Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại một số câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng tại thành phố hồ chí minh - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH NGUYỄN THỊ HIỀN THANH

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ TẠI MỘT SỐ CÂU LẠC BỘ THỂ DỤC THỂ THAO
QUẦN CHÚNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
DANH MỤC, KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Chữ
viết tắt
Tiếng Việt
Tiếng Anh
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông
nam á
Association of Southeast Asian
nations
CP
Chính phủ


NTĐ
Nhà thi đấu

NTL
Nhà tập luyện

NTD
Người tiêu dùng

NTD TDTT
Người tiêu dùng thể dục thể
thao

NSNN
Ngân sách nhà nước

Nxb
Nhà xuất bản

ĐH
Đại học

KTTT
Kinh tế thể hao

ODA
Viện trợ chính thức
Offical Deverlopment Assitance
EMP
Sự cảm thông

Tính hữu hình
Tagibility TDTT
Thể dục thể thao

TTGT
Thể thao giải trí

THCS
Trung học cơ sở

THPT
Trung học phổ thông

TSCĐ
Tài sản cố định

Tp.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh

TW
Trung ương

UBND
Ủy ban nhân dân

SAT
Sự hài lòng (sự thỏa mãn)


DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Thể
loại
Số
Nội dung
Trang
Bảng


Thống kê NSNN cấp cho Ngành TDTT năm 2013
66
3.3
Thống kê số lượt NTD TDTT năm 2012 - 2013
69
3.4
Tổng hợp các nguồn thu tài chính tại CLB TDTT năm 2013
70
3.5
Đặc điểm nhân khẩu học của NTD TDTT
73
3.6
Tính thường xuyên trong tập luyện TDTT
77
3.7
Thời điểm thích hợp tham gia môn thể thao
78
3.8
Thời gian nhàn rỗi dành cho hoạt động TDTT
79
3.9
Tình hình cơ cấu nguồn lao động năm 2013
86
3.10
Tiêu chí đánh giá thang đo chất lượng dịch vụ TDTT
98
3.11
Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố theo mô hình
SERVQUAL
100

Kết quả các thông số thống kê của từng biến trong phương
trình theo mô hình SERVQUAL
108 Thể
loại
Số
Nội dung
Trang

3.20
Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết theo mô hình
SERVQUAL
108
3.21
Thống kê phân tích các hệ số hồi quy theo mô hình
SERVQUAL
109
3.22
Các thông số thống kê của từng biến trong phương trình theo mô
hình GRONROOS
110

3.23
Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết mô hình
GRONROOS
111

3.24

3.2
Các môn thể thao yêu thích
80
3.3
Các hoạt động giải trí phổ biến
81
3.4
Các môn thể thao giải trí
82
3.5
Động cơ tham gia hoạt động TDTT
83
3.6
Yếu tố cản trở hoạt động TDTT
84
3.7
So sánh nguồn đầu tư tài chính năm 2013
88
3.8
So sánh hiệu quả kinh doanh năm 2012 – 2013
89
3.9
So sánh nguồn doanh thu tài chính năm 2013
90
3.10
So sánh năng suất lao động năm 2013
91
3.11
So sánh mức lương bình quân năm 2013
93

Trang
3.20
Phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị TDTT
134
3.21
Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ
136
3.22
Hoàn thiện chính sách giá hợp lý
139
3.23
Truyền thông marketing và tài trợ thể thao
142
Sơ đồ
1.1
Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng TDTT
19
1.2
Các loại hình tổ chức cung cấp dịch vụ TDTT
37
2.1
Mô hình xây dựng thang đo chất lượng TDTT
49
3.1
Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ TDTT
57
3.2
Tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ
59
3.3

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Mục đích nghiên cứu 2
Mục tiêu nghiên cứu 2
Giả thuyết khoa học 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Khái quát cơ cấu ngành kinh doanh dịch vụ TDTT 4
1.1.1 Kinh doanh TDTT 4
1.1.2 Dịch vụ TDTT là bộ phận của nền kinh tế 5
1.1.3 Các ngành kinh doanh dịch vụ thể thao 7
1.2 Sản phẩm, hàng hóa dịch vụ TDTT 9
1.2.1 Sản phẩm dịch vụ TDTT 9
1.2.1.1 Phân loại sản phẩm dịch vụ TDTT 9
1.2.1.2 Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ TDTT 11
1.2.2 Hàng hóa TDTT 11
1.2.2.1 Các yếu tố cấu thành hàng hóa TDTT 12
1.2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện, đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành 13
1.3 Nhu cầu tiêu dùng TDTT 14
1.3.1 Tiêu dùng TDTT 14
1.3.2 Vị trí của tiêu dùng TDTT trong cơ cấu tiêu dùng của xã hội 15
1.3.3 Đặc điểm của tiêu dùng TDTT 17

2.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu theo mô hình SWOT 51
2.3 Tổ chức nghiên cứu 51
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 52
3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh và chất lƣợng
dịch vụ TDTT 52
3.1.1 Cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh TDTT 52
3.1.2 Cơ sở lý luận đánh giá chất lượng dịch vụ TDTT 56
3.1.2.1 Thang đo chất lượng dịch vụ 56
3.1.2.2 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ TDTT với sự hài lòng của NTD 59 3.1.2.3 Xây dựng mô hình thang đo chất lượng dịch vụ TDTT 61
Tóm tắt mục tiêu 1 64
3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần
chúng ở Tp.HCM 65
3.2.1 Thực trạng hoạt động TDTT tại một số CLB TDTT quần chúng ở
Tp.HCM 65
3.2.1.1 Tổ chức hoạt động TDTT 65
3.2.1.2 Phân bổ nguồn kinh phí phát triển Ngành TDTT 66
3.2.1.3 Số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (tiêu dùng TDTT) 68
3.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại một số CLB TDTT quần
chúng ở Tp.HCM 70
3.2.3 Đặc điểm của NTD TDTT tại Tp.HCM 73
3.2.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 73
3.2.3.2 Tính thường xuyên tập luyện TDTT 76
3.2.3.3 Thời gian nhàn rỗi 79
3.2.3.4 Các môn thể thao yêu thích 80
3.2.3.5 Các hoạt động giải trí 81
3.2.3.6 Các môn thể thao giải trí 82
3.2.3.7 Các động cơ tham gia hoạt động TDTT 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 1

PHẦN MỞ ĐẦU
Dưới góc độ xã hội học, TDTT theo quan niệm truyền thống không là lĩnh vực
sản xuất dịch vụ, vốn dĩ chỉ vận hành theo loại hình phúc lợi công cộng, được hiểu
là một hiện tượng văn hóa xã hội đặc biệt. Sản phẩm của nó là một trong các tiêu
chí đánh giá trình độ dân trí và sự phồn vinh của xã hội. Ngày nay trong nền kinh tế
sản xuất hàng hóa thì TDTT đã có thêm “chức năng kinh tế”. Vì lao động dịch vụ
TDTT tạo ra sản phẩm làm thỏa mãn nhu cầu giải trí, thưởng thức mang lại giá trị
về sức khỏe và tinh thần. Trong kinh tế ở nước ta còn được tiến hành dưới hình thức
gọi là “kinh doanh thể dục thể thao” nhờ vận hành theo các quy luật kinh tế thị
trường. Bên cạnh những hoạt động có mục tiêu văn hóa xã hội thuần túy thì nay
TDTT đã có nhiều hoạt động được xem như những ngành kinh doanh dịch vụ có
khả năng sinh lời. TDTT vốn đã đem lại hiệu quả về văn hóa xã hội, nay trực tiếp
đem lại hiệu quả rất quan trọng trong kinh tế. Sự thay đổi tư duy đó đã thổi một
luồng gió mới làm cho các hoạt động TDTT trở nên phong phú, đa dạng đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của nhiều tầng lớp người dân trong xã hội.
Hiện nay, với nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế đã làm cho các mối quan hệ kinh tế ngày càng phát triển đa dạng về hình thức lẫn
nội dung. Cùng với sự phát triển đó, Ngành TDTT cũng chịu ảnh hưởng và không
thể đứng ngoài cuộc, đòi hỏi cần phải thay đổi hình thức quản lý, các phương thức

vụ, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ cho các câu lạc bộ
TDTT quần chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận đánh giá hiệu quả kinh doanh và chất
lượng dịch vụ TDTT
Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại một số CLB
TDTT quần chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tại
một số CLB TDTT quần chúng ở Thành phố Hồ Chí Minh
3

Giả thuyết khoa học
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
TDTT đã và đang thực hiện được 2 mục tiêu là vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội vừa
tạo nguồn tài chính cho Ngành TDTT. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các
CLB TDTT quần chúng vẫn chưa khai thác hiệu quả đồng thời cũng đã bộc lộ
những bất cập, những hạn chế trong phương thức kinh doanh. Nếu khắc phục được
những bất cập, hạn chế và áp dụng các giải pháp kinh doanh tốt thì hiệu quả kinh
doanh dịch vụ TDTT của các CLB TDTT quần chúng ở Tp.HCM sẽ được cải thiện.
nó mới thực sự phát triển mạnh trong những năm cuối của thế kỷ 20. Kinh doanh
TDTT thực chất là kinh doanh sản phẩm do lao động dịch vụ các hoạt động TDTT
mà có, trong đó chủ yếu kinh doanh TDTT giải trí, thực chất là dịch vụ và thương
mại dịch vụ. Với nghĩa rộng TDTT được hiểu là:“Hiện tượng văn hóa xã hội của
loài người, là bộ phận của nền văn hóa xã hội, thể dục thể thao thông qua phương
tiện hoạt động vận động và trò chơi để tăng cường thể chất, nâng cao kỹ năng vận
động, làm phong phú đời sống xã hội”. [77, tr.10]
Các nhà khoa học đã xác định rõ và đưa ra một số dẫn chứng về sản phẩm
TDTT không mang tính kinh doanh vì không phải là hàng hóa như: Sản phẩm của
5

người tự tập chạy, đi bộ dưỡng sinh, tự tập thể dục, chỉ đơn thuần mang giá trị sức
khoẻ tinh thần và thể chất. Họ thu được giá trị này không phải chi trả tiền vì không
tham gia dịch vụ. Hoặc đội tuyển bóng đá quốc gia đoạt chức vô địch trên đấu
trường quốc tế, mang lại lòng tự hào dân tộc cho hàng triệu người dân. Loại sản
phẩm này cũng không thể tính theo giá trị tiền tệ.
Như vậy, kinh doanh TDTT được xem là: “Phương thức hoạt động kinh tế
đối với các sản phẩm vật chất và phi vật chất của TDTT có giá trị sinh lời trong
điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức
và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của
mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ
sở vận dụng các quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn
sinh lời cao nhất”. Kinh doanh TDTT thuộc phạm trù kinh tế. [77, tr.18]
1.1.2 Dịch vụ TDTT là bộ phận của nền kinh tế
TDTT thuộc nhóm ngành thứ ba không trực tiếp sản xuất sản phẩm vật chất
mà chủ yếu là nhóm ngành cung ứng dịch vụ và lao động, do vậy KTTT là nhóm
ngành kinh doanh với hình thức lao động dịch vụ cung ứng cho người tiêu dùng.
KTTT hay kinh doanh TDTT là hoạt động của bộ phận TDTT và cơ cấu sản xuất
kinh doanh dịch vụ hoặc dịch vụ TDTT để thỏa mãn nhu cầu giải trí, rèn luyện thân
thể của con người [14],[15],[16]. Đây là ngành cung ứng sản phẩm tiêu dùng đặc

trong giao dịch thương mại quốc tế” [17, tr.18]. Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại (GATT) có định nghĩa khá rõ ràng về “Thương mại dịch vụ”, được hiểu
là sự cung cấp một dịch vụ. Theo khái niệm nêu trên, WTO phân loại 12 ngành dịch
vụ và 155 phân ngành. Mỗi ngành hoặc phân ngành trong danh mục phân loại được
xác định tương ứng với mã số của bảng phân loại trung tâm, tương tự như xác định
mã phân loại hàng hoá trong biểu thức xuất nhập khẩu. Như vậy, “dịch vụ thể dục
thể thao” là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân thuộc nhóm ngành thứ ba của
nền kinh tế. Điều này có ý nghĩa như sau:

Phản ánh quy luật phát triển kinh tế và xu thế phát triển của nó có nhu cầu
phát triển TDTT của xã hội;
7

Thừa nhận TDTT là một thành phần kinh tế phản ánh sự thay đổi về quan
niệm và nhận thức đối với TDTT;
Thừa nhận TDTT thuộc thành phần thứ ba của nền kinh tế có nghĩa là phải
nghiên cứu căn cứ lý luận và nhiều vấn đề về KTTT.
Bảng 1.1 Phân loại kinh doanh TDTT theo quy định quốc tế của WTO
năm 1998 thuộc ngành văn hoá giải trí [17]

TT
Mã ngành
Tên phân ngành
1
965
Dịch vụ TDTT và TDTT giải trí
2
9651
Dịch vụ tổ chức tuyên truyền TDTT và TDTT giải trí
3

CPC 96412
Dịch vụ tổ chức các sự kiện thể thao
2
CPC 96413
Dịch vụ vận hành các trang thiết bị thể thao
3
CPC 96414
Các dịch vụ thể thao khác

Tóm lại, đối với kinh doanh dịch vụ TDTT thì dịch vụ là sản phẩm đặc biệt
không ở dạng vật chất và giá trị sử dụng của nó khác với sản phẩm vật chất (hàng
hóa). Nó chứa đựng trong hiệu quả có ích của lao động sống, có thể là đối tượng
chứa đựng trong hiệu quả có ích của lao động sống, có thể là đối tượng của quá
trình mua bán, có mục đích sử dụng. Hay nói cách khác thì dịch vụ không phải là
sản phẩm chính, nó chỉ là một công cụ cạnh tranh mà các doanh nghiệp cung ứng ra
thị trường là hàng hóa vật thể chứ không phải là dịch vụ, nó chỉ mang tính hỗ trợ.
1.1.3 Các ngành kinh doanh dịch vụ thể thao
Theo tài liệu của LiMing “Bàn về sản nghiệp thể thao” năm 2000 [128], đã
đưa ra sơ đồ tổng hợp các ngành kinh doanh TDTT trong đó kinh doanh dịch vụ gắn
liền với các hoạt động kinh doanh tài sản TDTT thuộc các nhóm sau:
8

Ngành kinh doanh dịch vụ thể thao có tính tham dự: người tham dự trực
tiếp tham gia vào tất cả những dịch vụ trong các hoạt động thể thao. Đối tượng kinh
doanh là người tham gia các giải đại hội thể thao, các giải thể thao chuyên nghiệp,
nghiệp dư, thể thao trường học, các hoạt động của CLB…
Ngành kinh doanh dịch vụ thể thao thưởng thức: tất cả những dịch vụ được
cung cấp để thưởng thức các hoạt động thi đấu. Đối tượng kinh doanh bao gồm các
giải thi đấu chuyên nghiệp, nghiệp dư, lấy việc bán vé làm nguồn thu.
Ngành kinh doanh dịch vụ chứng nhận chuyên môn thể thao: Do nhu cầu

Như vậy, trong các mã số kinh doanh TDTT nêu trên ở nước ta còn thiếu một
số mã ngành kinh doanh như: Môi giới thể thao, Truyền hình thể thao, Vật kỷ niệm
thể thao, Đặt Cược thể thao, Công trình thể thao, Du lịch thể thao, Nhìn chung,
bước đầu Nhà nước đã công nhận phân loại mã số kinh doanh của nhiều hạng mục
về TDTT cũng như sự chuyển biến về nhận thức đối với KTTT, mặc dù còn phát
triển chậm so với một số nước Đông Nam Á.
1.2 Sản phẩm, hàng hóa dịch vụ TDTT
1.2.1 Sản phẩm dịch vụ TDTT
Sản xuất xã hội phân hai loại, lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất phi vật
chất, thành quả lao động của chúng khác nhau, sản xuất phi vật chất có nhiều loại,
trong đó có sản phẩm dịch vụ TDTT [16],[21]. Sản phẩm dịch vụ TDTT đa phần
thuộc các dịch vụ văn hóa xã hội, sản phẩm được sản xuất ra trong lĩnh vực thể thao
(thi đấu, biểu diễn, giải trí) là sản phẩm của ngành dịch vụ giải trí; dịch vụ truyền
thông và dịch vụ luân chuyển nguồn nhân lực (VĐV, HLV chuyên nghiệp)
1.2.1.1 Phân loại sản phẩm dịch vụ TDTT
Sản phẩm dịch vụ TDTT có thể phân loại dựa trên nhiều cơ sở khác nhau [37]:
Theo hình thức xã hội: dịch vụ TDTT chia thành dịch vụ miễn phí (các giờ
học thể dục trong trường phổ thông ) và dịch vụ mất tiền (các giờ học ở CLB,
trung tâm thể thao );
Theo động cơ sản xuất: dịch vụ TDTT có thể là thương mại (đem lại lợi
nhuận cho người sản xuất) và phi thương mại (các dịch vụ phúc lợi xã hội);
10

Theo hình thức sử dụng: dịch vụ TDTT chia thành các dịch vụ cá nhân
(những bài tập thể dục độc lập) và dịch vụ quần chúng (luyện tập TDTT tập thể);
Theo động cơ sử dụng: dịch vụ TDTT chia thành tư nhân (luyện tập thể thao
của một con người cụ thể tại một bể bơi ) và dịch vụ công (thuê bể bơi để tổ chức
thi đấu thể thao ).
Theo đặc điểm về nhu cầu: dịch vụ TDTT chia thành dịch vụ Giải trí (sự
hiện diện của một cá nhân ở một trận đấu để xem trực tiếp hoặc xem trên truyền

Sản phẩm dịch vụ TDTT không như sản phẩm vật chất. Đây là loại sản phẩm
không định dạng bằng thể tích, độ dài, trọng lượng… mà ở dạng “cung ứng hoạt
động”. Do vậy, không thể tách hành vi sản xuất khỏi sản phẩm, quá trình sản xuất
kết thúc thì sản phẩm không còn tồn tại [16],[19],[20],[21]. Quá trình sản xuất kết
thúc (như kết thúc thi đấu), cũng đồng thời với kết thúc tiêu dùng (hết giá trị của
tấm vé mua vào sân xem thi đấu). Sản phẩm dịch vụ TDTT khác biệt với sản phẩm
dịch vụ tương tự, sản phẩm TDTT khác với sản phẩm giáo dục, sản phẩm văn hóa
nghệ thuật, sản phẩm ý tế
Những đặc điểm của sản phẩm dịch vụ TDTT có liên quan chặt chẽ với việc
tiêu thụ các dịch vụ vật chất (quảng cáo, sửa chữa các dụng cụ và trang thiết bị thể
thao) và hàng hóa (quần áo thể thao, giầy, hàng hóa, dụng cụ thể thao ). Những
dịch vụ vật chất và hàng hóa vừa nêu trên, bản thân nó không phải là sản phẩm trực
tiếp của Ngành TDTT. Nói cách khác, những dịch vụ văn hóa xã hội, dịch vụ vật
chất và hàng hóa được tiêu thụ trong một hệ thống đồng bộ, thống nhất. Nếu nhu
cầu dịch vụ phi vật chất tăng lên thì sẽ kéo theo nhu cầu dịch vụ vật chất, hàng hóa
tăng lên.
1.2.2 Hàng hóa TDTT
Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sản phẩm dịch vụ TDTT đương nhiên
trở thành hàng hóa, nếu là dịch vụ công hoặc dịch vụ vì lợi nhuận phục vụ cộng
đồng (không kể sản phẩm phục vụ cộng đồng không thu phí). Hàng hóa TDTT dùng
để trao đổi sản phẩm, dịch vụ TDTT, đây là biểu hiện quan hệ hợp tác giữa người
lao động dịch vụ TDTT với những người lao động khác hoặc tiêu thụ sản phẩm
TDTT.
12

Như vậy, khái niệm về hàng hoá TDTT là: “Những sản phẩm được cung ứng
ra thị trường tiến hành dưới hình thức mua bán, trao đổi giá cả nhằm thoả mãn nhu
cầu của xã hội. Tuy nhiên, bao hàm cả những sản phẩm dịch vụ phi vật chất. Sự
thoả mãn ở đây bao hàm cả những nhu cầu về thể chất, tinh thần. Hàng hóa TDTT
là những sản phẩm, dịch vụ hoặc cả sản phẩm và dịch vụ được kết tinh trong sản phẩm

động kinh tế.
Vì vậy, theo phân tích như trên có thể xem TDTT là một bộ phận của kinh tế
đã trở thành quy luật phổ biến trên thế giới, mặc dù ở nhóm ngành kinh tế thứ ba, có
liên quan phần nào đó tới nhóm ngành kinh tế thứ hai. Kinh tế hóa TDTT để tạo
thành nguồn kinh phí phát triển Sự nghiệp TDTT đồng thời góp phần tăng GDP cho
quốc gia, có tác dụng tốt đối với xã hội.
1.2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện, đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa
Nguyên nhân để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Hàng hóa TDTT cũng
giống như các loại hàng hóa khác, đều là hàng hóa lao động có giá trị và giá trị sử
dụng. Sản phẩm dịch vụ TDTT được trao đổi, trở thành đối tượng trao đổi, có mối
quan hệ trao đổi và giá trị trao đổi với người tiêu thụ sản phẩm sẽ thành hàng hóa
TDTT.
Các điều kiện để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Thể chế quản lý phải
chuyển từ quản lý hàng hóa đơn thuần sang hình thức quản lý kinh doanh; Quản lý
hàng hóa đơn thuần là kế hoạch tập trung không theo cơ chế thị trường, không quan
tâm đến quản lý KTTT; Còn thể chế quản lý kinh doanh TDTT khiến TDTT phát
triển phù hợp với kinh tế thị trường, có sự điều tiết của chính phủ, thể chế quản lý
theo phương thức mới của chính phủ: [16],[20],[21]
Xây dựng hệ thống thị trường dịch vụ TDTT, muốn trao đổi hàng hóa nhất
thiết phải có thị trường. Hệ thống thị trường TDTT gồm nhiều loại tác động lẫn
nhau;
Nghiên cứu phát triển thị trường TDTT thông qua điều tra khảo sát để phát
triển thị trường TDTT một cách có ý thức kế hoạch;
14

Hình thành tổ chức thích hợp để quản lý KTTT và đào tạo bồi dưỡng nhân tài
quản lý kinh doanh TDTT. Đây là điều kiện quan trọng vì thiếu tổ chức, thiếu nhân
tài quản lý về lĩnh vực này thì không thể phát triển kinh doanh TDTT.
Đặc điểm để dịch vụ TDTT trở thành hàng hóa: Khác với hàng hóa vật chất,
hàng hóa TDTT có giá trị thưởng thức, nghệ thuật nhất định, quá trình sử dụng hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status