MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ngân sách nhà nước (NSNN) là dự toán hàng năm về toàn bộ các
nguồn tài chính được huy động cho Nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính
đó nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước do Hiến pháp qui
định.
Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong
hệ thống tài chính quốc gia. NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng qui mô
đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Qui mô và cơ cấu thu
chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ cung cầu trên thị trường và thông
qua đó tác động đến nền kinh tế. Thông qua việc phân bổ NSNN, Nhà nước
thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế
nhằm phát triển bền vững và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
(KTXH). NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc quản lý, kiểm
soát nền kinh tế. NSNN trực tiếp đầu tư phát triển (ĐTPT) nguồn nhân lực, trí
lực (giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học...) thực hiện nhiệm vụ phát
triển xã hội.
Điều đó cho thấy việc phân bổ sử dụng có hiệu quả vốn NSNN của
quốc gia nói chung và của các địa phương nói riêng có ý nghĩa hết sức quan
trọng giúp Chính phủ và chính quyền các cấp thực hiện tốt các mục tiêu tăng
trưởng KTXH của mình.
Luật NSNN (2002) trao thêm quyền tự chủ về ngân sách (NS) cho các
địa phương. Theo đó, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp
quản lý NSNN cho chính quyền các cấp; xây dựng định mức phân bổ ngân
sách (ĐMPBNS) và mức phân bổ NS cho các ngành, các cấp. Các ĐMPBNS
1
cho NS cấp huyện, xã được xây dựng và áp dụng cho mỗi giai đoạn ổn định
NS (3-5 năm). Việc xây dựng đầy đủ các ĐMPBNS ở tất cả các lĩnh vực là
việc làm hoàn toàn mới.
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc nào đề
cập đến phương pháp phân bổ NSNN ở địa phương. Chưa có tài liệu nào có
- Đánh giá thực trạng công tác phân bổ NSNN và những kết quả đạt
được, những bất cập, tồn tại trong việc sử dụng NSNN giai đoạn 2001 - 2006.
- Xác định định hướng phân bổ NSNN cho các ngành; xây dựng các
căn cứ, tiêu chí, phương pháp phân bổ.
- Thông qua công tác phân bổ NS để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch
KTXH gắn kết kế hoạch với NS nhằm triển khai thực hiện.
- Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về các giải pháp nhằm đưa
kết quả nghiên cứu vào thực tiễn phân bổ NSNN ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Tạo
điều kiện thuận lợi trong quá trình phân bổ, giám sát, quyết định NSNN của
HĐND, UBND, cơ quan tài chính các cấp.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là lý luận và thực tiễn công tác phân bổ NSNN
ở Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là công tác phân bổ NSNN chi
cho ĐTPT, chi thường xuyên giai đoạn 2001 - 2006; các giải pháp hoàn thiện
công tác phân bổ NSNN tỉnh nhằm thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởng của
Tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2007 - 2010.
4. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 4 chương:
3
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ngân sách nhà nước và phân bổ
ngân sách nhà nước.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng công tác phân bổ ngân sách nhà nước tỉnh giai
đoạn 2001 - 2006.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác phân bổ ngân sách nhà nước
nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội giai đoạn 2007 -
2010.
4
- Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài
nước.
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức,
cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ
quan, đơn vị nhà nước.
- Thu từ Quỹ dự trữ tài chính; thu kết dư NS.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: các khoản di sản
nhà nước được hưởng; các khoản phạt, tịch thu; thu hồi dự trữ nhà nước; thu
chênh lệch giá, phụ thu; thu bổ sung từ NS cấp trên; thu chuyển nguồn NS từ NS
năm trước chuyển sang.
Qua cách phân loại này giúp cho việc xem xét từng nội dung thu theo tính
chất và hình thức động viên vào NS, đánh giá tính cân đối, bền vững, hợp lý về cơ
cấu của các nguồn thu. Trên cơ sở đó giúp cho việc hoạch định chính sách cũng
như tổ chức điều hành NS phù hợp với các mục tiêu của Nhà nước trong từng thời
kỳ [9, 25].
1.1.2.2 Nội dung chi ngân sách nhà nước
1.1.2.2.1 Chi đầu tư phát triển
Căn cứ mục đích của các khoản chi, chi ĐTPT chia thành:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KTXH không có khả
năng thu hồi vốn. Các công trình kết cấu hạ tầng KTXH thuộc đối tượng đầu tư
bằng vốn ĐTPT của NSNN gồm các công trình giao thông; các công trình đê
điều, hồ đập, kênh mương; các công trình bưu chính viễn thông, điện lực, cấp
6
thoát nước; các công trình giáo dục, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao,
công sở của các cơ quan hành chính nhà nước, phúc lợi công cộng...
- Chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ
chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Chi dự trữ nhà nước là khoản chi để mua hàng hóa, vật tư dự trữ nhà nước
có tính chiến lược của quốc gia hoặc hàng hóa, vật tư dự trữ nhà nước mang tính
phát triển KTXH của Nhà nước quyết định mức và thứ tự ưu tiên chi NSNN cho
ĐTPT. Chi ĐTPT gắn liền với kế hoạch phát triển nhằm bảo đảm phục vụ tốt nhất
cho việc thực hiện kế hoạch phát triển KTXH và tăng hiệu quả chi ĐTPT.
1.1.2.2.2 Chi thường xuyên
a. Phân loại các khoản chi thường xuyên theo lĩnh vực
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội: hoạt
động sự nghiệp văn hóa xã hội thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN gồm
các sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao,
thông tấn, báo chí, phát thanh - truyền hình,...
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế: sự nghiệp giao thông, nông
nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp và lâm nghiệp; sự nghiệp khí tượng, thủy văn, đo vẽ
bản đồ, định canh, định cư và kinh tế mới…
- Chi cho quản lý hành chính nhằm duy trì hoạt động của bộ máy quản lý
hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể.
- Chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội
Chi cho hoạt động của các cơ quan quân sự, công an, biên phòng các cấp
và các hoạt động đảm bảo trật tự an toàn xã hội theo phân cấp.
- Chi khác
8
Ngoài các khoản chi thường xuyên lớn đã được sắp xếp vào 4 lĩnh vực trên,
còn có một số khoản chi khác cũng được xếp vào cơ cấu chi thường xuyên như
chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước, chi hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội
(BHXH), phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án
nhà nước...
Việc phân loại các khoản chi thường xuyên theo từng lĩnh vực nhằm phục
vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình sử dụng NSNN. Trên cơ sở đó, giúp cho
việc hoạch định các chính sách chi NSNN hay hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp
đối với mỗi khoản chi thường xuyên.
b. Phân loại các khoản chi thường xuyên theo nội dung kinh tế
Việc phân loại này nhằm phục vụ cho việc lập dự toán, quản lý việc phân
chất lượng tài sản của đơn vị đang quản lý và khả năng vốn NSNN có thể dành
cho nhu cầu chi này.
- Các khoản chi khác
Chi hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, chi tiếp khách, đoàn
ra, đoàn vào, điện, nước,… có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới
ở 3 nhóm mục trên [9, 10].
c. Đặc điểm của chi thường xuyên
+ Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định rõ
nét do những chức năng vốn có của Nhà nước như tổ chức quản lý các hoạt động
KTXH, đảm bảo an ninh trật tự… đều đòi hỏi phải có nguồn kinh phí ổn định để
duy trì. Tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong
hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận thuộc guồng máy của Nhà nước phải thực hiện.
+ Thứ hai, xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng
cuối cùng thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác
10
động trong thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Nếu chi ĐTPT
nhằm tạo ra các cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết thúc đẩy sự phát triển của nền
KTXH trong tương lai, thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu
chi để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý KTXH ngay trong năm
hiện tại.
+ Thứ ba, phạm vi, mức chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu
tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng
các hàng hóa công cộng. Một bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có
hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó cũng được giảm bớt và ngược lại. Quyết
định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức cung ứng các hàng hóa
công cộng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên
của NSNN [9].
1.1.3 Cơ cấu ngân sách nhà nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Với vai trò của mình, NSNN là công cụ của Nhà nước để cùng với thị
trường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi thành
cung cầu trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế.
Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu
nhiều hay ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường. Nếu
các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi, thì chi tiêu của nhà nước tăng sẽ
tác động trực tiếp làm gia tăng tổng cầu của xã hội. Đến lượt nó, sự gia tăng của
tổng cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua
của xã hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền
kinh tế, tăng GDP và tăng hiệu quả KTXH; mặt khác, mức dư cầu trên thị trường
ở chừng mực nhất định làm tăng giá tiêu thụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác
động điều tiết mức tiêu dùng hợp lý hơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản
12
xuất, tăng đầu tư trong nền kinh tế.
Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững,
phù hợp với quy hoạch của tỉnh, không ngừng nâng cao hiệu quả KTXH.
Mục tiêu điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Nhà nước là làm tăng hiệu quả
KTXH, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh đất nước. Nếu việc điều chỉnh cơ cấu
kinh tế nặng vì mục tiêu xã hội, Nhà nước thực hiện chính sách tài khóa “nới
lỏng”, mở rộng đầu tư từ nguồn NSNN hỗ trợ, bao cấp doanh nghiệp hoặc nâng
mức động viên để Nhà nước có đủ nguồn lực thực hiện chính sách xã hội.
Với tư cách là công cụ kinh tế quan trọng, bằng nguồn lực tài chính của
mình, Nhà nước sử dụng NSNN hỗ trợ gián tiếp hoặc trực tiếp đầu tư các ngành
nghề cần phát triển, tác động vào nền kinh tế nhằm xác lập cơ cấu kinh tế theo
mục tiêu hoạch định. Sự tác động của NSNN có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng hình thành cơ cấu kinh tế mới.
Mặt khác, thông qua việc phân bổ sử dụng NSNN, Nhà nước tác động vào
các mối quan hệ trong nội bộ ngành, từng lĩnh vực, quan hệ giữa các ngành, các
lĩnh vực, giữa sản xuất và lưu thông, giữa các khu vực, các miền, các vùng của đất
nước để duy trì các cân đối lớn trong nền kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý
nhằm làm tăng hiệu quả KTXH.
hoạt động của doanh nghiệp, Nhà nước tác động mạnh mẽ vào sự cạnh tranh và
phát triển của doanh nghiệp theo định hướng của mình.
Thứ sáu, NSNN trực tiếp ĐTPT nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục, đào tạo,
y tế, văn hóa, khoa học...) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích của các thành viên
tham gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn NS được
14
ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếm khuyết của thị
trường, thực hiện công bằng xã hội.
Thông qua việc đầu tư trực tiếp của NS cho các sự nghiệp văn hóa, y tế,
giáo dục đào tạo, khoa học,... Nhà nước bảo đảm sự phát triển toàn diện của quốc
gia, giải quyết các vấn đề thuộc phúc lợi công cộng và đảm bảo xã hội, thực hiện
các hoạt động đối ngoại và nghĩa vụ quốc tế [1, 24, 35].
1.2 QUI TRÌNH PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý NS là quá trình nhà nước trung ương và cấp tỉnh phân
giao những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho các cấp chính quyền
ở địa phương trong hoạt động quản lý thu chi NSNN.
Phân cấp quản lý NSNN được xem như là một trong những biện pháp quản
lý NSNN. Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia trách
nhiệm, quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chính quyền
nhằm làm cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quả cao. Phân
cấp quản lý thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung
dân chủ.
Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN là phân
định cụ thể nhiệm vụ thu chi cho NS mỗi cấp.
+ Phân cấp quản lý thu NSNN:
Tập trung đại bộ phận nguồn thu lớn, ổn định cho NSTW, đồng thời tạo
cho NSĐP có nguồn thu gắn với địa bàn. Trên tinh thần đó, nguồn thu được chia
thành 3 loại:
NSTW tập trung đại bộ phận nguồn thu của NS quốc gia và thực hiện các
nhiệm vụ chi chủ yếu của cả nước. Các dự án ĐTPT kết cấu hạ tầng KTXH có tác
16
động đến cả nước, các chương trình, dự án quốc gia, chính sách xã hội quan trọng,
điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối
ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi NS đều do NSTW
đảm bảo.
NSĐP được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm
vụ phát triển KTXH, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi
quản lý ở địa phương mình.
Vị trí độc lập tương đối của nó được thể hiện qua cả ba khâu của chu trình
NS: lập, chấp hành và kế toán, quyết toán NS. Trong phạm vi phân chia nguồn
thu, nhiệm vụ chi được ổn định từ ba đến năm năm, các địa phương được chủ
động tìm các biện pháp nhằm tăng thu hợp pháp để có thêm nguồn vốn thúc đẩy
phát triển KTXH, tăng khả năng tự cân đối NS.
- Thứ ba, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN.
Để giảm bớt khoảng cách giàu, nghèo giữa các vùng, các địa phương trong
quá trình phân cấp cần đảm bảo cơ chế điều hòa, hỗ trợ giữa trung ương với địa
phương, giữa NS cấp trên với NS cấp dưới. Bổ sung cân đối NS và bổ sung có
mục tiêu là hai phương thức tài trợ mà chính quyền cấp trên thường sử dụng đối
với chính quyền cấp dưới.
Ngoài ra, việc thúc đẩy sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền thông qua
chi NSTW vào đầu tư cơ sở hạ tầng KTXH cũng được sử dụng như là biện pháp
bổ trợ cho hai phương thức trên [2, 9, 16, 18, 25, 40].
1.2.2 Lập dự toán, phân bổ ngân sách nhà nước
1.2.2.1 Lập dự toán, phân bổ vốn đầu tư phát triển
1.2.2.1.1 Căn cứ lập, tổng hợp và trình phê duyệt dự toán
Hàng năm, căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư hướng
dẫn, thông báo số kiểm tra về dự toán NS của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các địa phương thực hiện thông báo số
cấp quyết định. Sở Tài chính phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc dự kiến
phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do cấp tỉnh quản lý báo cáo UBND cấp tỉnh
quyết định. Phòng Tài chính huyện chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng
của huyện tham mưu cho UBND cấp huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án
do huyện quản lý. Bộ máy quản lý tài chính NS ở xã tham mưu cho UBND cấp xã
lập phương án phân bổ vốn đầu tư cho các dự án thuộc phạm vi cấp xã được phân
cấp quản lý.
Sau khi phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án, các Bộ và UBND tỉnh phải gửi
Bộ Tài chính. UBND cấp huyện gửi cho Sở Tài chính, UBND cấp xã gửi cho
Phòng Tài chính để kiểm tra các quy định sau:
- Đảm bảo các điều kiện của dự án được ghi vào kế hoạch đầu tư hàng
năm.
- Sự khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu vốn
trong nước và vốn nước ngoài, cơ cấu ngành kinh tế, mức vốn cho các dự án quan
trọng của Nhà nước.
- Tuân thủ đúng các quy định về đối tượng đầu tư và việc sử dụng từng
nguồn vốn đầu tư với các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn theo Nghị quyết của
Quốc hội và quyết định của Chính phủ [9, 25].
1.2.2.2 Lập dự toán, phân bổ chi thường xuyên
1.2.2.2.1 Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên
Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận hết sức quan trọng của dự toán
chi NSNN. Vì vậy, lập dự toán chi thường xuyên phải dựa trên những căn cứ sau:
- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc bộ
máy quản lý Nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, quốc phòng – an ninh và các
hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn. Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc
lập dự toán chi thường xuyên của NSNN đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ
19
mà NSNN phải hướng tới. Trên cơ sở đó xác lập các hình thức, các phương pháp
phân bổ vốn của NSNN vừa tiết kiệm, vừa đạt mục tiêu đã đặt ra.
- Các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KTXH có liên quan trực tiếp đến việc
khu vực của IMF tại Singapore (STI) hỗ trợ cho Bộ Tài chính Việt Nam, tháng
9/1999 đã đề cập đến phương pháp phân tích số liệu thực tiễn qua một giai đoạn
để xác định chỉ số gia tăng bình quân qua các năm, nhằm lựa chọn mức dự đoán
cho từng chỉ tiêu thu, chi NSNN năm dự toán. Tuy nhiên, muốn tăng tính chính
xác của chỉ tiêu dự đoán cần phải kết hợp với nhiều tham số khác nữa. Chính vì
vậy, việc sử dụng và tôn trọng tất cả các căn cứ là yêu cầu tất yếu khi xây dựng dự
toán chi thường xuyên của NSNN [9, 25].
1.2.2.2.1 Các phương pháp xác định dự toán chi thường xuyên của ngân sách
nhà nước
Có 2 phương pháp tính để xác định dự toán chi thường xuyên của NSNN:
a. Phương pháp tính tổng hợp
Theo phương pháp này thì số dự toán chi thường xuyên cho mỗi loại
hình đơn vị sẽ được xác định dựa vào định mức chi tổng hợp (hay định mức
phân bổ) dự kiến cho một đối tượng và số đối tượng bình quân được tính định
mức. Tổng dự toán chi thường xuyên cho các loại hình đơn vị sẽ là số chi
thường xuyên dự toán của NSNN. Có thể mô tả phương pháp này theo công
thức sau:
∑
=
×=
n
i
iiTX
DMC
1
)(
Trong đó: C
TX
: số chi thường xuyên dự toán của NSNN;
M
CNi
x S
CNi
)
Trong đó:
C
CN
: số dự toán chi cho CCVC của NSNN.
M
CNi
: mức chi bình quân một CCVC dự kiến năm dự toán thuộc ngành
thứ i.
S
CNi
: số CCVC bình quân dự kiến năm dự toán thuộc ngành i.
22
M
CNi
thường được xác định dựa vào mức chi thực tế của năm báo cáo, đồng
thời có tính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lương, phụ cấp và một số
khoản khác mà Nhà nước dự kiến thay đổi trong kỳ kế hoạch.
S
CNi
= S
CNđn
+ S
CNtg
- S
CNgi
Trong đó:
C
: số chi nghiệp vụ chuyên môn năm dự toán ngành thứ i.
C
VLDC
: số dự kiến chi về vật liệu, dụng cụ cho nghiệp vụ chuyên môn năm
dự toán ngành thứ i.
C
NCKH
: số dự kiến chi về nghiên cứu khoa học hay thuê nghiên cứu khoa
học cho nghiệp vụ chuyên môn năm dự toán ngành thứ i.
C
ĐPTP
: số dự kiến chi về đồng phục, trang phục,… cho nghiệp vụ chuyên
môn năm dự toán ngành thứ i.
C
K
: số dự kiến chi về các khoản khác cho nghiệp vụ chuyên môn năm dự
toán ngành thứ i.
i
n
NV NV
i 1
C C
=
=
∑
23
Thứ ba, tính dự toán chi mua sắm, sửa chữa tài sản
Hằng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp của các tài sản dùng cho
các hoạt động HCSN nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí cần có để mua sắm
i
: nguyên giá TSCĐ hiện có của ngành (hoặc đơn vị) thứ i.
T
i
: tỷ lệ % áp dụng để xác định kinh phí dự kiến chi mua sắm, sửa chữa
tài sản của ngành (hoặc đơn vị) thứ i.
Thứ tư, tính dự toán chi các khoản chi khác
Trước hết, xác định số chi cho nhu cầu hoạt động quản lý chung của đơn
vị mà ta thường gọi là quản lý hành chính trong mỗi cơ quan, đơn vị đó.
24
Với đơn vị thuộc phạm vi bao cấp của NSNN về công tác quản lý hành
chính thì kinh phí chi tiêu cho quản lý hành chính bao gồm: chi trả tiền điện, nước
sử dụng tại văn phòng cơ quan, chi trả các dịch vụ về thông tin liên lạc, chi giao
dịch, tiếp khách, chi hội nghị sơ kết, tổng kết, lễ tân, khánh tiết, v.v… Các khoản
chi trên liên quan nhiều đến hoạt động và tổ chức của mỗi loại hình đơn vị. Vì
vậy, việc xác định số chi kinh phí cho quản lý hành chính năm dự toán thường căn
cứ vào số CCVC bình quân và mức chi quản lý hành chính bình quân cho một
CCVC kỳ kế hoạch.
C
QL & khác
=
QLi
M
x
CNi
S
Trong đó:
QLi
M
: mức chi quản lý hành chính bình quân 1 CCVC năm dự toán
: số dự toán chi thường xuyên NSNN.
25