LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống giữa một sự chuyển đổi quan trọng liên quan đến cách
chúng ta sản xuất sản phẩm nhờ vào số hoá sản xuất. Sự chuyển đổi này mạnh mẽ đến
mức nó được gọi là Công nghiệp 4.0 (Industry 4.0) để đại diện cho cuộc Cách mạng
thứ tư xảy ra trong lịch sử phát triển sản xuất. Từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên
(cơ giới hoá bằng sự phát triển của động cơ hơi nước) đến dây chuyền sản xuất và lắp
ráp hàng loạt sử dụng điện trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư là sự tiếp nối từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba
với việc áp dụng máy tính, tự động hoá, và các hệ thống tự vận hành thông minh được
tạo ra bởi sự tiến bộ của khoa học dữ liệu và máy móc.
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã có một sức ảnh hưởng rộng lớn, thay đổi
bộ mặt của hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là ngành dịch vụ. Đây tuy là cơ hội
lớn nhưng cũng là thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam để có thể nắm bắt được
cơ hội phát triển đột phá trong tương lai. Chúng ta hiện mới đang chỉ ở trong giai đoạn
đầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp này và những tiềm năng mới của Cách mạng
Công nghiệp 4.0 sẽ còn đem lại nhiều thay đổi đáng mong chờ hơn nữa cho nền kinh tế
nói chung và ngành dịch vụ nói riêng.
Đó là lý do chúng em chọn đề tài “Đánh giá sự thay đổi của ngành dịch vụ trong
bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0.” Hoàn thành tiểu luận này, chúng em hi vọng có
thể cung cấp hiểu biết cơ bản và chuyên sâu về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và
những tác động đến nền kinh tế, nhất là những ảnh hưởng lớn đến ngành dịch vụ thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Bài tiểu luận gồm 3 phần chính:
Chương 1: Tổng quan về cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0
Chương 2: Ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến ngành Dịch vụ
4
Chương 3: Đề xuất hướng đi cho Việt Nam trong bối cảnh của Cách mạng
Công nghiệp 4.0
việc tạo ra một lĩnh vực sản xuất thay đổi liên tục theo định hướng khách hàng để duy trì
chính sự sản xuất đó. Máy móc trở thành một thực thể độc lập có khả năng thu thập dữ
liệu, phân tích và tự hoàn thiện. Đó làm một điều khả thi vì nó mang tính năng
6
tự điều chỉnh, tự nhận thức và tự tùy biến vào trong công nghiệp. Các nhà sản xuất sẽ
có thể giao tiếp với máy tính thay vì vận hành chúng.
Những thay đổi nhanh chóng trong công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
đã phá vỡ ranh giới giữa thực tế ảo và thế giới thực. Ý tưởng đằng sau Công nghiệp 4.0
là tạo ra một mạng xã hội nơi các máy móc có thể giao tiếp với nhau, được gọi là
Internet vạn vật (IoT) và với mọi người, được gọi là Internet của con người (IoP).
Bằng cách này, các máy móc có thể giao tiếp với nhau và với các nhà sản xuất
để tạo ra cái mà chúng ta gọi là hệ thống sản xuất không gian mạng thực - ảo (CPPS).
Tất cả những điều này giúp các ngành công nghiệp tích hợp thế giới thực vào thế giới
ảo và cho phép máy móc thu thập dữ liệu trực tiếp, phân tích chúng và thậm chí đưa ra
quyết định dựa trên chúng.
1.2. Thành phần cấu thành và nguyên tắc thiết kế của Cách mạng Công nghiệp 4.0
1.2.1. Thành phần cấu thành của Cách mạng Công nghiệp 4.0
Hệ thống sản xuất không gian mạng thực - ảo (Cyber-Physical Systems),
Internet vạn vật (Internet of Things), Internet dịch vụ (Internet of Services) và Nhà máy
thông minh (Smart factory) là bốn thuật ngữ phổ biến nhất được trích dẫn trong các ấn
phẩm nghiên cứu khoa học liên quan đến ngành công nghiệp 4.0. Kết quả là, trong giai
đoạn khởi xướng, đây là bốn thành phần chính của ngành.
- Hệ thống sản xuất không gian mạng thực - ảo: nhằm mục đích kết hợp các phép
tính và các quá trình vật lý. Điều này có nghĩa là máy tính và mạng lưới có thể kiểm soát
quá trình vật lý của sản xuất tại một quy trình nhất định. Sự phát triển của một hệ thống
như vậy bao gồm ba giai đoạn: Nhận dạng, Việc tích hợp thiết bị cảm biến và thiết bị
các vật thể hiện có trong môi trường xung quanh. Nói cách khác, phải có một bản sao
ảo của tất cả mọi thứ.
- Phân quyền: Khả năng làm việc độc lập của hệ thống sản xuất không gian mạng
thực - ảo. Điều này tạo ra chỗ cho các sản phẩm tùy biến và giải quyết vấn đề. Điều này
cũng tạo ra một môi trường sản xuất linh hoạt hơn. Trong trường hợp thất bại hoặc có
các mục tiêu mâu thuẫn, vấn đề được chuyển lên cho cấp cao hơn. Tuy nhiên, ngay cả
khi những công nghệ này được áp dụng, việc đảm bảo chất lượng vẫn là một điều cần
thiết cho toàn bộ quá trình.
8
- Khả năng thời gian thực: Một nhà máy thông minh cần có khả năng thu thập
dữ liệu thời gian thực, lưu trữ hoặc phân tích nó, và đưa ra các quyết định dựa trên các
phát hiện mới. Điều này không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu thị trường mà còn cho
các quy trình nội bộ như sự hỏng hóc của một chiếc máy trong dây chuyền sản xuất.
Các đối tượng thông minh phải có khả năng xác định khuyết điểm và phân công lại các
nhiệm vụ cho các máy điều hành khác. Điều này cũng góp phần rất lớn vào sự linh hoạt
và tối ưu hóa sản xuất.
- Định hướng dịch vụ: Sản xuất theo định hướng khách hàng. Con người và các
đối tượng/thiết bị thông minh phải có khả năng kết nối hiệu quả qua Internet Dịch vụ
để tạo ra các sản phẩm dựa trên các yêu cầu của khách hàng. Đây là nơi mà Internet
Dịch vụ trở nên thiết yếu.
- Tính mô đun: Trong một thị trường năng động, năng lực thích ứng với một thị
trường mới của nhà máy thông minh là điều cần thiết. Trong một trường hợp điển hình, có
lẽ phải mất một tuần để một công ty trung bình nghiên cứu thị trường và thay đổi sản xuất
theo thị trường đó. Mặt khác, các nhà máy thông minh phải có khả năng thích nghi
nhanh chóng và thuận lợi với những thay đổi theo mùa và xu hướng thị trường.
1.3. Ngành dịch vụ trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0
được tăng lên rõ nét. Tuy nhiên, trong ngành Dịch vụ Kinh doanh, ảnh hưởng của cách
mạng công nghiệp 4.0 không chỉ dừng lại ở đó. Các công nghệ của cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 đã được đưa vào áp dụng những năm vừa qua đã mang lại hiệu quả lớn
trong quản lý, kinh doanh thuộc lĩnh vực Dịch vụ Kinh doanh nói chung hay Giao
thông vận tải và Tài chính – Ngân hàng – các tiểu ngành được nghiên cứu dưới đây,
cũng như hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ khác.
2.1.1 Ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp tới ngành Giao thông vận tải
* Ảnh hưởng tích cực
- Bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông
Tại Việt Nam, các sản phẩm của Cách mạng Công nghiệp 4.0 chính là các phần
mềm, hệ thống thu thập dữ liệu của ngành, ứng dụng khác nhau như: Hệ thống giám sát
10
hành trình lắp trên xe ô tô; hệ thống kiểm soát tải trọng xe; hệ thống quản lý giấy phép lái
xe; hệ thống giám sát thu phí; hệ thống quản lý cầu... Năm 2014, với việc ứng dụng khoa
học công nghệ, Bộ Giao thông vận tải đã triển khai xây dựng và duy trì hoạt động Trung
tâm Xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô kinh
doanh vận tải. Thông qua dữ liệu từ hệ thống giám sát hành trình cùng nền bản đồ số giao
thông kiểm soát hành trình, tốc độ ô tô theo từng cung đường, hành trình cụ thể được quản
lý, khai thác và kiểm soát một cách thông minh và hiệu quả. Đến thời điểm hiện nay, hệ
thống đã kết nối dữ liệu giám sát hành trình của hơn 745.822 xe ô tô trên toàn quốc; kết
nối với dữ liệu biển báo tốc độ để kiểm soát tốc độ xe theo cung đường.
- Làm thay đổi phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành, tạo
động lực cạnh tranh
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, việc áp dụng thành quả củamạng
Internet và các dịch vụ công nghệ thông tin đã có ảnh hưởng lớn tới phương thức của
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ vận tải.
12
hạn chế, thậm chí đưa ra lệnh cấm hoàn toàn đối với loại hình dịch vụ chia sẻ này. Lý do
đưa ra là bởi Uber và Grab cạnh tranh không lành mạnh với các hãng taxi truyền thống,
trốn thuế, hay tài xế không có giấy phép, không được đào tạo chính quy. Tại Việt Nam,
trong kỳ kinh doanh 2014-2016, Grab có doanh thu 1.755 tỷ đồng nhưng tổng số thuế kê
khai, nộp Ngân sách Nhà nước chỉ là 9,5 tỷ đồng. Sau thanh tra, doanh nghiệp này nộp
thêm 2,9 tỷ đồng, nâng tổng số thuế nộp vào Ngân sách Nhà nước trong suốt ba năm lên
mức 13,4 tỷ đồng. Trong khi đó, Vinasun – một doanh nghiệp taxi truyền thống, trong kỳ
kinh doanh 2014-2016 cũng đã nộp 1.200 tỷ đồng vào Ngân sách Nhà nước. Mượn danh
mô hình kinh doanh mới, rất nhiều các ứng dụng gọi xe công nghệ đang lách luật, trốn
thuế, tạo sự cạnh tranh không công bằng với các hãng taxi, vận tải truyền thống.
- Ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu các hãng vận tải truyền thống
Sau khi bị các hãng taxi công nghệ chiếm lĩnh thị trường taxi nội, các doanh
nghiệp vận tải đã nhìn thấy rõ sự thất thế của mình trong việc chậm ứng dụng công
nghệ mới vào quản lý. Và không chỉ có taxi mà cả đội ngũ xe ôm truyền thống cũng là
những người chịu ảnh hưởng bởi sự xuất hiện của Uber và Grab. Đặc biệt, Vinasun đã
khởi kiện, yêu cầu Grab phải bồi thường thiệt hại vì cho rằng Grab vi phạm luật cạnh
tranh, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hãng trong hai năm 2017 và 2018.
Năm 2017, doanh thu của CTCP Ánh Dương Việt Nam (Vinasun) giảm gần 50% so với
năm trước đó, xuống còn 2.937 tỉ đồng. Lợi nhuận sau thuế cũng giảm năm thứ hai liên
tiếp, xuống mức 190 tỉ đồng, theo báo cáo tài chính công ty công bố năm 2017.
13
Bảng 2.2 Doanh thu của Vinasun trong giai đoạn 10 năm từ 2007 – 2017
Đơn vị tính: Tỷ
của người tiêu dùng. Nếu không sẽ có những doanh nghiệp bị thải loại do không theo
kịp xu thế và có những người lao động không còn việc làm.
2.1.2 Ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp tới hoạt động Tài chính – Ngân hàng
Không chỉ tác động lên ngành Giao thông Vận tải, Cuộc Cách mạng Công nghiệp
lần thứ tư còn tác động lên hệ thống tài chính ngân hàng – kênh thanh toán một cách
toàn diện. Các ngân hàng đã và đang triển khai nhiều ứng dụng công nghệ liên quan
đến kết nối vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) hay dữ liệu lớn (Big Data) vào các hoạt
động quản lý, cung cấp sản phẩm dịch vụ của mình.
* Ảnh hưởng tích cực
- Tiết kiệm thời gian, đơn giản hóa các thủ tục ngân hàng
Trước kia, quátrình thẩm đinḥ khách hàng đươcc̣ thưcc̣ hiêṇ môṭcách thủcông, qua
nhiều bước vàtốn kém thời gian. Các hồsơ vay vốn hoăcc̣ khoản thanh toán từ khi đê c̣trình
tới khi đươcc̣ phê duyêṭcóthểphải trải qua nhiều cuôcc̣ hopc̣ kéo dài trong nhiều ngày. Tuy
nhiên, với sư c̣ hỗtrơ c̣ của công nghê c̣ lưu trữvàphân tích dữliêu,c̣ ngân hàng có thểnhanh
chóng so sánh, đánh giátín dungc̣ đối với khách hàng. Viêcc̣ áp dungc̣ công nghê c̣ Big Data
vàAI giúp môṭsốngân hàng giảm thời gian thẩm đinḥ khách hàng từ nhiều
15
ngày xuống chỉcòn vài phút. Điều này giúp quátrình quản lýsau giải ngân trởnên hiêụ
quảhơn.
Ngân hàng số (Digital banking) là dịch vụ ngân hàng được nói đến nhiều nhất
trong cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 với phạm vi toàn cầu. Song song với việc phát
triển ngân hàng di động, không có chi nhánh vật lý như các ngân hàng Atom Bank
(Anh), Moven Bank (Mỹ) hay Fidor Bank (Đức) đang thực hiện, các ngân hàng truyền
thống cũng đang đẩy mạnh việc số hóa các dịch vụ của mình như triển khai bảo mật
sinh trắc học cho hoạt động thanh toán hay gửi tiết kiệm. Tại Việt Nam, Các ngân hàng
thương mại như Ngân hàng TPBank với dịch vụ ngân hàng tự động LiveBank, VPbank
chính (Fintech) và Ví điện tử của các công ty viễn thông.
Theo “Khảo sát và bình chọn Ví điện tử tiêu biểu Việt Nam” năm 2018 do Tạp
chí Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức về tính phổ biến của ví điện tử trên mẫu khảo sát 819
người dùng Internet trong độ tuổi 18-60, ví điện tử Momo hiện tại đang có độ phổ biến
và yêu thích cao nhất, chiếm trên 90% tổng mẫu điều tra và được theo sau bởi ứng
dụng ví điện tử Samsungpay và Bankplus. Có thể nói ví điện tử đang dần trở nên phổ
biến với người dùng internet nhờ các công dụng đa dạng của nó.
Bảng 2.3 Xếp hạng 12 ví điện tử phổ biến nhất năm 2018
Đơn vị tính %
Nguồn Tạp chí Nhịp Cầu Đầu
Tư * Ảnh hưởng tiêu cực
17
- Gây khó khăn trong công tác quản lí
“Tiền ảo” chính là cụm từ được nhắc đến nhiều nhất trong cuộc Cách mạng
Công nghiệp 4.0 do ứng dụng của Internet kết nối vạn vật. Sự phát triển của đồng tiền
ảo Bitcoin cũng như các tiền điện tử khác không phải do ngân hàng trung ương phát
hành buộc ngân hàng trung ương các nước phải thay đổi cách thức điều hành chính
sách tiền tệ do khả năng ảnh hưởng tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả.
Ngân hàng trung ương cũng phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng giống đô la hóa vì
Bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên hết sức dễ dàng. Những dịch vụ
như PayPal hoặc e-gold làm cho người dân của một quốc gia dễ dàng quy đổi tiền của
mình sang một loại ngoại tệ mạnh hơn, gây khó khăn trong việc đưa ra các chính sách
tiền tệ cho các nhà quản lí. Chính vì vậy từ ngày 1/1/2018, Việt Nam đã ra luật định
cấm tất cả các giao dịch thông qua ngân hàng sử dụng tiền ảo. Theo đó, kể từ ngày
1/1/2018, hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp
pháp (bao gồm cả Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác) có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự 2015 (đã
Theo báo cáo “Mô hình thích hợp cho việc đầu tư học trực tuyến trong thời đại
công nghệ mới” của nhóm các nhà nghiên cứu Pradeep Bastola - Trường Đại học Lincoln
(Hoa Kỳ) E -learning - mô hình đào tạo trực tuyến, sử dụng những công cụ trên mạng
internet đang là mô hình học tập có xu thế phát triển mạnh mẽ nhất. Hiện tại, các quốc gia
có sản phẩm và dịch vụ giáo dục lớn nhất là Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Anh, Hàn Quốc,
Malaysia, Australia và Nam Phi. Giáo dục trực tuyến cũng được du nhập vào Việt Nam từ
sớm. Những năm gần đây, học trực tuyến đã trở thành một xu hướng tại Việt Nam, nhất là
ở đối tượng học sinh THPT. Năm 2018, Hệ thống giáo dục trực tuyến Hocmai.vn đã có
hơn 3 triệu thành viên tham gia học tập trực tuyến từ cấp tiểu học đến bậc THPT; mỗi năm
có hơn 11.000 bài giảng trực tuyến được xuất bản. Ở bậc đại học, FUNiX - thành lập năm
2015, là trường đại học trực tuyến đầu tiên của cả nước với hơn 1.000 sinh viên theo học.
Với hình thức học này, học sinh có thể chủ động lựa chọn các bài giảng có sẵn trên mạng
theo nhu cầu bản thân. Ngoài ra, học viên còn có thể lựa chọn
19
giáo viên thích hợp, tương tác với giáo viên và các học viên khác cùng học mọi lúc,
mọi nơi thông qua nền tảng Internet và thiết bị công nghệ.
Giáo dục 4.0 không chỉ dừng lại ở các khóa học trực tuyến mà còn cung cấp
kiến thức cho học viên dựa trên các phần mềm giáo dục. Trong các đơn vị đào tạo giáo
dục trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, việc sử dụng phần mềm, ứng dụng học tập
kết hợp trong quá trình giảng dạy không còn là mới. Thay vì chỉ học trên giấy và cùng
giáo viên như lớp học truyền thống, người học có thể được bổ trợ kiến thức thông qua
các phần mềm, ứng dụng học tập. Có rất nhiều phần mềm hiện nay được học sinh trên
thế giới và Việt Nam sử dụng như phần mềm “làm thí nghiệm hóa học trên máy tính
bằng Chemlab” cho phép người học có thể tự thực hành các thí nghiệm hóa học, xem
kết quả phản ứng mà không lo các hóa chất nổ, thủy tinh vỡ do cho liều lượng sai,...
hay phần mềm ôn luyện thi Toán Violympic giúp học sinh luyện thi môn toán trên máy
tính mà không cần kết nối Internet.
gian, tăng độ chính xác và hiệu quả hơn trong hoạt động tiếp xúc với khách hàng bước
đầu của chủ doanh nghiệp. Thông qua kết nối vạn vật bằng Internet (IoT) các nhà hàng
- khách sạn sẽ giảm bớt phụ thuộc vào các kênh bán hàng truyền thống. Trong thời đại
Cách mạng Công nghiệp 4.0, doanh thu của các nhà hàng – khách sạn có thể tới từ hệ
thống đặt phòng trực tuyến. Sự xuất hiện của ngày càng nhiều trang web du lịch như
Expedia, kayak, Booking đang không chỉ giúp người tiêu dùng dễ dàng tìm thấy những
lựa chọn phù hợp nhất cho mình mà còn giúp các nhà hàng – khách sạn thêm nguồn
thu. Không những vậy, Internet đã giúp thu hẹp ranh giới giữa mô hình cho thuê khách
sạn truyền thống và mô hình cho thuê toàn bộ/ một phần căn hộ của mình (Homestay).
Airbnb chính là cái tên tiên phong và thành công nhất trong lĩnh vực cho thuê căn hộ,
nơi du khách có thể thuê được từ những căn phòng hạng sang cho đến một căn phòng
nhỏ trong ngôi nhà của chính người dân bản địa. Theo báo cáo tài chính quý 3/2017,
Airbnb đã đạt được 1 tỷ USD doanh thu, gấp đôi so với năm 2016 và tiếp tục chu kỳ có
lãi.
Nâng cao trải nghiệm của khách hàng
21
Để đáp ứng thách thức tăng sự mong đợi của khách hàng, ngành Nhà hàng –
Khách sạn đang chuyển sang công nghệ. Sự đổi mới sẽ cho phép các nhà điều hành
khách sạn nổi bật so với đối thủ, đáp ứng mọi kỳ vọng của khách và thu hút khách hàng
mới.
Trí thông minh nhân tạo đang dần thống lĩnh ngành khách sạn trong tương lai,
bao gồm cả việc để robot phục vụ con người. Ví dụ điển hình là khách sạn Aloft ở
Cupertino, California. Khách sạn này đã giới thiệu một loại robot phục vụ để mang dầu
gội, mĩ phẩm, đồ ăn vặt và thư tín cho khách hàng ở 150 phòng trong vòng 3 phút.
Không chỉ vậy, chuỗi khách sạn Hoàng gia tại vùng Caribbean cũng thiết lập những
robot làm bartender để pha chế đồ uống cho khách trong vòng 1 phút. Ở Yotel New
York, chìa khóa phòng được cung cấp ngay tại quầy check-in điện tử. Thẻ quẹt không
thành người sản xuất, người bán hàng cũng như người tiêu dùng. Xu hướng trong
tương lai, các công ty nền tảng tài chính sẽ tiếp tục nỗ lực giải phóng những hình thức
giá trị ẩn trong dữ liệu giao dịch mà chỉ có các công cụ kỹ thuật số mới, mới có thể tập
hợp và phân tích được. Vì chỉ khi biết được ai đã giao dịch với ai thì mới có thể khám
phá ra thị hiếu người tiêu dùng và thói quen tiêu dùng. Ví dụ, MasterCard là một công
ty nền tảng giá trị hiện đang điều hành một hệ sinh thái tài chính liên kết 2 tỷ chủ thẻ
với 25.000 ngân hàng và hơn 40 triệu người bán hàng trên thế giới.
Giao thông vận tải: Những ngành công nghiệp vận tải đang có xu hướng chuyển
đổi bởi khả năng vượt trội của nền tảng nhằm phân phối sự di chuyển của phương tiện vận
tải và tài nguyên bằng cách sử dụng các thuật toán hiệu quả cao để kết hợp cung và cầu. Ví
dụ ở Indonesia, một công ty nền tảng là Go-Jek (tương tự như Uber, Grab,…) Go-jek cũng
cung cấp dịch vụ giao thức ăn miễn phí trong thủ đô Jakarta của Indonesia bằng cách tận
dụng xe máy đã được kết nối và sử dụng các thuật toán đơn giản được thiết kế thông minh
để xác định được các tuyến đường giao hàng hiệu quả nhất.
Giáo dục: Nền tảng giống như lớp học toàn cầu.
Công cuộc xây dựng nền tảng giáo dục đang được tiến hành, cụ thể là một số doanh
nghiệp như Skillshare, Udemy, edX, Khan Academy,… Nhằm nỗ lực để tránh các
23
công ty nền tảng mới nổi làm cho lạc hậu, một số trường đại học hàng đầu thế giới bao
gồm Havard, Princeton,.. đang xây dựng những phiên bản trực tuyến của một số họ
dưới dạng “các lớp học trực tuyến mở rộng quy mô lớn” (MOOC) .
Trong những năm tới, sự phổ biến nhanh chóng của hệ sinh thái dạy và học sẽ
tác động mạnh mẽ đến hệ thống các trường công lập, tư thục và những trường đại học
truyền thống. Những rào cản ngăn chặn quá trình này là sự tồn tại lâu đời của một nền
giáo dục hạng nhất, một loại hàng hoá xa xỉ độc quyền và có uy tín cao đã bắt đầu suy
yếu. Một thay đổi nữa bắt đầu xảy ra đó chính là việc tách biệt các hàng hoá và dịch vụ
quản lý những căn bệnh kinh niên. Ví dụ như thiết bị thông minh, có thể theo dõi khẩu
phần dinh dưỡng của bệnh tiểu đường, chế độ tập luyện và lượng đường huyết; sử dụng
dữ liệu để mô tả và giải thích những phương pháp điều trị được đề xuất dựa trên tiền sử
và cảnh báo cho bác sĩ lâm sàng những dấu hiệu phát bệnh.
Những dịch vụ về lao động và nghề nghiệp: Nền tảng định lại bản chất công
việc:
Xu hướng dịch vụ lao động về nghề nghiệp bằng nền tảng trong vài tập kỷ tới sẽ
vẫn tiếp tục. Và kết quả của xu hướng này có khả năng sẽ dẫn đến sự phân tầng lớn hơn
về sự giàu có quyền lực và uy tín giữa những nhà cung cấp dịch vụ. Những nhiệm vụ
thường nhật và đã được tiêu chuẩn hoá sẽ được chuyển sang nền tảng trực tuyến, nơi có
đội quân các chuyên gia có thu nhập thấp và làm việc tự do. Trong khi đó, các công ty
luật, trung tâm y tế, công ty tư vấn,.. vẫn sẽ tồn tại nhưng tầm quan trọng và quy mô sẽ
thu nhỏ lại để chuyển sang mô hình nền tảng.
Xu hướng làm việc tự do, tự làm chủ, lao động theo hợp đồng và theo sự nghiệp phi
truyền thống vẫn sẽ tiếp tục tăng tốc. Tất nhiên đây là một xu hướng vừa có lợi vừa có hại.
Nhiều người muốn linh hoạt, như hoạ sĩ, sinh viên, khách du lịch, … sẽ dễ dàng thích nghi,
phát triển mạnh trong môi trường này. Trong khi đó những người thích có công việc ổn
định sẽ cảm thấy khó khăn hơn và thử thách trong quá trình chuyển đổi này. Những công
đoàn lao động truyền thống được tổ chức và bảo vệ quyền lợi của tập đoàn công nhân sẽ
suy giảm, để cho các cá nhân tự mình giành lấy quyền lợi của riêng mình.
25
3.1.2 Xu hướng 2: Tỷ trọng ngành dịch vụ tiếp tục gia tăng trong thời kì 4.0
Ngành dịch vụ hiện đóng góp 60% GDP của thế giới (Lovelock và Wirtz, 2017).
Ở các nước OECD, tỷ trọng này lên đến 70% (OECD, 2016: 3). Trong giai đoạn 2003 –
2016, đóng góp của ngành dịch vụ cho giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế OECD tăng
từ 60% lên 68%, còn đóng góp của ngành công nghiệp lại giảm từ 34% xuống còn
Cách mạng Công nghiệp 4.0 và khả năng tư duy, quản lý điều phối tích hợp các yếu tố
công nghệ, phi công nghệ, giữa thực và ảo, giữa con người và máy móc;
Để gia nhập vào xu thế Cách mạng Công nghiệp 4.0 đòi hỏi phải có sự phát triển
dựa trên tích lũy nền tảng lâu dài của nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản định hướng
trong lĩnh vực KH&CN đặc biệt là vật lý, sinh học, khoa học máy tính và trí tuệ nhân
tạo, các lĩnh vực công nghệ mới, nghiên cứu các công nghệ mang tính đột phá;
Nghiên cứu và phát triển trở thành chìa khóa quan trọng quyết định sự phát triển
kinh tế - xã hội; cần gắn kết chặt chẽ hơn nữa nghiên cứu khoa học và sản xuất;
Gia tăng bức xúc xã hội do sự thâm nhập của các công nghệ kỹ thuật số và các
động lực của việc chia sẻ thông tin tiêu biểu của truyền thông xã hội;
Đặt ra những vấn đề lớn về giải quyết việc làm, ô nhiễm môi trường, đạo đức xã
hội, rủi ro công nghệ;
Thêm vào đó, cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra với tốc độ vô cùng nhanh
chắc chắn sẽ đặt Việt Nam trước nguy cơ tụt hậu hơn nữa trong phát triển so với thế giới
và rơi vào thế bị động trong đối phó với những mặt trái của cuộc cách mạng này
3.2.2 Hàm ý cho sự phát triển ngành dịch vụ Việt Nam trong cuộc cách mạng 4.0
Việt Nam cần tận dụng những sức mạnh sẵn có và nắm lấy cơ hội để tham gia
vào cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Để làm được điều này, cần hình thành một tầm nhìn toàn diện và thống
nhất mang tính toàn cầu về cách thức công nghệ tác động tới cuộc sống cũng như định
hình lại môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa và con người Việt Nam.
27
Để chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp Việt Nam
cần tập trung ứng dụng KH&CN trong sản xuất, đổi mới sáng tạo trong mô hình tổ
chức và cách thức kinh doanh của mình. Cụ thể:
- Tích hợp công nghệ số hoá: cần thúc đẩy phát triển những giải pháp sản xuất và