây dựng, làm giấy; nhựa thông còn được dùng trong nhiều ngành công nghiệp
như sơn, vécni, vật liệu cách điện và các mặt hàng tiêu dùng khác. Về kinh tế,
cây thông dễ trồng, sinh trưởng nhanh, biện pháp lâm sinh đơn giản, dễ áp dụng,
trồng một lần cho thu nhập hàng năm, giá trị kinh tế cao, ổn định. Thân cây
thông có thể sử dụng trong xây dựng, trong công nghiệp giấy, công nghiệp sản
xuất ván nhân tạo. Về mặt xã hội, cây thông tạo công ăn việc làm, tăng thu
nhập, cải thiện mức sống cho người dân, đặc biệt là người dân vùng trung du,
miền núi. Cây thông còn có giá trị đặc biệt trong cơ cấu cây trồng vùng đồi do
những đặc tính sinh thái đặc biệt thích ứng với điều kiện lập địa cằn cỗi mà
ngoài thông ra không thể trồng loài cây nào khác. Chính vì vậy thông được sử
dụng nhiều để phủ xanh đất trống đồi núi trọc trong các chương trình trồng
rừng ở nước ta (Bộ NN&PTNT, 2014). Thông nhựa là nguồn cung cấp tùng

Diprion và Gilpinia.
Theo kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam: Năm 2005, Sâu róm 4 túm lông đã bắt đầu
xuất hiện trở lại và gây thành dịch tại một số tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang,
Thanh Hóa. Hiện nay loài sâu róm 4 túm lông này đang gây hại Thông đuôi
ngựa và Thông nhựa với tỷ lệ bị hại từ 25% đến 60% ở Lạng Sơn, 20% đến
35% ở Bắc Giang và đã lan rộng sang các tỉnh trồng Thông đuôi ngựa và
Thông nhựa như Vĩnh Phúc, Thanh Hóa. Trước thực tiễn đó, tôi đã tiến hành
thực hiện Luận văn “Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài sâu róm 4 túm
lông (Dasychira axutha Collenette) hại thông mã vĩ tại Lộc Bình, Lạng
Sơn”.


3

2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm sinh vật học loài Sâu róm 4 túm lông hại Thông
mã vĩ.
- Xác định được đặc điểm sinh thái loài Sâu róm 4 túm lông hại Thông
mã vĩ.
- Đề xuất một số giải pháp trong quản lý loài Sâu róm 4 túm lông hại
Thông mã vĩ.
3. Thời gian nghiên cứu
Học viên tham gia thực hiện đề tài đã được sự giúp đỡ về chuyên môn
cũng như phương pháp nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Trung Tâm Bảo Vệ
Phát Triển Rừng - Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam từ tháng 1 năm 2018
đến tháng 12 năm 2018.
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
Bổ sung thêm về những Kiến thức khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu

loài động vật mà con người biết đến thì côn trùng chiếm hơn 1 triệu loài và
chiếm gần 1/2 tổng số các loài sinh vật cư trú trên hành tinh chúng ta. Côn trùng
phân bố khắp nơi trên trái đất này từ xích đạo đến nam cực, bắc cực hay trên
những hòn đảo xa xôi hẻo lánh hoặc trên đỉnh núi cao 5000m, ta cũng tìm thấy
côn trùng trong những tảng băng lạnh, trong các mạch nước nóng, trong đất,
trong các rễ cây, trong quả, trong thân và lá cây.
Côn trùng có sức sinh sản phi thường, chỉ cần một lượng thức ăn rất nhỏ
chúng có thể tồn tại được và là lớp động vật không xương sống duy nhất có
cánh. (Đặng Kim Tuyến và cộng sự 2008).
Sâu hại cây trồng Nông - Lâm nghiệp có rất nhiều loài song không phải
loài nào cũng có mức độ gây hại giống nhau. Có những loài có tính đa thực hẹp
như: Bọ hung, Bọ dừa, Mối mọt,… chúng gây hại nhưng ít khi phát dịch. Ngược
lại có nhiều loài sâu có tính ăn hẹp (đơn thực), chúng chỉ ăn một số loài nhất
định, gần nhau về phân loài thực vật, những loài này rất dễ phát thành dịch và


5

gây hại lớn đối với sản xuất nông lâm nghiệp. Ví dụ: Sâu róm thông, sâu xanh
ăn lá bồ đề, ong ăn lá mỡ...
Khi các yếu tố sinh thái thuận lợi, đặc biệt là thức ăn, nhiệt độ và ẩm độ
nơi loài sâu hại sống sẽ làm cho chúng sinh trưởng phát triển rất nhanh. Trên
thực tế các trận dịch xảy ra là do sự phát sinh hàng loạt của loài. Tuy nhiên các
trận dịch lại không xảy ra một cách đột ngột. Sự phát sinh hàng loạt chính là sự
tăng số lượng loài sâu. Nguyên nhân của nó, ngoài các yếu tố ngoại cảnh còn
có nguyên nhân bên trong, chủ yếu là quá trình phát triển của loài như khả năng
sinh sản lớn, vòng đời ngắn, sức sinh trưởng nhanh,…
1.2. Đặc điểm chung của nhóm sâu ăn lá cây rừng
- Khái niệm sâu hại: Sâu hại là những loài côn trùng (Insecta) gây hại
hoặc gây khó chịu cho các hoạt động, ảnh hưởng xấu và thiệt hại đến lợi ích

sẽ làm cho sâu hại sinh trưởng phát triển nhanh rất dễ phát thành dịch gây nên
những tổn thất nặng nề cho việc kinh doanh rừng trồng của nước ta cũng như
làm giảm về giá trị thẩm mỹ, sinh thái môi trường.
1.3. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.1. Thành phần loài nhóm sâu róm hại thông
Theo kết quả nghiên cứu của Beaver và Laosumthorm (1974) ở vùng Bắc
Thái Lan đã xác định được 3 loài ong ăn lá thông là loài Diprion, Neodiprion và
Gilpinia; Năm loài chủ yếu được định danh là Diprion hutacharernae, Neodiprion
biremis; Gilpinia marshalli, G. leksawadii và G.pailooni.
Theo Zhang (1997), Sâu róm thông Dendrolimus có 27 loài. Trong đó vùng
Mông cổ có loài D. suprans, D. spectabilis, D. tabulaeformis, D. suffuscus, D.
huashanensis. Vùng Đông Bắc Trung Quốc có loài D. ginlingensis, D.
rubrripennis, D. taibeiensis. Còn các loài khác phân bố ở vùng Đông Nam Á,
Pakistan, Liên Xô (cũ), Nhật Bản và Triều Tiên. Hầu hết các loài Sâu róm thông
đều có ở Trung Quốc. Trong đó có 5 loài thường gây hại nguy hiểm và thường
phát dịch là Sâu róm thông đuôi ngựa, Sâu róm thông dầu, Sâu róm thông đỏ, Sâu
róm thông Vân Nam và Sâu róm thông kikucchi.


7

Sâu róm thông đuôi ngựa phân bố từ Bình Nguyên phía Đông đến 32o vĩ
độ Bắc. Nơi có tổng tích ôn 4.500oC, độ cao so với mặt nước biển dưới 500m
thường có Sâu róm thông đuôi ngựa phân bố. Trong các vùng núi duyên hải,
các vùng rừng trồng Thông đuôi ngựa và rừng Thông nhựa thuần loài, Sâu róm
thông thường gây dịch. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới có
những ngày mưa lạnh, lượng mưa 1.000 - 2.000 mm/năm, độ cao so với mực
nước biển trên 500m cũng xuất hiện Sâu róm thông nhưng khả năng gây hại
không lớn.
Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc, Sâu róm 4 túm lông hại thông thuộc

ăn vỏ trứng, sống thành đàn, đến tuổi 2-3 mới phân tán tìm nguồn thức ăn.
Sâu non tuổi 1-2 rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, khi có động
mạnh hoặc gió thổi chúng thường buông tơ để phát tán rộng ra các khu vực
xung quanh. Sâu non tuổi 1-3 có tỷ lệ sống rất thấp, chỉ đạt 30 - 50% (Chen,
1990).
Thời gian vũ hóa của sâu trưởng thành diễn ra trong khoảng thời gian từ
7 - 8 giờ tối, sau khi vũ hóa sâu trưởng thành cái tiết ra pheromone để hấp dẫn
sâu trưởng thành đực và tiến hành giao phối ngay, thời gian để giao phối kéo
dài tới 16 giờ sau khi vũ hóa. Mỗi sâu trưởng thành chỉ giao phối 1 lần và thời
gian giao phối phải đạt trên 7 giờ mới đảm bảo trứng được thụ tinh, nếu chỉ
giao phối dưới 6 giờ thì trứng không thể nở được hay nói cách khác trứng chưa
được thụ tinh (Kong et al., 2001). Sau khi vũ hóa sâu trưởng thành không ăn
bổ sung và có thể sống đến 15 ngày. Sâu trưởng thành cái mỗi ngày đẻ trứng
1-3 lần vào khoảng thời gian từ 7 - 10 giờ tối. Số lượng trứng đẻ trung bình đạt
300 - 400 trứng/con cái. Số lượng trứng của mỗi con trưởng thành cái tỷ lệ
thuận với trọng lượng của nhộng.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc, loài Dasychira axutha
được xác định gây hại chủ yếu trên Thông nhựa và Thông mã vĩ, xuất hiện ở nhiều


9

tỉnh của Trung Quốc như Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Triết Giang, Hồ bắc, Giang
Tây, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây,… Số thế hệ của loài này cũng rất khác
nhau: 2 thế hệ ở phía bắc Trung Quốc, 3 thế hệ ở khu vực phía tây, 4 thế hệ ở khu
vực phía tây và thường qua đông ở pha nhộng.
1.3.3. Đặc điểm sinh thái nhóm sâu róm hại thông
Ở Trung Quốc, Sâu róm thông có từ 1 đến 5 thế hệ trong năm phụ thuộc
vào vĩ độ (Chen, 1990; Zhang et al., 2003), ở vị trí 30 vĩ độ Bắc có 2 - 3 thế hệ
(He, 1995; Li et al., 1993), trong khi đó ở Đài Loan mỗi năm loài này có 3 thế

Kong và đồng tác giả (2001), Lu và đồng tác giả (1997), thuốc trừ sâu róm
thông chủ yếu là loại thuốc thuộc nhóm Pyrethroid. Tuy nhiên, từ cuối những
năm 1960 và đầu những năm 1970, phòng trừ sâu róm thông bằng biện pháp
sinh học đã được coi như là chiến lược quan trọng ở Trung Quốc (Hsaio, 1981;
McFadden et al., 1982).
Nhiều công trình khoa học công bố những kết quả nghiên cứu về các
biện pháp sinh học phòng trừ sâu róm thông bằng Nấm bạch cương (Beauveria
bassiana) và Ong mắt đỏ ký sinh trứng Trichogramma dendrolimi; sử dụng
quản lý phòng trừ tổng hợp (IPM) trong phòng trừ sâu róm thông (Billing,
1991). Yoichi và đồng tác giả (2000) cho rằng loài ong mắt đỏ ký sinh sâu róm
thông rất hiệu quả và có thể áp dụng trên quy mô lớn trong việc nhân nuôi loài
ong này.
Nghiên cứu của Ying (1986) cho kết quả khả quan về việc phòng trừ Sâu
róm thông bằng biện pháp sinh học, tác giả đã sử dụng nấm Isaria farinosa và
vi khuẩn Bacillus thuringiensis để phun cho thế hệ thứ nhất (từ tháng 10 đến
tháng 3 năm sau) trong điều kiện phù hợp với sự phát triển của nấm (ẩm và
lạnh); Sử dụng vi rút đa diện tế bào chất CPV (Cytoplasmic Polyhedrosis Virus)
và vi khuẩn Bacillus thuringiensis cho thế hệ thứ 2 (tháng 4, 5) hoặc sâu non
của thế hệ thứ 3 trong điều kiện phù hợp với sự phát triển của vi rút (nóng và
khô).


11

Thiên địch là một trong những nhân tố quan trọng trong việc điều chỉnh
số lượng quần thể một loài nào đó. Theo kết quả điều tra của Zhang và đồng
tác giả (2003), có khoảng 250 loài thiên địch của Sâu róm thông, trong đó có
57 loài ong ký sinh, 11 loài ruồi ký sinh, 58 loài côn trùng bắt mồi, 87 loài
chim, 18 loài nhện, 6 loài động vật ăn thịt khác, 5 loài nấm gây bệnh, 5 loài vi
khuẩn và 3 loài vi rút. Tại vùng Triết Giang - Trung Quốc đã thu thập được

hiện có ở những khu vực Trung Trung Bộ. Những kết quả này bước đầu xác
định tại khu vực nghiên cứu có 2 loài ong ăn lá thông thuộc 2 giống khác nhau
Diprion và Gilpinia.
Kết quả điều tra thành phần loài côn trùng bọ cánh cứng Coleoptera và
cánh nửa Hemiptera bằng bẫy Pheromon tại Đại Lải, kết quả thu được 15 loài
thuộc 9 họ côn trùng cánh cứng và cánh nửa cứng cụ thể: Mọt đầu gai
(Sinoxylon sp.), Mọt nâu lưng sọc (Cylindromicrus sp. affinis C. hiranoi Aoki),
Mọt hồ lô (Xylosandrus sp.), Mọt cám (Coccotrypes sp.), Mọt đít vát (Amasa
sp.), Mọt cánh bạc (Crestus sp.) (Phạm Quang Thu và cộng sự, 2010).
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng
Ninh tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2014 diện tích Thông nhựa bị loài sâu đục
ngọn, cành, thân khoảng 56 ha tập trung tại huyện Đông Triều và đang có khả
năng lây lan rộng ra các huyện trồng Thông khác, loài sâu này gây hại trên cây
Thông nhựa từ tuổi 5 trở lên và đây là một trong những loài sâu mới xuất hiện
và gây hại nặng ở Đông Triều, Quảng Ninh.
Theo kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam: Năm 2005, sâu róm 4 túm lông đã bắt đầu xuất hiện
trở lại và gây thành dịch tại một số tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Thanh Hóa.
Hiện nay loài sâu róm 4 túm lông này đang gây hại Thông đuôi ngựa với tỷ lệ
bị hại từ 25% đến 60% ở Lạng Sơn, 20% đến 35% ở Bắc Giang và đã lan rộng
sang các tỉnh trồng Thông đuôi ngựa và Thông nhựa như Vĩnh Phúc, Thanh
Hóa,...


13

Sâu róm 4 túm lông phát triển qua 4 giai đoạn, trong đó chỉ có sâu non
của chúng ăn lá thông gây hại cho cây. Nếu số lượng sâu trên một diện tích lớn,
gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ phát dịch và có khả năng phá hại hàng ngàn
ha thông. Trong mùa dịch năm 2005, bên cạnh sâu róm thông Dendrolimus

biệt là các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh (Phạm Quang
Thu và Nguyễn Văn Độ, 2001). Sâu róm 4 túm lông cũng được điều tra và phát
hiện về sự xuất hiện và phát dịch ở Quảng Ninh (Nguyễn Bá Thụ và Đào Xuân
Trường, 2004).
Theo Bùi Đình Đức (2011), một số đặc điểm cơ bản của Sâu róm 4 túm
lông như sau: Sâu non có 4 túm lông trên lưng, toàn than có màu nâu đỏ. Sâu
non mới nở sống thành đàn. Nhộng màu cánh gián, có lông thưa và cứng bao
phủ, kén giả có màu nâu nhạt. làm nhộng trên tán cây, xung quanh gốc cây hoặc
dưới các lớp lá, cành cây khô, cây bụi. Sâu trưởng thành có màu xám đen, cánh
trước có 3 - 4 vạch đen, có tính xu quang.
Năm 2007, Sâu róm 4 túm lông đã bắt đầu xuất hiện vào tháng 7 và mật
độ sâu hại bắt đầu tăng vào tháng 9 và tháng 10 tại Sơn Động - Bắc Giang, Chi
Lăng - Lạng Sơn, đặc biệt là tại Sơn Động - Bắc Giang. Loài sâu này ăn trụi lá
làm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển và khả năng cho nhựa. Sâu
róm 4 túm lông được xác định là loài Dasychira axutha Collenette, thuộc họ
Limantriidae, bộ cánh vẩy: Lepidoptera (Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu,
2008). Rừng thông của các huyện Lộc Bình, Văn Lãng, Văn Quan bị sâu róm
ăn lá bắt đầu từ tháng 9 năm 2007 với mật độ 50 - 100 con/cây, nhiều nơi mật
độ sâu lên tới 300 con/cây làm cho nhiều diện tích rừng thông bị cháy do sâu
ăn trụi lá. Tổng diện tích bị hại của tỉnh Lạng Sơn năm 2007 là khoảng 2.000
ha.


15

Tại Bắc Kạn, Sâu róm 4 túm lông xuất hiện năm 2006 tại Ngân Sơn (8
ha) và Bạch Thông (20 ha). Từ năm 2007, trên địa bàn huyện Ngân Sơn đã xuất
hiện dịch sâu róm 4 túm lông, chỉ trong 15 ngày đầu xuất hiện sâu róm đã làm
cho hàng chục ha rừng thông bị trụi lá, mật độ sâu phổ biến từ 100 - 300
con/cây. Năm 2007, dịch sâu róm đã gây hại gần 1.000 ha rừng thông tại tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status