BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ THỊ XUÂN NHUỆ
M Ộ T SỐ H O Ạ T Đ Ộ N G K IE M s á t Đ lỀ ư t r a
Á N K I N H T Ế T Ạ I T P . H ồ C H Í M IN H
a
1991
1996
& ếu tẹê* ttỳÒMÁ ĩ TỘI PHẠM HỌC, LUẬT HÌNH s ự VÀ T ố TỤNG HÌNH s ự
-nua:
5.05.14
Người hưởng dẫn khoa học : PTS. NGUYẺN t h á i p h ú c
Viện KSXX Phúc Thẩm - Viện KSND Tốỉ cao
tại TP. HỒ Chí Minh
th u viềh
r p
ư
25-4?
t r a á n k in h
TẾ TẠI T PH C M 1991 -1996
2.1. Kiểm sát việc khởi tô"
2.1.1. Khởi tô" vụ án
4 ỉ-4.7
2.1.2. Khỏi tố bị can
4S-53
2 2 . Kiểm sát việc áp dụng ,thay thế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 54-7 I
2 .3.Kiểm sát một sô"hoạt động điều tra khác
2.3.1. Kiểm sát việc hỏi cung bị can
7Ớ-7&
2.3JLKiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng
7£-7í3
2 3 3 . Kiểm sát việc đối chất
73 -7$
3.3. Chuẩn hóa biểu mẫu trong hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra
3.3.1. Biểu mẫu của cơ quan điều tra
lữi-104-
3 3 2 . Biểu mẫu của Viện kiểm sát
10(4-10.?
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
10?-102
110-114
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
VKS
Viện Kiểm sát
VKSND
Viện Kiểm Sát Nhân Dân
T ố tụng ninh sự
KSĐT
Kiểm sái điều tra
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp th iết của đ ề t à i :
Kiểm sát điều tra là một trong những công tác thực hiện chức năng
của Viện Kiểm sát Nhân dân và đôi tượng của hoạt động này là việc tuân
theo pháp luật của cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, cũng như những người tiến hành và tham
gia tô' tụng trong quá trình khởi tô, điều tra vụ án hình sự để đảm bảo sự tuân
thủ pháp luật trong suốt quá trình điều tra vụ án; đảm bảo mọi hành vi phạm
tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và làm oan
người vô tội. K iểm sát điều tra án kinh tế là một bộ phận của công tác kiểm
sát điều tra tội phạm hình sự, tuân thủ những qui định chung của Hiến pháp,
Luật và các văn bản dưới luật khác về mặt tô" tụng; tuân thủ nguyên tắc
chung của Luật hình sự, nhưng được giới hạn ở nhóm tội xâm phạm sở hữu
Xã hội chủ nghĩa (Chương IV) và các tội phạm về kinh tế (Chương VII).
Bộ luật hình sự công bô" ngày 09/7/1985 và Bộ luật TTHS công bồ'
ngày 9/7/1988 là những bộ luật lớn đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành
trên cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật hình sự và TTHS của nhà nước ta từ
Cách mạng tháng 8/1945 đến giữa những năm 80. Từ khi có hiệu lực đến nay,
BLHS và TTHS đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệnhững thành quả Cách mạng; bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ an ninh quốc gia
và trật tự an toàn xãhội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân ,
đâu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tăng cường pháp chế XHCN.
Do được ban hành trong bôi cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất
1
Khi nghiên cứu đề tài , chúng tôi chọn địa bàn TP.HCM xuất phát
từ đặc điểm đặc thù của Thành phò" là trung tâm giao lưu và phát triển kinh tế
lớn của cả nước , nhưng cũng là nơi có nhiều tội phạm xảy ra . Trong đó ,
các tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội phạm về kinh tế theo quy định tại
chương IV và chương VII -BLHS được gọi chung là án kinh tế - rất đa dạng ,
phong phú , mang những nét đặc trưng chung cho án kinh tế của cả nước .
3. M ục đích nghiên c ứ u , giớ i hạn của đ ề tài :
Qua thực tiễn kiểm sát một sô" hoạt động điều tra của CQĐT đôi
với án kinh tế, đôi chiếu với những quy định của luật , để thấy được những
bất cập của luật thực định, cũng như những tồn tại cần khắc phục trong hoạt
động điều tra, kiểm sát điều tra. Từ đó, đưa ra những giải pháp và kiến nghị
sửa đổi, bổ sung BLHS, TTHS và tổ chức hoạt động của CQĐT và VKS dôi
với án hình sự nói chung và án kinh tế nói riêng, nhằm nâng cao hiệu qủa
công tác điều tra đôi vứi Joại
tội phạm này
.
Từ mục đích nói trên , phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung
vào một số hoạt động KSĐT án kinh tế tại TP.HCM trong khoảng thời giìin
1991-1996 trên cơ sở khái quát tình hình kinh tế - xã hội , thực trạng án kinh
tế xảy ra và tổ chức hoạt động của CQĐT.VKS đối với án kinh tế. Do vậy,
những sửa đổi, bổ sung một sô" điều của BLHS lần thứ tư được Quốc hội
thông qua ngày 10/5/1997 sẽ không đề cập trong nội dung của luận án .
4. Phương p h á p luận và phương p h á p nghiên cứu :
VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA TRONG T ố TỤNG HÌNH s ự
1.1. Vị trí, ý nghĩa của điều tra trong tô' tụng hình sự - tổ chức
h oạt độn g của cơ quan điều tra:
1.1.1. Vị trí, ý nghĩa của giai đoạn điều tra trong TTHS:
Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành TTHS, trong đó
CQĐT được áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS qui định để xác định tội
phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Khác với quá trình tố tụng của
các vụ án dân sự , hành chính , kinh tế...mà việc điều tra được tiến hành chủ
yếu tại phiên tòa, bỡi cơ quan xét xử, trong tô' tụng hình sự, họat động điều
tra của CQĐT là cần thiết và bắt buộc đối với tất cả các vụ án, là cơ sở cho
việc xử lý của các cơ quan tố tụng hình sự khác ở giai đọan sau. Trong giai
dọan này, CQĐT phải thu ihập được những chứng cứ cơ bản, bao gồm cả
chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng,
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, chứng cứ xác định các tình tiệt khác
liên qudn đến vụ án...theo thủ tục luật định . Bất cứ sai lầm nào ỏ giai đoạn
này đều có thể dẫn đến việc làm oan sai người vô tội, bỏ lọt tội phạm, hoặc
xâm phạm đến các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nếu không được
phát hiện và khắc phục kịp thời. Ngoài ra, nó còn liên quan trực tiếp đến hoạt
động truy tô, xét xử sau đó nếu như kết quả điều tra không đáp ứng được các
yêu cầu cần chứng minh, phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, làm kéo dài thời
ị*
gian giải quyêt vụ án. . . Đê’ đảm bảo cho hoạt động điều tra được khách
quan, toàn diện, đúng luật, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật thông qua công tác kiểm sát điều tra mà đốì tượng của hoạt
5
động này chính là sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án
quy định tại tại điều 27 và 92-BLTTHS, cơ quan tiến hành tô tụng chỉ bao
gồm: Cơ quan điều tra , Viện kiểm sát và Toà án; Các cơ quan: Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan khác của ỉực lượng Cảnh sát nhân
dân, An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân quy định tại Điều 93 - BLTTHS,
tuy cũng được giao nhiệm vụ tiến hành một sô' hoạt động điều tra, nhưng
không phải là cơ quan tiến hành tò" tụng. Phạm vi và quyền hạn của những
cơ quan này rất hạn chế, chỉ được thực hiện một scf hoạt động điều tra ban
đầu như : lấy lời khai, thu giữ bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan, khởi tcf
vụ án ... đôi với những hành vi tội phạm trong lĩnh vực qủan lý của mình .
Sau đó phải chuyển hồ sơ đến CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày kể
từ ngày khởi tcí vụ án để tiếp nục điều ưa. Riêng đối với hành vi phạm tội qủa
tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì Luật cho phép cơ quan Hải quan,
Kiểm lâm, đơn vị bộ đội biên phòng có quyền khởi .tô" vụ án, tiến hành điều
tra và chuyển cho VKS có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
khởi tô' vụ án. Dù luậí không gh1 cụ thể, nhưng trong trường hợp chuyển hồ SƯ
đến VKS chỉ có thể đế VKS xem xét việc truy tô". Trong khi đó, các cơ quan
này không được phép khởi tô" bị can, dẫn đến sự màu thuẫn giữa các quy
định. Theo quan điểm của chúng tôi, khđi tố" bị can chỉ là quyền được traít^
duy nhât cho CQĐT theo đúng quy đ 'ứi tại điều 103- BLTTHS, các cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều chỉ được tiến hành một
sô' hành vi tô" tụng cần thiết phù hợp với sự cấp thiết của tình hình nhằm kịp
thời ngăn chặn tội phạm xảy ra, tiếp tục xảy ra hoặc người phạm tội chạy
trốn, đã được quy định cụ thể trong Pháp lệnh tể chức điều tra hình sự .
Cơ quan điều tra của nước ta hiện nay
được tổ chức bao gồm:
CQĐT của lực lựơng CSND , CQĐT của lực lượng ANND, CQĐT trong Quân
đội nhân dân, CQĐT của VKSND. Chỉ những cơ quan này mới được phép
8
phép họ tiến hành một sô' hoạt động điều tra nhất định nếu phát hiện sự việc
có dẵu hiệu tội phạm khi làm nhiệm vụ của mình, không đòi hỏi phải có chức
danh này. Nên chăng mở rộng quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp và
tạm giữ người cho họ sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Thực tế tổ chức hoạt động điều tra án kinh tế của cơ quan Cảnh sát
điều tra tại TP.HCM hiện nay:
Xuât phát từ tính phức tạp của đôi tượng điều tra mà tể chức hoạt
động của cơ quan CSĐT- CA TP.HCM được phân công thành các đội án có
tính chuyên môn hóa nhằm đâu tranh có hiệu quả đôi với từng loại tội phạm.
Trong đó, ngoài Đội 1 là Đội Tham mưu - Tổng hợp, tiếp nhận tin báo tội
phạm, các Đội còn lại căn cứ vào hành vi thực hiện tội phạm, kết hợp với
khách thể bị xâm hại tiến hành khởi tô", điều tra các tội phạm từ chương II
đến chương IX- BLHS và tội “Buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa,
tiền tệ qua hicn giới” qui đmh tại Điều 97- Chương I- BLHS theo quy định
của Luật. Sự phân công này có tính châ't tưưng đốì, tùy tình hình và khôi
lương công việc cụ thể ở tửng thời điểm mà Thủ trưởng CQĐT có sư điều
chỉnh cho phù hợp, cân đôi lƯỢng án giữa các đội có xét đến tính châ't, các
tình tiết vụ án cho phù hợp, không đặt quá nặng vân đề phân chia các đội
chuyên án, trừ những vụ đặc niệt nghiêm trọng, phtfc tạp, liên quan đến
nhiều ngành, nhiều địa phương và cán bộ có chức quyền đòi hỏi điều tra
viên có trình độ, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm.
Đội 2 được gọi là Đội án kinh tế chủ yếu điều tra các tội xâm phạm
sở hữu XHCN (chương IV), nhưng không phải tâ't cả các tội. Thông thường
các tội: cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt tài sản XHCN
(Điều 129, 130, 131) được chuyển giao cho Đội 4 (Đội Trọng án); một số vụ
Lừa đảo, Lạm dụng tín nhiệm ít phức tạp giao cho Đội 5 (Đội điều tra các tội
nghiêm trọng hoặc hành vi đơn giản hơn
Đội 4 được gọi là đội trọng án, điều tra các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người như: giết người, hiếp dâm. . .
qui định tại chương II-BLHS, và các tội chiếm đoạt tài sản được thực hiện bởí
hành vi: cướp, cướp giật, cưỡng đ o ạ t .
Đội 5 được gọi là đội thường án,điều tra các tội xâm phạm quyền tự
do dân chủ, chê độ hôn nhân- gia đình, các tội phạm đôi với người chưa thành
10
niên, các tội xâm phạm sở hữu của công dân (chương III, V, VI- BLHS), và
các tội ở mục B, mục C- Chương Vin-BLHS.
Đội 6 điều tra các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự
quản lý hành chính qui định tại chương v i n - mục A- BLHS, như: tội vi phạm
các qui định về an toàn giao thông vận tải,vi phạm các qui định về phòng
cháy, chữa cháy, tội gây rốì trật tự công cộng . . .
Ngoài cơ quan Cảnh sát điều tra, cơ quan An ninh điều tra tại TP.
HCM cũng được giao tiến hành điều tra một số ít án kinh tế đặc biệt nghiêm
trọng như: Trần Thu Hồng - Trạm trưởng Trạm C hế biến lương thực trực
thuộc Công ty Lương thực thành phô; Phạm Huy Phước - Giám đốc Công ty
Tamexco... nhưng không thường xuyên, Do vậy, nội dung của bẳn luận án chỉ
đề cập đến đôi tượng của công tác KSĐT án kinh tế là các hoạt động của cơ
quan CSĐT- CA TP.HCM.
1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sá t
trong g ia i đoạn đ i u tra:
1.2.1.Chức n ăn g của Viện kiểm sát:
Theo Điều 137- Hiến pháp 1992 và qui định cụ thể tại Điều 23BLTTHS: “VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS, thực hành quyền công tố Nhà nước, đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thông nhất”.Với cách thể hiện như vậy, cần khẳng
phiên toà xét xử sơ thẩm - Toà phúc thẩm sẽ mở phiên toà xét xử theo yêu
cầu này. Xét ngay trong TTHS thì hoạt động của VKS ở các giai đoạn tô" tụng'
khác nhau cũng khác nhau trong việc giải quyết những vân đề cụ thể của giai
đoạn đó, chẳng hạn ở giai đoạn điều tra, VKS có quyền yêu cầu hoặc tự mình
ra quyết định hoặc hủy các quyết định không có căn cứ, trái pháp luật của
12
CQĐT, nhưng ở giai đoạn xét xử thì VKS không có quyền này đôi với quyết
định của Tòa án.
Quan điểm 2 cho rằng: VKSND chỉ có một chức năng duy nhất là
kiểm sát việc tuân theo pháp luật, còn “thực hành quyền công tố ” là một
quyền năng pháp lý để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của ngành. Chúng tôi theo quan điểm thứ hai, vì lý do sau đây :
Xuâ't phát từ cách hiểu chức năng của một ngành là phương thức hoạt
động chủ yếu của ngành đó để phân biệt với ngành khác như đã nêu trên,
chức năng của VKS là kiểm sát (hay đúng hơn là giám sát) việc tuân theo
pháp luật trên phạm vi cả nước trong các lĩnh vực khác nhau. Để thực hiện
chức năng này,VKS được Quốc hội thừa nhận những quyền nhất định ở từng
lĩnh vực, căn cứ vào đặc thù của những quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh,
chi phỏi, Với ý nghĩa như vậy, khái niệm quyền năng khác với khái niệm
chức năng:“Quyền năng” là “khả năng thực hiện điều mà pháp íuật hoặc xã
hội công nhận cho được hướng, được làm, được đòi h ỏ i”.“Quyền công tô"” mà
Hiếm pháp và Luật tổ chức VKSND đề cập đến là quyền của Nhà nước truy
tô' kẻ phạm tội ra trưổc Toà án để xét xử, và VKS là cơ quan được Nhà nước
trao cho quyền đ ó .“Quyền công tô ”,“thực hàiìh quyền công tố ”chỉ là một
quyền nãng để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTHS, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Không thể coi quyền công tấ như một
chức năng độc lập,tồn tại song song, ngang bằng với chức năng kiểm sát việc
tham gia tcf tụng. TTHS được chia làm nhiều giai đoạn và ở mỗi giai đoạn có
những chủ thể tham gia khác nhau, với mục đích, nhiệm vụ, quyền hạn khác
nhau. Xuât phát từ chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của ngành mà
VKS là cơ quan duy nhât tham gia vào tâ't cá các giai đoạn của TTHS. Tuy
nhiên, nội dung hoạt động của VKS ở mỗi giai đoạn là không giông nhau mà
14
bị chi phôi bởi nhiệm vụ cuả từng giai đoạn. Đôi với công tác KSĐT, nhiệm
vụ chung của VKS được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ cụ thể qui định tại
Điều 13- Luật tổ chức VKSND và Điều 141- khoản 2 -Bộ luật TTHS. Đó là :
Áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS qui định trong việc nắm, xử lý
thông tin tội phạm, khởi tô", điều tra vụ án hình sự, ra các quyêt định xử lý
người phạm tội để mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, điều tra và
xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Trong quá trình tồ tụng, CQĐT có thể áp dụng những biện pháp làm hạn chế
các quyền công dân như: bắt, tạm giữ, tạm giam..., YKS phải bảo đảm không
để một người nào bị hạn chế, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự , nhân
phẩm một cách trái pháp luật.Trong mọi trường hợp khi phát hiện có vi
phạm, VKS phải kịp thời có biện pháp khắc phục như:, hủy bỏ, từ chối phê
chuẩn quyết định của CQĐT. Thông qua công tác kiểm sát trực tiếp hoặc
gián tiếp việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, áp dụng các
biện pháp cưỡng chế, thu thập, bảo quản, đánh giá chứng cứ, lấy lời khai, đến
việc ban hành các quyết định khởi tố, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị
can...bảo đảm hoạt động điều tra phải được tiến hành theo qui định của
BLTTHS. Trong việc điều tra phải thu thập tất cả chứng cứ xác định có tội và
các chứng cứ xác định vô tội, làm rõ những tình tiết tăng nặng và tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm của bị can và tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội.
Để từ đó, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đốì với bị can là có căn
định của Toà án. Chính vì vậy mà ‘quyền” thường được ghép với “giới h ạ n ” là “phạm vi mức độ nhất định, không thể hoặc không cho phép vượt q u a”.
Ngoài ra, “quyền” còn được gắn với trách nhiệm khi việc sử dụng các quyền
đó trái pháp luật. Trách nhiệm ở đây không phải là trách nhiệm chung chung,
16
mà là trách nhiệm đôi với cá nhân cụ thể trước Nhà nước, trước pháp luật về
sai phạm cụ thể mà họ đã thực hiện vượt quá quyền hạn cho phép.
Trong công tác KSĐT, quyền của VKS là những quyền năng pháp lý,
phương tiện pháp lý được pháp luật qui định để VKS sử dụng và có trách
nhiệm phải tiến hành để tác động tới các chủ thể là đôi tượng của hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra vụ án, nhầm đảm
bảo hoạt động điều tra được thực hiện theo đúng qui định cuả pháp luật, kịp
thời phát hiện những vi phạm pháp luật của CQĐT, của những người tham
gia tô tụng trong quá trình điều tra vụ án để có biện pháp khắc phục kịp thời.
Theo qui định tại điều 13- Luật tổ chức VKSND, Điều 141- khoản 3BLTTHS, các quyền của VKS khi tiến hành công tác kiểm sát điều tra vụ án
hình sự , bao gồm :
“a. Kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tô' vụ án hình sự, khởi tôi bị can
và chuyển đẽn CQĐT để yêu cầu tiến hành điều tra ; trực tiếp điều tra trong
những trường hợp qui định tại khoản 3 Điều 92 của Bộ luật này;
b. Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra
đã được qui định tại Bộ luật này;
c. Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc lìUy bỏ các biện pháp ngăn chặn;
yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can;
d. Đề ra yêu cầu, trả lại hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung; yêu
cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp
luật của điều tra viên, nếu có;
đ. Kiểm sát việc khám xét, khám nghiệm, hỏi cung bị can và các hoạt
động điều tra khác của CQĐT, trực tiếp hỏi cung bị can khi thây cân thiêt.