Các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự việt nam - Pdf 66

ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO CẠO
TO
'iT Ơ
™Crờìs!G

BỘ ror PHÁP

ÔẬI HỌC LUẬT HÁ NỘI

THƯVIÊN
34(V)411.4

NGUYỀN VĂN HÃI

CAC TỘI PHẬM V í THAM mầí
I r c n c LLÍẬT

Kìn h

sựvựĩ


A

NAM

i ' .,V.N \ .-iN t h ạ c s ĩ l l ậ t h ọ c

I1Ậ MỘI - 20V-





T ỏi xin chân thành cảm ơn TS. Trấn
V ăn Độ, Thẩm phán Tòa án Quân sự Trung
ương, các thầy cô giao, bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình - những người đ ã giúp đỡ tôi
hoàn thành luan văn này.

TAC GIẢ LUẬN VÁN

Nguyễn Vân Hải


MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẨU

1

Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỂ CÁC TỘI PHẠM VỂ

4

THAM NHŨNG

1.1.

Khái niệm tội phạm về tham nhũng


Các dấu hiêu pháp ỉý đặc tnmg của các tội phạm về tham nhũng

28

2.3.

Đường lối xử lý đối với các tội phạm về tham nhũng

42

Chương 3: THỰC n Ẻ N ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỂ TỘI THAM

49

NHỮNG, NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ x ử LÝ CÁC v ụ ẤN VỂ
TỘI THAM NHŨNG

3.1.

Thực tiễn áp dụng các quy định về các tội tham nhũng và

49

những hạn chế, vướng mắc
3.2.

Các giải pháp nàng cao hièu quá xử lý oac vụ án về tội

63

tội phạm về tham nhung và phạm vi quy định các tội phạm về tham nhũng;
- Phân tích chung về cac quy d ih cua Bộ luật hình sự hi' n hành về
các tôi phạm tham nhủng;
- Nghiên cứu thưc tién áp dụng cac quy đ ứi của Bộ luíu hình s 1 về
các tòi phạm tham nhũng, làm sang tỏ những hạn chế, vướng mắc;
- Đưa ra các giai pháp nhám nâng cao hièu qiiả điều tra, truy tố và
xét xử các vụ an tham nhũng.
3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cưu
Phương pháp lu in được áp dụng để nghiên cứu đề tài này là phep
bièn chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lcnin, tư tu tig Hò Chí Minh, đương
lôi, chính sách cùa Đảnư và Nhà nước ta vé nhà nước và phap luật, tôi phạm
và hình phat...


3

Phương pháp nghièn cứu đề tài này bao eổm: phương pháp hệ
thống, thống ke, phân tích, tổng hợp, so sanh, lịch sừ và một số phương
pháp khac.
4. Cái mơi và ý nghĩa lý luan và thực tiễn của lui.il van
- Luận vàn đã đưa ra khí i nièm các tội phạm về tham nhũng và chỉ
ra các đạc điểm của tội phạm về tham nhung.
- Hộ thông hòa sự hình thành và phat triển của cac quy phạm pháp
luật hình sư Việt Nam về cac tội phạm về tham nhũng.
- Dưới góc độ khoa học luật hình sự, kết hợp với việc nghièn cứu số
liệu của tb rc tiễn xét xử loại t< phạm này. luận ván đưa ra các nguyên
nhân, hạn chế vướng mắc và các giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc
điều tra, truy tố, xét xử các tòi phạm về tham nhũng.
Việc chọn đề tài "Các tội phạm vé tham nhũng trong Luật hình sự
Việt Nam" để nghiên cưu có ý nghĩa lý luận trong việc hiểu một cách cơ

khòng có quyền 1 c thì khong thể thu-: hicn hành vi tham uhủng. Ba yếu tố
làm nảy sinh tham nhũng đó là: lòng tham, quyền lực và điều kiện hoàn
cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Trong xẫ hội có giai cấp và nha nước, một số
người muốn sống sung túc nhưng không phải bầng sức lao động của chính
mình hay bằng cách thức hợp pháp. Nhu cầu đó đã biến họ trở thành tham
lam, ích kỷ, hám lợi. Để thỏa mãn lòng tham, sự hám lợi vụ lợi đó một số
người có chức vụ, quyển hạn đă dùng quyền lực đươc giao để chiếm đoạt tài
sản nhà nước, tài sản của tập Lhể, tài sản và quyền lợi ích hợp phap của công
dân. Tuy nhi ìn, khòng phai lức nào người có chức vụ, quyền hạn cung có
thè lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thỏa mãn tính vụ lợi của
mình, mà phái trong những điều kiện hoan cảnh nhát dinh như: pháp luat sơ
hở, chế đo quản lý cán bộ, công chức lỏng léo, yếu kém... thì người có chức vụ,
quyền hạn mới thỏa mãn đươc lòng tham, únh vu lợi đó của mình của mình.
Cũng như ở nước ta, nhiếu nươc trên thế giỗi đếu có quan mèm
tương đối thòng nhất về tham nhũng: Tham nhung đó chính là hành

VI

cua


5

những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hoi, lợi dụng chức vụ, quyên han để vụ lợi cá nhân. Tuy nhiên, khái niệm
tham nhũng còn được hiểu dưới nhiều góc đô khác nhau tùy thuoc vào
phương pháp tiếp cận, mục đích ngh’èn cứu, và yêu cầu giải quyết vãn để
được nghiên cứu. Chẳng hạn, theo tài liệu hướng dãn của Liẽn Hợp Quốc về
cuộc đấu tranh chống tham nhũng thì "tham nhủng là lợi đụng quyền lực
N hà nước đ ể trục lợi rieng bao gốm cac hành vi lợi d1ng chức vụ quyền

nhũng vì đó chỉ là một đang của tham nhủng (nhận hối lộ). Ngoài hanh vi
đó, nhũng người tham nhủng còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô,
hoảc lạm quyền trong khi thi hanh cống vụ v.v...
Phap luật Malaysia coi "tham nhũng là hành vi do bất kỳ thành viẻn
Chính phủ, thành viên Nghị viện hoặc công chưc nào thực hiện trong thời
gian đương chức băng cách lợi dung cương vị cỏng tác của mình để kiếm
chác tiền bạc hoặc lơi ích khác" [24* tr. 57-58].
Trước 10/5/1997, cac tội về tham nhũng chưa được quy đinh ( ụ thể
trong các vãn bản pháp luật của nước ta: chúng chỉ được các cơ quan bảo vê
phap luật thống nhất với nhau từ cơ sở đặc điểm, tinh chất đ |c trưng để chỉ
đạo đấu tranh chống tham nhũng bằng các bièn pháp pháp luật.
Ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điểu của Bộ luật hình sự năm 1985. Trong luãt này, lần đẩu tiên 11 tội
tham nhủng được chính thức ghi nh: '*1.
Theo Pháp lệnh chống tham nhũng được ủ y ban Thường vụ Quốc
hội thông qua ngày 26/02/1998 thì "Tham nhúng là hành vi của người có
ch c vu, quyển hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đỏ để tham ò, hối lộ
hoãc cố ý làm trai pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại tài sản cho nhà
nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tổ
chức" (Điều 1 Pháp lệnh chòng tham nhũng).
Ngày 21/12/1999 Quôc hòi khoa X đã thông qua Bộ luật hình sư
mới co hicu lưc từ ngày 01/07/2000, thav thế cho Bộ luat hình sư năm 1985,


7

các tôi phạm về tham nhũng được quy định tai Mục A chương XXI - Các
tội ph im về chức vụ, bao gồm các toi sau:
- Tội tham ô tài sản (Điểu 278 Bộ luật hình sự);
- Tòi nhíui hối lô (Điểu 279 Bộ luật hình sự);

1.1.2. Các đác điểm của tỏi phạm về tham nhũng
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyển hạn nhưng đã
lợi đụng chức vụ quyển được giao phó để thực hiẹn những rrưc đích, nhứng
mưu cầu về lợi ích cá nhan. Xuất phat từ khái niệm tội pl ìm tham nhùng
nèu trẻn, có thể thấy tội phạm về tham nhùng có các đảc điểm sau:
- Chủ thể tỏi phạm về tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
tham nhũng. Do đó, chủ thể của tói pham phải là người có chức vụ, quyển hạn.
- Lợi d-ing hoác lạm dụng chức vụ, quyền hạn đu. íc giao để làm trai
pháp luật.
- Động cơ của tội phạm về tham nhũng là động cơ vụ lợi. Đòng cơ
vụ lợi luôn là dấu hiệu bầt buộc c a tội phrtm về tham nhủng nhầm cá biẽt
hóa hành vi tham nhúng và thu hẹp phạm vi chịu ừách nhiệm hình sự về tội
tham nhung.
Đặc điểm thứ nhất của tói phạm về tham nhũng là chủ thể thực hiện
phải là người cớ chức vụ, quyền hạn. Người có chưc vụ, quyền hạn là người
được giao mòt cóng vụ hay nhiém VI nhất định và co quyền híui nhất c nh

đối với công vụ nhiem vụ đó. Đây là những người mà quyền hạn của họ có
được do bó nhiệm, do bầu cử, do hợp đổng hoặc do mỏt hình thức khác. Khi
thực hien chức nang, nhiêm vụ được giao với bản tinh vụ lợi trong con
người đo, cùng với những điều kiẹn thuận lơi nhất định Liia hoan cánh
khách quan, họ đã sử dụng chức vụ, quyền han được giao đế thỏa mãn long
tham, tinh vu lợi của mình.


9

Đặc điểm thứ hai của tội phạm về tham nhủng là người phạm tội đã
lợi dụng hoác lạm dụng chưc vụ, quyền hạn mình đư'fc giao để lam trái
phap luật. Tren cơ sở quyén hạn đươc giao kẻ phạm tòi đã làm hoãc khong

10

giao để chiếm đoạt tài sản của nhà nươc, của tập thể, của ngư< 'I dân hoạc vì
lưi ích cá nhân khác. Đối tượng mà ngươi phạm tội hướng vao đó là các lợi
ích vật chất như tiển, vàng, kim khí quý, đá quý, giấy tờ co giá trị bằng tiền,
hoặc quyển tài sản. Ngoài ra, người có chức vụ, quyền hạn có thể nhận
những giá trị mang tính vật chất như nhưng chuyến thăm quan, du lịch, bô
trí vièc làm cho người nhà, người thân, cho người nhà đi đu học... Đac điểm
này của tội phạm vẻ tham nhũng chỉ được thể hiện rõ ừong Bộ luật hình sự
1999. Trong đầu những năm chín mươi, do khai niêm tham nhung vừa mới
xuất hiện ở nươc ta và chưa có cơ sở pháp lý rỏ ràng cho nên ngoài những
tội có tính chất vụ lợi, mỏt số tội không có yếu tố này vẫn được coi là t( I
tham nhung. Ví du: Tội thiếu trách nhi ỉm gây thiê‘. hại đến tài sản xã hội
chủ nghĩa (Điểu 139 Bộ luật hình sự 1985), tội cố ý làm trái các quy đinh
vể quản lý kinh tế của Nhà nước gây hậu quả ngh êm trọng (F*iều 174 B 'j
luật hình sự 1985). Trong nmmg tội này, đóng cơ tư lợi hoặc vụ lợi không
phải là dấu hiệu bãt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản.
Như vậy, có thổ nói trước khi ban hành Bô luật hình sự 1999 tội
phạm về tham nhủng bao gồm các tội thỏa mãn hai dấu hiéu cơ bản ỉà dấu
hiéu chủ thể (người có chức vụ, quyển hạn) và dấu hiệu mãt khách quan (lơi
dung chức vụ. quyền hạn gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, lợi ích công
dân). Dấu hiêu vê măt ch quan (đông cơ, mục đích tư lợi) đã được chú ý
nhưng chưa cho là bắt buộc. Càng về sau, cùng với thi-: tiễn đấu tranh
chống tham nhủng, quan niệm vể tham nhũng càng được hoàn thiè-1 và dấu
hiẻu vể măt chủ quan được đưa vào để hoàn thién khí 1 mcm này.
Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sư nám 1985 và tại các Điều 279, 280
Bộ luât hình sự năm 1999 chỉ coi tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là
của hối lộ. Như vậy, Bộ luat hình sự nước ta không coi Ini ích tinh thần là
của hôi lò. Trong cuốn Bình luận khoa hoc Bộ luầt hình sự của Viện Nghiên
cứu nha nước và pháp luật cúng cho rằng lợi ích tinh thản như khen ngợi

là bằng cách lợi đụng sơ hở trong quản lý, kẽ hở ừong pháp luật và cả băng
su vi phạm pháp luật nữa. Sự giàu có một cách phi pháp cúa nhỉr'ig người
này dấn đến hâu quả, tác hai vò cùng nghièm trọng là làm kìm hãm sư phát
triển kinh tê của đất nước, làm suy yếu bo máv Đang và Nhà nước, làm suy
giảm lòng tin của nhân dân trươc Đảng và Nha nước, đòng thời một bo
phận khỏng nhỏ cán bo, đang vièr suy thoái vẻ cư tường chính trị, đao đưc,


12

lối sống... tất cá nhưng hậu quả đó đân đến một kết quả chung là sẽ dấn làm
sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang cố găng xây dựng.
Tệ nạn tham nliùng này phát triển rất manh trôn tất cả các lĩnh vực
của đời sống xă hội VỚI quy mô lớn, tính chất và mức độ rất nguy hiểm, và
được xem như mòt hiểm họa đối với sự tổn tí và phát triển của đất nước,
nhưng việc điểu tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này ở các cơ quan thực thi
pháp luât hàng năm văn giữ ở mức độ hết sức khiêm tốn do những nguyèn
nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Từ nhiếu năm nay, Đảng ta đả
nhân định tệ tham nhũng quan liêu đang là một nguy cơ lớn c ĩn trơ cồng
việc đổi mới của cách mạng nước ta. Để ngán chán và bài trừ "quốc nạn"
này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiẻu Nghị quyết, chỉ thi quan trọng
(Chỉ thị số 64/CT-TƯ ngày 20/11/1992 của Bộ Chính trị về tiếp tục ngân
chàn và bài trừ tham nhũng, buôn lặu; Nghi quyết số 14/NQ-TƯ ngày
15/05/1996 của Bộ Chính trị về tăng cường tổ chức tb> rc hiện Nghi quyết số
14 của Bộ Chính trị về đấu tranh chống tham nhũng; Pháp 1< ìh chống tham
nhũng ngày 26/02/1998... Gần đây tại Vàn kjên Đại hội Đảng VIII và đãc
biệt là trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần IX năm 2001
trong phần nhân đ;*ih vể tình hình đất nước 5 nãm qua có chỉ rõ: 'Tình
trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính tr


manh được. Như vậy, nếu tội ph ưn vể tham nhũng phat trién trong tình
trạng không kiểm soát được, thì nó có ảnh hưởng gì đối với nền kinh tế.
Vấn đề là ở chỗ, khi mà tệ nạn tham nhũng diễn ra lan tran thì các nguòn
vật chất được luân chuyển trong xã hội không diễn ra theo đúng quy luật
của nó. Sự luân chuyển trái quy luật này thể b’ện ra ben ngoài đời sống của
xã hội trong các hòạt động như sản xuất, kinh đoanh của đoanh nghiệp, tổ
chức cá nhân; trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính c a doanh
nghièp, tổ chưc, ca nhân với nhà nước... Quy lịnh của Luật hình sự về tội
phạm về tham nhũng còn có vai ưò bảo vệ tài sản cửi I nhà nước, t 'P thể, tài
sản và quyển, lợi ích hợp pháp của cong dân. Bằng cẳc quy định của Luật
hình sự về trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm vể loại tội này, Luật
hình sự c< vai trò quan trọng trong vièc bảo vê quyèn sở hữu tài san.
Ngoài ra. Luât hĩnh sự còn có vai trò là công cụ thể chế hoa đường
lối, chính sẩch của Đảng đối với các hẫnh vi tham nhũng thành pháp luật.


14

Thong qua viéc thực thi các quy định này của pháp luat trẽn thực tế mà
Đảng ta nhặn rõ được đương lối, chính sách đo đã phù hợp vơi thực tế hay
chưa, từ đó có đươc chinh sach mới đối với loai tội phạm nay cho phù hợp
với thực tế.
Bở luật hình sự được Quốc hói ban hành ngày 27/06/1985 và có
hièu lực từ ngày 01/01/1986, qua các lần s a đổi ngày 28/12/1989, ngày
12/08/1991, ngày 22/12/1992, ngày 10/05/1997. Qua bôn lần s a đổi, trước
khi có Bộ luãt hình sự năm 1999 thì các tội phạm về tham nhũng bao gồm
các tội sau:
- Tội tham ồ tài sán xã hội chủ nghĩa (Điều 133 Bò lu ìt hình sự 1985);
- Tộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội
chủ nghĩa (Điểu 134a Bộ luật hình sư 1985);

hình sự);
- Tội lợi dụng chức vu, quyển han trong kht thi hanh công vu (Điều 281
Bộ luât hình sư);
- Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282 Bộ ĩuật hình sự);
- Tội lợi đụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác
để trục lợi (Điều 283 Bộ luật hình sư);
- Tội giả mạo trong cồng tác (Điểu 284 Bộ luật hình sự).



Như vây, thông qua các quy đinh về chính sách hình Si' đối với
người có hành vi tham nhũng, luàt hình sự gop phần quan trọng vào việc t
phi ng và chống tệ nan tham nhũng, gop phần xây dung m*»t xã hội ổn định,
phát triển. Mặt khác, đay cũng được coi là nhiệm vụ cấp thiết và đăc biẽt
quan trọng của toàn Đảng và toan dan ta trong giai đoạn hiên nay - giai
đoan xay dưng Nt [ nước cua dân, do dân và vì dan.


16

1.3.

LƯỢC KHẢO VỂ CAC TỘI PHẠM VỂ THAM NHŨNG TRONG

LUẬT HÌNH S ự VI' T NAM TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT HÌNH s ự NẢM 1999

1.3.1.

Cac tội phạm về tham nhùng trong Luat hình sự Việt


của nhân dân. Chẳng hạn, Điều 206 quy định những quan thu thuê khòng
theo ngạch đã định thu, lại giấu bơt số thuế thì cũng coi như tòi g iấu đồ vật
còng, nếu thu them thuế để làm c a rièng thì tỏi củng như thế... Nhom ba:
Lợi dụng chức quyển để chiếm đoạt dân đinh hoẳc sử dụng sức lao động
của dân định làm việc cho mình trai phap luật. Ví đụ Điều 166 quy đmh cac
quan quản giam tự tièn đem đân đinh nói dối là quân lĩnh hay quan khach
để giấu giếm làm việc riêng trong nha thì phải biến hai tư và bãi chức... Sau
này, Phan Huy Trú nhân xét "hình luàt c a nha Lý thì lỗi ở khoan rung,
hình luật của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khăc". Còn đến nhà Lê thì s I cũ
khen rằng "Thật là cái mẩu mực vể trị nước, cai khuỏn phép để buộc dân”.
Trong cac Bộ luat thời Hồng Đức đã đat ra những hình phíit kha
nghiêm khấc đối với tội phạm về tham nhũng. Ví d ” Điều 138 nói về viêc
"quan lại án hối lộ" ghi rằng: quan ty lam trái phap ỉuàt mà ăn hối ló từ
1 đến 9 quan thì xử tội biếm hay bãi chức, từ 10 quan đến 19 quan thì xử tội
đồ hay tội lưu, từ 20 quan trở lên thì xử tội chém...
Những cóng than, quy thần cung những người có tài được dự vào
hàng bát nghị mà ăn hói lộ từ ỉ đến 9 quan thì xử phạt tién 50 quan, từ 10
quan đến 19 quan thì xử phạt tiền từ 60 đến 100 quan, từ 20 quan trở lên
thì bị xứ tội đỏ, những tiền án hối lộ xử phạt gấp đoi và được rmp vào khò'.
Nói chung, trong nói dung Bò luật Hồng Đức gồm 13 chương chia
làm 6 quyển thì có 78 điều luật có quy định hành vi liên quan đẽn tham
nhũng như tòi đem bán các vật dụng trong cung cam (Điều 203); chiếm
ruong đất công quá hạn định (Điều 343); đưa hoi ló (Điều 140); quan lại tự
tiên lấy của dân để lam của rièng (Điều 639)...
Từ thế kỷ XVI đến thế kỹ XVIII ỉ'à thời kỳ nói chiến phan liệt. Triều
Lê mất dần vai trò lịch sử, đất nươc bước vào thơi kỳ h n loan đưa đẻn các
tàp đoàn phong kien tranh gianh quyen lực. Xung đột khoe liôt Trinh Nguy* n
* í*-" ■?'?-&!
V' . “ am_
;

bảo vệ chế độ đãc lơi, đãc quyền của giai cấp quan lại, quý tộc cầm quyền.
1.3.2. Các tội phạm về tham nhũng từ nãm 1945 đến năm 1985
Cuộc cách mạng do toàn Đảng, toàn dân ta tiến hành đả giành được
thắng lợi. Miển Bấc hoàn toàn được giải phóng và tiến hành xây dựng nền
dân chủ cộng hòa và tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
để hoàn toàn thống nhất đất nước. Với tình hình đó mác dù Nhà nước dân
chủ cong hòa mới thành lập phải giải quyết rất nhiều công việc đối nội và
đối ngoại của đất nước, chống thù trong giặc ngoài, nhưng nhận thức rõ
được muốn xây đựng được chính quyền trong sạch vững manh và củng cô
nèn độc lập vừa giành được, thì phải chú trong việc báo vệ tài sản xã hội
chủ nghĩa, phòng ngừa trộm cấp, cướp đoạt tài sán của nhân dân, và đặc
biệt phái chống tham nhũng, vì theo quan điểm của Hổ Chí Minh "Tham ô


19

là trơm cướp...". Trên cơ sở nhân thức như vây, Đáng và Nhà nước ta đã ban
hanh rất nhiều van bản để bảo vẻ tài sán nhà nươc, tài sản nhân dãn, bảo vệ
hoạt đong đúng đắn của các cơ quan, tổ chưc ngân ngưa hành vi vi phạm
phap luật của những can bò, đảng viên - những người là "cóng bộc cùa dãn,
là đầy tớ của dân". Trong thời gian này, các tội phạm vể tham nhũng nhìn
chung chưa được quy định một cách hoan chỉnh, đầy đủ trong một văn bản.
Tuy nhién, chúng ta có thể kể đến mòt số văn bản pháp luàt của Nhá nước
ta được ban hanh trong thời kỳ này nhăm đấu tranh chống lại tỗ nạn này
như: Sắc luật số 233/SL ngày 07/06/1946 vể trừng trị cắc tói hối lộ, phủ
lạm, biển ử I công quỹ. Trong sắc lênh này đã chỉ rõ: Tội đưa hối lộ cho
công chức, tội công chức nhận hôi lộ... bị phạt từ năm năm đến hai mươi
năm và phạt bac gấp đôi tang vật hối lộ..."; Pháp lẽnh số 149/LCT trừng bị
các tôi xâm phạm tài sản XHCN; ngay 21/10/1970 Pháp lênh trímg trị các
tòi xâm phạm tài sản rièng của công dân ngày 21/10/1970; Thông tư số

ky này chưa đề cập đến khái nièm tội phạm tham nhũng, nhưng các quy
định của pháp luật đã thể hiện quan điểm của Nhà nước ta về chính sách
hình sự đối với các tội phạm vé tham nhũng.
1.3.3. Các tội phạm về tham nhùng trong Bộ luàt hình sư nam 1985
Từ khi Nhà nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tập trang
quan liêu sang nền kinh tế thi trường, phat triển theo đinh hướng XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, thì cac tội pham vể tham nhũng
phát triển ngày càng phức tạp, nghiêm trọng về tính chất, mức độ và cả hậu
quả mỗi ngày một nghiêm trọng hơn. Các văn bản và các biện pháp xử lý
loại tội phạm này vần chưa phat huy hết hiệu quả, chưa đap ứng được các
yêu cầu của thực tiễn. Chính vì vảy, Bộ luật hình sư được Quốc hội ban
hanh ngay 27/09/1985 và cò hièu lực từ ngày 01/01/1986, qua các lần sửa
đổi ngày 28/12/1989, ngay 12/08/1991, ngày 22/12/1992, ngày 10/05/1997.
Mac dù BLHS năm 1985 không quy định cụ thể tội phuíĩi về tham nhũng,
nhưng qua cac vãn bản hướng dẫn ap dụng BLHS và pháp lénh chống tham
nhũng thì các tội phạm tham nhung bao gồm:


21

- Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 133 Bộ luật hình sự 1985);
- Tội lợi đụng chức vu, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội
chú nghĩa (Điều 134a Bộ luãt hình sự 1985);
- Tội lợi đụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội
chủ nghĩa (Điều 137a Bộ luật hình sự 1985);
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công đân
(Điểu 156 Bộ luật hình sự 1985);
- Tội lập quỹ trái phép (Điều 175 Bộ luật hình sự 1985);
- Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ (Điều 221
Bộ luật hình sự 1985);


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status