CHUYÊN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG LỰA CHỌN NGỮ LIỆU PHÂN TÍCH TRONG KIỂU BÀI LÍ
LUẬN VĂN HỌC KHÔNG GIỚI HẠN NGỮ LIỆU CHỨNG MINH CHO HỌC
SINH CHUYÊN VĂN
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
1. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi văn, bên cạnh vi ệc
giảng dạy và cung cấp kiến thức văn học cho học sinh thì rèn kĩ năng làm
văn là một khâu quan trọng có ý nghĩa thực tiễn không th ể ph ủ nh ận. T ừ
kiến thức học sinh lĩnh hội qua bài giảng của thầy cô, qua các tài liệu tham
khảo mà các em tự học đến một bài văn nghị luận hoàn chỉnh là cả m ột
quá trình rèn luyện công phu, nghiêm túc đòi h ỏi s ự cố gắng nỗ l ực của cả
thầy lẫn trò. Vì vậy, việc rèn kĩ năng làm văn cho học sinh chuyên văn là
một công việc quan trọng với mỗi một giáo viên đặc biệt là giáo viên d ạy
chuyên.
2. Xuất phát từ cấu trúc của đề thi học sinh giỏi quốc gia môn ng ữ văn.
Trong đề phần NLVH dạng đề là nghị luận ý kiến bàn về văn học, vấn đề
được đưa ra có tính lí luận văn học sâu sắc. Để làm sáng t ỏ các nh ận đ ịnh
trên học sinh cần có ngữ liệu phân tích là các tác phẩm văn học. Chúng tôi
thấy rằng xu hướng ra đề nhằm giúp phát huy sự sáng tạo, năng l ực c ảm
thụ của học sinh người viết thường không giới hạn ngữ liệu cần phân tích,
hoặc định hướng có tính chất mở đòi hỏi học sinh c ần tinh nh ạy trong
việc chọn ngữ liệu phân tích làm nên màu sắc cho bài văn của mình.
3. Để giải quyết yêu cầu của các đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn
ngữ văn, học sinh phải vận dụng rất nhiều các thao tác lập luận trong văn
nghị luận, trong đó không thể không sử dụng thao tác phân tích, ch ứng
minh để đảm bảo tốt điều này cần có sự lựa ch ọn ngữ li ệu phân tích t ốt.
Đây là một phần chiếm dung lượng lớn về kiến th ức trong bài nhưng có
những năm gần đây không thay đổi, gồm có hai câu h ỏi, yêu c ầu h ọc sinh
viết bài văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học theo đ ịnh h ướng trong
đề bài. Ở đây chúng tôi chú trọng đến câu hỏi 2: ph ần NLVH trong đ ề thi.
Sau đây là một số đề bài thi chọn học sinh giỏi quốc gia nh ững năm g ần
đây:
Đề thi năm 2010:
Câu 2: (12,0 điểm)
“Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người
qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”.
Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh/chị hãy bình luận
nhận định trên.
Đề thi năm 2011:
Câu 2. (12,0 điểm)
Mỗi hình tượng nhân vật phụ nữ thực sự thành công bao giờ cũng là
kết quả của sự phát hiện sâu sắc về nữ tính.
Bằng việc phân tích một số nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong các tác
phẩm đã học từ văn học dân gian đến văn học hiện đại, anh/ch ị hãy làm
sáng tỏ nhận định trên.
Đề thi năm 2012:
Câu 2. (12,0 điểm)
Các nhà văn, nhà thơ nhân đạo lớn thường gửi vào sáng tác một cách
nhìn sâu sắc về con người, cách nhìn này hướng đến đời sống nội tâm và
cảm xúc
Bằng việc phân tích một vài tác phẩm trung đại và hiện đại đã h ọc,
anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
Đề thi năm 2013:
Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận
những nhận định trên.
Đề thi năm 2017
Câu 2: Nghị luận văn học (12,0 điểm)
Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là s ự c ất ti ếng
bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những
trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Đề thi năm 2018
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: “Hãy
biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!”
Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Lưu Trọng Lư cho rằng: “sự
sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phỉa được nâng lên, phải
được tập trung cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng nh ư dâu xanh
phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu. sự thực
phải được sáng tạo, phỉa được nâng cao lên đôi cánh c ủa t ư t ưởng đ ể l ại
tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống”
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình lu ận nh ững quan
niệm trên.
Đề thi năm 2019.
Câu 2 (12 điểm): “Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm
thơ. Lúc đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người"?
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình.
Từ việc khảo sát một loạt các đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia
môn ngữ văn những năm gần đây, có thể nhận thấy, câu hỏi NLVH đều có
hình thức đưa ra nhận định và yêu cầu học sinh bình luận, đặc biệt các đề
văn học hiện đại, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. (Năm 2011)
2.Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng ch ỉ nh ằm th ể
hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện . Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên
(Năm 2014)
3.Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng ch ỉ th ực
sự sống bằng tâm trí của người đọc. Bằng tri thức và trải nghiệm văn học
của mình, bạn hãy bình luận ý kiến trên (Năm 2015)
Yêu cầu đặt ra với phần giải thích của dạng đề này là học sinh ph ải khám
phá những từ ngữ quan trọng trong nhận định, để t ừ đó nh ận ra v ấn đ ề
cần nghị luận. Chẳng hạn với đề thi năm 2011, học sinh cần gi ải thích
cách hiểu của mình về khái niệm "nữ tính" và những biểu hiện của nó
trong văn học. Người viết cần hiểu được: nhận định nêu trong đề bài nhấn
mạnh việc phát hiện phương diện nữ tính của người phụ n ữ trong quá
trình sáng tạo là nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của hình
tượng nhân vật phụ nữ trong tác phẩm. Đồng thời thấy được, nh ận đ ịnh
cũng gián tiếp đề cập đến một yêu cầu không thể thiếu đối v ới ng ười
nghệ sĩ chân chính: gắn bó với đời sống, hiểu biết kĩ lưỡng về cuộc s ống,
về con người; trong đó, có việc nhận thức thực sự sâu sắc về gi ới. Cần ch ỉ
rõ: đây là một nhận định đúng đắn, sâu sắc đề cập đến một trong nh ững
yêu cầu cao về chất lượng đối với sáng tạo nghệ thuật.
b.Kiểu đề nghị luận về nhiều ý kiến bàn về một vấn đề văn học
Đề thi năm 2016 xuất hiện hai ý kiến cùng bàn v ề một v ấn đ ề trong
văn học:
Marcel Proust quan niệm: “ Thế giới được tạo lập không phải một lần,
mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần th ế gi ới đ ược
tạo lập”. Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra
đời”. Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình lu ận nh ững
nhận định trên.
Bước 2: Khái quát nội dung nhận định, rút ra vấn đề cần bàn luận
Bước 3: Vận dụng cơ sở lí luận để làm rõ vấn đề (Đi cùng v ới ph ần
chứng minh)
Một lưu ý là với bài thi học sinh giỏi, phần gi ải thích nhi ều khi không
tách bạch hoàn toàn thành một phần riêng, mà nó có thể đan xen cùng
với phần chứng minh, bàn luận để tăng tính thuyết phục, cũng nh ư làm
cho bài viết linh hoạt, sinh động hơn.
Bản chất của văn nghị luận là dùng những lí lẽ, dẫn ch ứng để thuy ết
phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó, nên diễn đạt ph ải
thấu tình đạt lí, có sức truyền cảm. Vậy nên ngay trong ph ần gi ải thích,
bên cạnh việc rèn tư duy, giáo viên cũng cần chú ý đến cách di ễn đ ạt
của các em trong việc làm sáng tỏ vấn đề. Muốn vậy, c ần ph ải h ướng
dẫn các em ngay trong quá trình học tập, khi đ ứng tr ước m ột đ ề văn
phải tuân thủ các bước cơ bản như tìm hiểu đề, tìm ý, viết nháp và s ửa
chữa. "Văn ôn võ luyện", được thực hành nhiều kiểu bài khác nhau, các
em sẽ nhuần nhuyễn hơn trong lối viết và cũng t ự mình nh ận ra cách
viết phù hợp cho từng dạng bài.
2.
Bước 2: Lựa chọn ngữ liệu phân tích để chứng minh.
Dựa trên những hiểu biết, khi đã giải thích để xác định vấn đ ề ngh ị lu ận
học sinh cần lựa chọn ngữ liệu phân tích một cách phù h ợp nh ằm làm
sáng tỏ vấn đề lí luận được đặt ra trong đề.
2.1. Những căn cứ để chọn ngữ liệu phân tích.
a. Dựa chọn ngữ liệu phân tích dựa theo nội dung, kiến thức ,v ấn đ ề
LLVH đặt ra trong ý kiến được nêu ra.
- Trong ý kiến được nêu ra sẽ là những đánh giá về một hay vài m ảng n ội
dung liên quan đến vấn đề LLVH như: thể loại (thơ, truyện ngắn, tiểu
phẩm truyện ngắn trong giai đoạn 1930-1945.
ð Như vậy ngữ liệu cần lựa chọn:+ Vấn đề LLVH cần làm sáng tỏ: đặc
trưng của thể loại truyện ngắn.
+ Ngữ liệu thuộc thể loại truyện ngắn
+ Giai đoạn: 1930- 1945.
+ Các tác phẩm tiêu biểu có thể lựa chọn:
Hai đúa trẻ( Thạch Lam), Chí Phèo( Nam Cao), Chữ người tử tù( Nguy ễn
Tuân)
+ số lượng ngữ liệu: 1 tác phẩm.
Ví dụ 2: “Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần,
do đó không đơn giản mà cũng không thần bí, thiêng liêng…Thơ ca chân
chính phải là nguồn thức ăn tinh thần, nuôi tâm hồn phát tri ển, nó không
được là thứ thuốc phiện tinh thần êm ái mà nhỏ nhen, độc hại…” (Phương
Lựu)
Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua một s ố bài
thơ trong phong trào Thơ Mới.
-
Hướng dẫn:
Học sinh tự lựa chọn một số bài thơ Mới (trong hoặc ngoài ch ương
trình) để chứng minh song yêu cầu tác phẩm phải tiêu biểu, phù h ợp
vấn đề lý luận và biết thông qua tác phẩm để làm sáng t ỏ v ấn đ ề lý
luận.
Gợi ý:
·
Vội vàng – Xuân Diệu
/ Cái nhìn thời gian tuyến tính một đi không trở lại, cuộc đ ời và tu ổi xuân
con người ngắn ngủi, hữu hạn
/ Trong vũ trụ, tạo vật đẹp nhất là con người – con ng ười khi s ống gi ữa
tuổi trẻ và tình yêu
-
Vội vàng nuôi dưỡng tâm hồn người đọc
+ Bài thơ giúp mỗi chúng ta biết trân trọng sự sống, tận hưởng h ạnh phúc
ngay trên mảnh đất trần gian, ngay trước mắt
+ Bài thơ rèn luyện cho mỗi chúng ta biết rung cảm, biết kh ơi d ậy các giác
quan để tận hưởng, thưởng thức đến tận độ bức tranh thiên nhiên
+ Bài thơ giúp mỗi người nhận ra giá trị quý giá của th ời gian, t ừ đó bi ết
trân trọng từng giây phút mình đang sống sao cho có ý nghĩa nh ất
+ Bài thơ thúc đẩy mỗi người cần thức tỉnh chính mình, sống vội vàng, gấp
gáp, chạy đua với thời gian, sống có ý nghĩa.
c. Lựa chọn ngữ liệu dựa theo hiểu biết của bản thân, sở trường của
bản thân người viết.
- Sau khi đã liệt kê tất cả các ngữ liệu đảm bảo tất cả các yêu cầu về kiến
thức LLVH về hạn định hướng hạn định của người ra đề, học sinh l ựa ch ọn
những ngữ liệu dựa theo năng lực văn chương của bản thân. L ựa ch ọn các
tác phẩm, các tác giả, các vấn đề mà mình hiểu biết nhất, tâm đắc nh ất,
mới mẻ nhất điều đó giúp học sinh thể hiện hết hiểu biết, khả năng c ảm
thụ và tạo được sự sáng tạo nhất.
d. Lựa chọn dẫn chứng mới mẻ phát huy tính sáng tạo.
- Với những đề bài người ra đề muốn phát huy sự sáng t ạo cao nh ất c ủa
học sinh thường sẽ để “ đất” cho học sinh chọn dẫn ch ứng. Học sinh có th ể
chọn những ngữ liệu nằm ngoài chương trình có tính tiêu bi ểu, ng ữ li ệu
tiêu biểu điển hình của văn học đương đại trong và ngoài n ước. Đi ều này
hiện thực chủ nghĩa đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc, nhà văn ý th ức
sâu sắc về việc tìm hướng đi riêng, “sáng tạo những gì ch ưa có”. Ông đã đi
sâu vào thế giới nội tâm của con người, coi đó là đối tượng để khắc h ọa và
trở thành nhà văn của “chủ nghĩa hiện thực tâm lí”. V ẫn là hi ện th ực,
nhưng ngòi bút Nam Cao luôn hướng đến việc khám phá, phát hi ện “con
người trong con người”, bằng nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lí b ậc
thầy – đó là tất cả những yếu tố về hình thức nhà văn sử d ụng đ ể th ể hiện
thế giới nội tâm của nhân vật. có thể nói, nhận định đã khái quát đ ược
những đặc trưng cơ bản nhất của phong cách nghệ thuật Nam Cao ở hai
khía cạnh : Điểm nhìn và nghệ thuật.
Vì sao có thể khẳng định như vậy ? Trước hết, về đ ặc tr ưng và b ản
chất của văn học, đối tượng của văn học là hiện thực cuộc sống mà trung
tâm là con người trong hoàn cảnh, trong các mối quan hệ. Con ng ười ưu
việt hơn hẳn các loài động vật vì chúng ta có ý th ức, có t ư t ưởng, có m ột
thế giới nội tâm vô cùng phong phú và phức tạp. Chính vì v ậy, kh ắc h ọa
con người thì tâm lí là một khía cạnh rất sâu sắc mà nhà văn cần khai thác.
Trong thời đại mà cây bút Nam Cao xuất hiện đã có những Vũ Trọng
Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, chính vì vậy các vấn đ ề lớn lao của hiện
thực đời sống hầu như đã được giải quyết. Hơn nữa, khi mặt trận dân chủ
kết thúc, những mâu thuẫn xã hội gay gắt không thể tr ở thành đ ề tài sáng
tác của văn học hợp pháp. Nam Cao đành ph ải ch ọn vi ết về nh ững cái nh ỏ
nhặt của đời sống, nâng nó lên tâm triết lí và đào sâu vào n ội tâm con
người. Đặc biệt, phong cách của Nam Cao độc đáo b ởi ông luôn nhìn hi ện
thực bằng cái nhìn từ bên trong, chuyển điểm nhìn linh hoạt vào các nhân
vật để miêu tả hiện thực. Nhà văn luôn nhìn hiện th ực bằng cái nhìn có
chiều sâu, khám phá ra bản chất của con người. Đ ọc văn Nam Cao, ta c ứ
ngỡ nhà văn vô cảm, lạnh lùng, nhưng th ực chất, ông luôn nhìn th ấy b ản
chất tốt đẹp của con người, luôn yêu thương con ng ười. Đó chính là chũ
trình trước lớp dưới sự tổ chức của giáo viên, các em sẽ tích c ực, ch ủ đ ộng,
sáng tạo, cũng như hứng thú trong việc trình bày, diễn giải về m ột vấn đề.
3. Vấn đề nghiên cứu đòi hỏi kinh nghiệm già dặn trong quá trình b ồi
dưỡng học sinh giỏi văn mà tôi tự nhận thấy kinh nghiệm tích lũy còn r ất
nhiều hạn chế. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các bạn đ ồng
nghiệp để tôi hoàn thiện chuyên đề, đưa chuyên đề vào thực tế giảng dạy
đạt hiệu quả cao nhất.