Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Khoa: Tài Chính Doanh Nghiệp
Bộ môn: Tài chính quốc tế
Đề tài: Kiểm định sự tồn tại UIP giữa thị
trường Mỹ và Việt Nam
GVHD: Quách Doanh Nghiệp
Danh sách nhóm 13:
1.Nguyễn Thị Minh Trang – NH4
2.Phan Nguyễn Thị Kim Ngân- NH4
3.Nguyễn Ngọc Khiêm Ty-NH4
4.Nguyễn Hồng Diễm Phúc-NH4
5.Trần Thị Thục Quyên- NH4
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Ngày nay các thị trường tài chính hoạt động rất hiệu quả. Các luồng vốn ngày
càng được tự do di chuyển giữa các quốc gia. Luồng chu chuyển vốn giữa các quốc
gia phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố lãi suất. với các yếu tố không đổi, khi lãi suất của 1
đồng tiền tăng, làm cho có luồng vốn chảy vào, khiến nội tệ lên giá, ngược lại khi lãi
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 3
suất của 1 đồng tiền giảm, làm cho có luồng vốn chảy ra khiến nội tệ giảm giá.
Qua phân tích cho thấy sự biến động của tỉ giá trong ngắn hạn phụ thuộc vào lãi
suất, tuy nhiên mối quan hệ giữa tỉ giá và lãi suất về mặt lượng hóa là chưa rõ ràng.
Việc nghiên cứu về học thuyết ngang giá lãi suất sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn
đề này. Học thuyết này gồm:
• Lý thuyết ngang giá lãi suất có phòng ngừa (IRP)
• Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP)
PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
1.1 Khái niệm cơ bản.
1.1.1 Hoạt động Arbitrage quốc tế.
UIP là một trong những lý thuyết quan trọng trong lĩnh vực tỷ giá hối đoái. Dựa
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 5
vào lý thuyết này, sự thay đổi kỳ vọng của tỷ giá hối đoái giữa 2 đồng tiền tương ứng
với sự chênh lệch trong lãi suất của 2 quốc gia. Theo UIP, nó là không thể khai thác sự
khác biệt giữa lãi suất theo thời gian. Nói cách khác, dự kiến lợi nhuận của các nhà
đầu cơ vay vốn trong nước với lãi suất thấp và gửi tiền tệ với lãi suất cao có thể sẽ là
hoàn toàn bù đắp bởi sự mất giá của tiền tệ lãi suất cao. Theo UIP, quá trình này là khả
năng kết thúc với một sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái, với sự thay đổi sẽ theo hướng
từ sự khác biệt giữa lãi suất, như là các biến độc lập và tỷ giá hối đoái là biến phụ
thuộc.
Để hình thành thuyết UIP ta đưa ra 5 giải thiết:
1. Không tồn tại chi phí giao dịch
2. Không tồn tại hàng rào chu chuyển vốn (thuế, quota…)
3. Kinh doanh tiền tệ quốc tế không chịu rủi ro quốc gia.
4. Các chứng khoán có chất lượng như nhau
5. Thị trường tiền tệ cạnh tranh hoàn hảo.
Với những giả thiết này cho thấy những tài sản ghi bằng ngoại tệ và ghi bằng nội
tệ có thể thay thế hoàn toàn lẫn nhau, nghĩa là không có bất cứ thay thế nào. Vậy lý
thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa được hình thành như sau:
Gọi:
• r
f
là tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài.
• i
h
là là lãi suất trong nước.
• i
f
là là lãi suất nước ngoài.
h
- i
f
.
Vậy: để có được sự cân bằng giữa lãi suất trong nước và đầu tư nước ngoài thì
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 6
sự thay đổi của ngoại tệ sẽ tương ứng với chênh lệch trong lãi suất.
Như vậy, lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa phát biểu rằng: tỷ giá
hối đoái sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất của hai quốc gia.
Lưu ý: lãi suất ở đây là lãi suất danh nghĩa.
1.2.2 Các dạng biểu hiện của UIP.
Gọi:
• S là tỷ giá giao ngay hiện tại.
• S
e
t
là tỷ giá giao ngay dự tính.
• R
T
= R là mức lãi suất/năm của đồng tiền nội tệ (định giá).
• R
C
= R
*
là mức lãi suất/năm của đồng tiền ngoại tệ (yết giá).
• Cho kỳ hạn 1 năm:
Dạng số tuyệt đối:
S
1
∆ S
t
e
=S
R−R
¿
n+ R
¿
Gần đúng:
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 7
∆S
t
e
=
R− R
¿
n
• Cho kỳ hạn t năm (t >1):
Dạng số tuyệt đối:
S
t
e
=S
∏
i=1
t
(1+ R
i
)
¿
=
S
1
e
−S
S
R−R
¿
=
S
e
1
S
−1
.
Nếu lấy quan hệ giữa VND và USD, ta có: Phương trình trên cho thấy: với các
nhân tố không đổi, khi tỷ giá giao ngay dự tính tăng, sẽ tạo áp lực tăng tỷ giá giao
ngay hiện hành. Điều này xảy ra là vì, khi tỷ giá dự tính tăng, tức S
e
(USD/VND) tăng,
nghĩa là USD dự tính là lên giá còn VND dự tính là giảm giá, làm cho các luồng vốn
đầu cơ sẽ chạy ra khỏi VND để đầu tư vào USD, dẫn đến tăng cầu USD trên thị
trường ngoại hối giao ngay, làm cho tỷ giá giao ngay hiện hành tăng. Như vậy, những
dự báo về tỷ giá giao ngay đã trở thành lực lượng thị trường ảnh hưởng đến tỷ giá giao
ngay hiện hành.
1.2.3 Hiệu ứng Fisher quốc tế.
Để chứng minh cho lý thuyết UIP, lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế (IFE –
International Fisher Effect) sử dụng lãi suất để giải thích tại sao tỷ giá hối đoái thay
đổi theo thời gian, nhưng nó có liên quan mật thiết với lý thuyết ngang giá sức mua vì
VND
là mức lãi suất đầu tư vào USD quy đổi thành VND.
• Tình huống 1: Nếu R
VND
<
R
USD
VND
R
VND
<n×
[
S
t
e
S
(
1+
R
USD
n
)
−1
]
Do R
VND
<
R
USD
VND
• Bước 5: Tại thời điểm đến hạn, thu lãi kinh doanh trên 1 VND đi vay (đơn vị:
VND), theo công thức:
Lãi = [gốc + lãi) đầu tư quy T] – [(gốc + lãi) đi vay bằng T]
Hoặc:
L ã i=
R
USD
VND
−R
VND
n
¿
S
t
e
S
(
1+
R
USD
n
)
−
(
1+
R
VND
n
)
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
• Tình huống 2: Nếu R
VND
>
R
USD
VND
Lập luận tương tự để đi đến kết luận: Nếu thị trường ở trạng thái R
VND
>
R
USD
VND
,
thì trạng thái này cũng chỉ là tạm thời; các lực lượng thị trường luôn có xu hướng làm
cho hai vế trở nên cân bằng trong dài hạn, tức R
VND
=
R
USD
VND
, đây chính là quy luật
ngang giá lãi suất UIP.
Kết luận: Với các giả thiết đã cho, thì các lực lượng thị trường luôn có xu hướng
làm cho lãi suất của các đồng tiền khác nhau là ngang nhau khi quy về một đồng tiền
chung.Như vậy, quy luật UIP là quy luật của thị trường làm cho lãi suất của các đồng
tiền trở nên ngang giá; do đó, UIP chính là quy luật 1 giá trên thị trường tiền tệ.
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 11
• Phân tích bằng đồ thị ngang giá lãi suất không phòng ngừa và hiệu ứng
Fisher quốc tế.
nước ngoài cao hơn tỷ suất sinh lợi có thể có trong nước. Nếu các dữ liệu thực tế được
tập hợp va ghi lại, và hầu hết các điểm đều nằm bên dưới đường hiệu ứng Fisher quốc
tế, điều này cho thấy rằng các nhà đầu tư trong nước có thể liên tục gia tăng thu nhập
từ đầu tư bằng cách mở ký thác ngân hàng ở nước ngoài. Các kết quả này bác bỏ lý
thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế.
Các điểm nằm phía trên đường hiệu ứng Fisher quốc tế thường phản ánh tỷ suất
sinh lợi từ ký thác nước ngoài thấp hơn tỷ suất sinh lợi có thể thu được trong nước.
Thí dụ, điểm H phản ánh lãi suất nước ngoài cao hơn lãi suất trong nước 3%. Tuy
nhiên, điểm H cũng cho thấy rằng tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ giảm giá 5% để bù
trừ nhiều hơn lợi thế lãi suất.
Một thí dụ khác, điểm J biểu thị 1 trường hợp mà 1 nhà đầu tư trong nước bị 2
trở ngại do đầu tư vào 1 ký thác nước ngoài. Thứ nhất, lãi suất nước ngoài thấp hơn lãi
suất trong nước. Thứ hai, đồng ngoại tệ giảm giá trong suốt thời gian cầm giữ ký thác
nước ngoài. Nếu các dữ liệu thực tế được tập hợp và ghi trên đồ thị, đa số các điểm
đều nằm phía trên đường hiệu ứng Fisher quốc tế. Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư
trong nước liên tục đạt được tỷ suất sinh lợi từ đầu tư nước ngoài thấp hơn từ đầu tư
trong nước. Các kết quả này bác bỏ lý thuyết hiệu ứng Fisher quốc tế.
Hình trên là 1 thí dụ về 1 tập hợp các điểm có xu hướng hỗ trợ lý thuyết hiệu ứng
Fisher quốc tế. Chúng cho thấy là tỷ suất sinh lợi từ đầu tư nước ngoài ngắn hạn tính
trung bình bằng với tỷ suất sinh lợi có thể đạt được trong nước. Lưu ý rằng mỗi điểm
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 13
riêng rẽ phản ánh 1 thay đổi trong tỷ giá hối đoái không bù trừ chính xác chênh lệch
lãi suất. Trong vài trường hợp, thay đổi tỷ giá hối đoái không bù trừ chênh lệch lãi
suất. Nói chung, các kết quả bù trừ nhau để chênh lệch lãi suất tính trung bình được bù
trừ bởi các thay đổi trong tỷ giá hối đoái. Như vậy, đầu tư nước ngoài tạo ra tỷ suất
sinh lợi tính bình quân bằng với tỷ suất sinh lợi từ đầu tư trong nước.
PHẦN 2. KIỂM ĐỊNH SỰ TỒN TẠI CỦA UIP TRONG NGẮN
HẠN.
2.1 Xây dựng phương trình ước lượng
) –
δ
t. t+k .
(1).
Ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) được thể hiện trong phương trình
trên khi phần
bù
rủ
i ro bằng 0, kết quả này phù hợp với giả định rằng các nhà đầu tư là
chấp nhận rủi ro. Trong trường hợp này thì biến động trong tỷ giá giao ngay kỳ vọng
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp
Trang 14
sẽ bằng với chênh lệch lãi suất hiện tại Tuy
nhiên,
phương
trình trên không thể được
kiểm định một cách trực tiếp vì không có số liệu tỷ giá giao ngay tương lai. Để các
nghiên cứu này khả thi thì UIP thường được kiểm định kèm theo kỳ vọng hợp lý trên
thị trường ngoại hối. Khi đó, giá trị tương lai của S
t, t+k
sẽ là giá trị kỳ vọng tại thời
điểm t cộng với môt sai số ký hiệu là:
S
t, t+k
= S
re
t,t+k
+
phải là một dự báo không thiên lệch trong sự biến động trong tỷ giá giao ngay trong
tương lai của đôla Mỹ hay không. Nếu đúng, các nhà kinh doanh chênh lệch sẽ không
có cơ hội kinh doanh kiếm lời do chênh lệch lãi suất. Và có nghĩa chính phủ không sử
dụng bất kỳ quyền kiểm soát nào và thị trường vốn cân bằng.
2.2 Kiểm định UIP giữa Việt Nam và Mỹ.
Kết Quả Eview:
GVHD: Thầy Quách Doanh Nghiệp