1
HỘI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC
DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
“MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN:
KHÍ HẬU – ĐỊA HÌNH – ĐẤT – SINH VẬT”
THPT Chuyên Hưng Yên
Năm học 2017 – 2018
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU............................................................................................................................4
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................................................4
2
2. Mục đích của đề tài.........................................................................................................................5
B. PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................................6
PHẦN 1. KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN:
KHÍ HẬU - ĐỊA HÌNH - ĐẤT - SINH VẬT.....................................................................................6
1. Mối quan hệ địa lí...........................................................................................................................6
1.1. Phân loại mối quan hệ địa lí.........................................................................................................6
1.2. Mối quan hệ nhân quả giữa các thành phần tự nhiên..................................................................7
2. Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên: khí hậu – địa hình – đất – sinh vật............................8
2.1. Tác động của khí hậu, sinh vật, đất đến địa hình.........................................................................8
2.1.1. Tác động của khí hậu đến địa hình...........................................................................................8
2.1.1.1. Miền khí hậu nóng ẩm...........................................................................................................9
2.1.1.2. Miền khí hậu khô nóng (hoang mạc và bán hoang mạc).....................................................10
2.1.1.3. Miền khí hậu lạnh................................................................................................................13
2.4.2.2. Các nhóm đất tương ứng với các kiểu khí hậu chính trên Trái Đất....................................40
2.4.3. Tác động của địa hình đến đất................................................................................................44
3. Nguyên nhân và ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên.....................45
3.1. Nguyên nhân của mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên...................................................45
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên đối với hoạt động kinh tế xã
hội của con người..............................................................................................................................46
PHẦN 2. HỆ THỐNG CÁC DẠNG BÀI TẬP ÔN LUYỆN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC
THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN: KHÍ HẬU - ĐỊA HÌNH - ĐẤT - SINH VẬT...................................47
1. Dạng bài tập cơ bản......................................................................................................................47
2. Dạng bài tập nâng cao...................................................................................................................49
2.1. Dạng bài tập về mối quan hệ nhân quả đơn giản.......................................................................50
2.2. Dạng bài tập về mối quan hệ nhân quả phức tạp.......................................................................66
2.2.1. Dạng bài tập về mối quan hệ: nhiều nguyên nhân dẫn đến một kết quả................................66
2.2.2. Dạng bài tập về mối quan hệ: một nguyên nhân dẫn đến nhiều kết quả................................71
2.2.3. Dạng bài tập phân tích một chuỗi các mối quan hệ nhân quả................................................73
PHẦN 3. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH
PHẦN TỰ NHIÊN: KHÍ HẬU - ĐỊA HÌNH - ĐẤT - SINH VẬT..................................................74
1. Phương pháp sơ đồ hóa.................................................................................................................74
2. Phương pháp giảng giải................................................................................................................75
3. Phương pháp đàm thoại gợi mở....................................................................................................76
4. Phương pháp sử dụng bản đồ, tranh ảnh, mô hình.......................................................................77
5. Phương pháp nêu vấn đề...............................................................................................................78
C. PHẦN KẾT LUẬN......................................................................................................................81
1. Những vấn đề quan trọng của đề tài.............................................................................................81
2. Đề xuất, ý kiến..............................................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................83
4
nói riêng và các mối quan hệ địa lí nói chung còn là con đường để phát triển tư duy Địa
lí cho học sinh. Khả năng xác định được các mối quan hệ nhân quả là thước đo trình độ
phát triển tư duy của học sinh.
Đối với thi học sinh giỏi môn Địa lí các cấp, nhất là thi học sinh giỏi Quốc gia
THPT, những câu hỏi mô tả đặc điểm sự vật hiện tượng địa lí tự nhiên không nhiều, chủ
yếu là câu hỏi “tại sao”, đòi hỏi học sinh phải tìm ra nguyên nhân của các sự vật hiện
tượng địa lí. Muốn tìm ra nguyên nhân các em cần phải phân tích được mối quan hệ
giữa các thành phần giống như N.N.Branxiki đã viết: “Thực chất của việc hình thành
các mối quan hệ nhân quả là việc tìm ra các nguyên nhân của sự vật, hiện tượng. Việc
vạch ra nguyên nhân hình thành đối với các hiện tượng, đối tượng tự nhiên và kinh tế -
5
xã hội là một trong những mặt quan trọng nhất trong dạy học của giáo viên Địa lí. Vấn
đề về mối liên hệ của các hiện tượng là vấn đề quan trọng nhất đối với phương pháp
luận địa lí với tư cách là một khoa học và cả đối với phương pháp luận địa lí với tư cách
là một môn học trong nhà trường”.
Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản của học sinh nhưng phần kiến thức về
mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên chưa được đầy đủ, chi tiết và hệ thống thành
chuyên đề phục vụ cho việc ôn luyện bồi dưỡng học sinh giỏi.
Vì nhiều những lí do quan trọng như trên nên tôi đã chọn và viết chuyên đề mối
mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên: khí hậu – địa hình – đất – sinh vật phục vụ
cho việc ôn luyện, bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc Gia THPT.
2. Mục đích của đề tài.
- Trình bày mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên: khí hậu – địa hình – đất –
sinh vật.
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến mối quan hệ tác động quan lại giữa các thành
phần tự nhiên.
- Phân tích ý nghĩa thực tiễn của mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên đối
quanh; giữa sông ngòi với địa hình, khí hậu, ... đây thường là những liên hệ nhân - quả.
- Những mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí kinh tế xã hội với nhau, chẳng
hạn việc xây dựng các nhà máy đường ở Thanh Hóa, Quảng Ngãi liên quan đến nơi đó
có nguồn nguyên liệu dồi dào (là các tỉnh trồng mía với qui mô lớn) ...
- Những mối quan hệ giữa tự nhiên và kinh tế xã hội, ví dụ sử dụng đồng cỏ để
phát triển chăn nuôi, sử dụng thác nước làm thủy điện, phát triển công nghiệp chế biến
gỗ, giấy dựa vào tài nguyên rừng …
Mối quan hệ địa lí cũng có thể phân chia thành hai loại là mối quan hệ địa lí
thông thường với những mối quan hệ nhân quả. Cách phân biệt mối quan hệ địa lí thông
thường với những mối quan hệ nhân quả là đặt câu hỏi, phân tích và trả lời: “phải chăng
cứ có cái này thì phải có cái kia?”. Ví dụ như: Phải chăng cứ có rừng thì có công nghiệp
gỗ, giấy, xenlulô phát triển? Cứ có biển thì ngành hàng hải và ngành đánh cá phát triển?
Phải chăng cứ ở vĩ độ cao thì bao giờ cũng lạnh ? Có phải ở gần biển thì bao giờ khí
hậu cũng ôn hòa hơn không? Phải chăng địa hình dốc nhiên chỉ sông ngòi chảy xiết
không? ... Chỉ khi nào câu trả lời khẳng định được thì lúc đó mới có thể phát biểu theo
kiểu: vì … nên. Trong trường hợp câu trả lời phủ định thì đấy là mối quan hệ thông
thường. Chẳng hạn, có thể nói (Thụy Điển, Phần Lan, nằm ở vĩ độ cao nên có khí hậu
lạnh, vì đây là mối quan hệ có tính quy luật, nhưng không thể nói vì Na Uy nằm ở cạnh
biển nên ngành đánh cá và hàng hải phát triển, vì đây không phải là mối liên hệ nhân quả mang tính quy luật, cứ có cái này thì tất yếu phải có cái kia; trong thực tế, cũng có
nhiều nước nằm ven biển, nhưng hai ngành đó không phát triển hay chưa phát triển.
Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên phổ biến là các mối quan hệ nhân quả,
còn mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí kinh tế xã hội với nhau, giữa tự nhiên và
kinh tế xã hội thường không phải là những mối quan hệ nhân quả, có tính quy luật, mà
7
chỉ là những mối quan hệ thông thường: không nhất thiết là có rừng thì công nghiệp gỗ
phát triển, không nhất thiết có đồng cỏ thì chăn nuôi mới phát triển ... Việc khai thác, sử
dụng tự nhiên, xây dựng và phát triển kinh tế còn tùy thuộc một phần lớn vào trí tuệ của
liên hệ nhân quả gián tiếp. Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành đất
là nhiệt và ẩm. Tác động của nhiệt và ẩm làm cho đá gốc bị phá hủy (về mặt vật lí và
hóa học) thành những sản phẩm phong hóa, rồi sau đó tiếp tục bị phong hóa thành đất.
8
Nhiệt và ẩm còn ảnh hưởng tới sự hòa tan, rửa trôi hoặc tích tụ vật chất trong các tầng
đất, đồng thời tạo môi trường để vi sinh vật phân giải và tổng hợp chất hữu cơ cho đất.
Khí hậu ảnh hưởng gián tiếp đến sự thành tạo đất thông qua lớp phủ thực vật. Thực vật
sinh trưởng tốt sẽ hạn chế việc xói mòn đất, đồng thời cung cấp nhiều chất hữu cơ cho
đất.
2. Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên: khí hậu – địa hình – đất – sinh vật.
Mỗi thành phần của lớp vỏ địa lí tồn tại và phát triển theo những quy luật riêng
của nó. Tuy nhiên, không một thành phần nào lại tồn tại và phát triển một cách cô lập,
nghĩa là không chịu ảnh hưởng của các thành phần khác và ngược lại không phát huy
tác dụng ảnh hưởng của mình tới các thành phần khác. Sự trao đổi không ngừng vật
chất và năng lượng giữa các thành phần bộ phận cấu tạo đã qui định tính hoàn chỉnh của
lớp vỏ địa lí. Sự phối hợp hoạt động của tất cả các thành phần biến chúng thành một hệ
thống thống nhất, trong đó thành phần này phụ thuộc và tác động đến thành phần kia.
2.1. Tác động của khí hậu, sinh vật, đất đến địa hình.
Địa hình là tập hợp các dạng lồi lõm trên bề mặt Trái Đất. Địa hình bề mặt thạch
quyển là kết quả tác động tương hỗ giữa các quá trình nội sinh và ngoại sinh được thể
hiện trên bề mặt Trái Đất Địa hình bề mặt Trái Đất rất đa dạng. Trên các lục địa hay ở
đáy đại dương cũng có nơi cao, nơi thấp, có nơi bằng phẳng, nơi gồ ghề. Nơi cao nhất
trên thế giới lên đến gân 9000m, còn nơi sâu nhất ở đáy đại dương cũng xuống tới hơn
11000m. Nguyên nhân của sự khác biệt đó là do tác động của hai lực đối nghịch nhau:
nội lực và ngoại lực. Tác động của nội lực thường làm cho địa hình bề mặt Trái Đất
thêm gồ ghề, còn tác động của ngoại lực lại thiên về san bằng, hạ thấp địa hình. Dựa
vào quá trình hình thành, có thể chia địa hình bề mặt Trái Đất thành: địa hình kiến tạo
nhiệt độ hạ xuống dưới 00C thì hầu như không còn nữa.
Những nơi đá dễ thấm nước và dễ hoà tan như đá vôi, thạch cao, do tác động của
nước trên mặt, nước ngầm và khí cacbonic đã xuất hiện các dạng địa hình đặc biệt như
địa hình cacxtơ. Quá trình hòa tan và tạo thành những dạng địa hình khác nhau ở trên
mặt đất và ở dưới sâu được gọi là quá trình cacxtơ. Cường độ của quá trình cacxtơ phụ
thuộc rất nhiều vào các yếu tố khí hậu, do đó mặc dù địa hình cacxtơ gặp được từ cực
cho tới xích đạo nhưng tương ứng với mỗi đới khí hậu, địa hình cacxtơ lại có những nét
riêng. Ở miền nhiệt đới ẩm, vì nhiệt độ cao nên lượng CO 2 hoà tan trong nước ít hơn so
với miền cực, nhưng quá trình cacxtơ vẫn phát triển với cường độ rất lớn nhờ lượng
mưa và nhất là nhờ hàm lượng axít hữu cơ rất cao (do sinh vật phát triển mạnh). Với
nền nhiệt cao ẩm lớn, nước ta có tương đối nhiều hang động cacxtơ ví dụ như động
Phong Nha, động Hương Tích, ...
Động Phong Nha (hang ướt).
Động Hương Tích (hang khô).
Ở miền khí hậu nóng ẩm, lượng mưa lớn (kết hợp nhiệt ẩm cao hình thành lớp vỏ
phong hóa dày) nên quá trình xâm thực do nước chảy diễn ra mạnh theo chiều sâu với
cường độ nhanh làm tăng mức độ chia cắt ngang, chia cắt sâu và biến đổi địa hình nhất
là ở những nơi mất lớp phủ thực vật hoặc canh tác nông nghiệp lạc hậu. Địa hình xâm
thực do nước chảy trên mặt bao gồm nhiều loại khác nhau như các rãnh nông (do nước
mưa rơi xuống chảy tràn), khe rãnh xói mòn (dòng chảy tạm thời xuất hiện khi có mưa
10
lớn) ... Mưa nhiều dẫn đến quá trình xâm thực mạnh và đồng thời quá trình bồi tụ cũng
diễn ra nhanh, hình thành địa hình các đồng bằng châu thổ. Các đồng bằng châu thổ
sông rất phổ biến ở miền khí hậu nóng ẩm như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông
Mê Kông, đồng bằng sông Hằng, ...
Ở vùng hoang mạc, vai trò của gió trong việc hình thành địa hình nổi bật hẳn lên
không phải do gió lớn và thổi thường xuyên mà do thiếu lớp phủ thực vật và tính chất
khô hạn của đất. Hơn nữa, quá trình phong hóa vật lý xảy ra mạnh, nơi đây đá thường
bị nứt vỡ, đồng thời có nhiều nguyên liệu dễ bị gió mang đi như: cát, bụi. Tác dụng của
gió bao gồm xâm thực (thổi mòn và khoét mòn), vận chuyển và tích tụ. Địa hình do gió
tạo thành cũng hết sức đa dạng như những hố trũng thổi mòn, bề mặt đá rỗ tổ ong,
những ngọn đá sót hình nấm, cồn cát, ...
Thổi mòn là tác dụng của gió làm cuốn đi những hạt nhỏ đã bị phá huỷ bởi bụi,
cát. Những mảnh lớn hơn so với khả năng mang đi của gió sẽ được để lại tại chỗ tạo ra
một lớp đá toàn những mảnh to. Thổi mòn có thể làm những lớp mềm mất đi để tạo
thành hàm ếch thổi mòn. Trong các lớp đá có những phần cứng mềm khác nhau thì thổi
mòn sẽ làm mất đi chỗ mềm để tạo thành những hốc thổi mòn.
Hốc thổi mòn ở bang Utah - Mĩ
Nấm đá ở cao nguyên Altiplano, Bolivia
Khoét mòn là tác dụng phá huỷ của gió khi nó mang theo những hạt đá nhỏ. Tác
dụng của nó bị hạn chế trong phạm vi 2m gần mặt đất, do đó các khối đá sẽ bị khoét đi
nhiều hơn so với trên hình thân nấm. Khi cuống nấm bị đứt sẽ để lại khối đá đung đưa.
Trong phá huỷ có chọn lựa, khoét mòn cũng tạo ra bề mặt đá rỗ tổ ong.
12
Bề mặt đá rỗ tổ ong sa mạc Pinnacles – Nước Úc
Khi sức vận chuyển không còn khả năng thắng trọng lực nữa, tức là gió đã yếu đi
thì cát, bụi phải rơi trở về mặt đất và tạo thành những dạng địa hình tích tụ do gió như:
cồn cát, gò cát, gợn sóng cát ... Gợn sóng cát thường chỉ cao vài cm và thẳng với
góc hướng gió thổi. Gò cát hình thành từ một nhóm cây nhỏ hay một mô đá. Gò cát cao
dưới 1 - 3m, dài khoảng 4m. Trên mặt phẳng, gò cát giống như một cái lưỡi, kéo dài
dọc theo hướng gió thổi và luôn thay đổi theo gió. Cồn cát là những đợt sóng cát khổng
vừa bằng nhau thì núi không tiếp tục cao lên nữa. Độ cao đó của đỉnh núi duy trì cho
đến khi tốc độ nâng lên thua tốc độ bóc mòn. Tốc độ bóc mòn phụ thuộc trước hết vào
các điều kiện khí hậu, sau đó trong một chừng mực nhất định còn phụ thuộc cả vào độ
cứng của đá thành tạo trên núi. Vì vậy, ngay trong cùng một đới khí hậu các đỉnh cao
nhất cũng có sai biệt nhất định về độ cao, mặc dù như trên đã nói, chúng thường cao
xấp xỉ như nhau. Các đỉnh núi cao nhất trên Trái Đất xuất hiện ở vùng chí tuyến vì ở
đây thiếu nước là tác nhân bóc mòn chủ yếu, và do vậy độ cao của các núi cao nhất
giảm dần về phía xích đạo và hai cực.
Biến đổi độ cao của núi theo vĩ độ
2.1.1.3. Miền khí hậu lạnh.
Ở miền khí hậu lạnh, khô quá trình phong hóa lý học diễn ra mạnh do sự đóng
băng của nước. Trong đá có ít nhiều lỗ hổng và khe nứt, nơi có thể lưu giữ nước và hơi
nước. Khi nhiệt độ hạ thấp tới 00C, nước trong khe nứt hóa băng, đồng thời thể tích của
nó tăng thêm, do đó tác động lên thành khe nứt những áp lực rất lớn. Vì vậy, sau mỗi
lần nước trong khe nứt hóa băng bản thân khe nứt lại giãn thêm một ít. Nếu hiện tượng
hoá băng - tan băng xảy ra nhiều lần khối đá sẽ bị vỡ thành những tảng và mảnh vụn.
14
Những vùng khí hậu lạnh băng hà là nhân tố tạo địa hình quan trọng nhất. Địa
hình do băng hà tạo thành gọi là địa hình băng tích. Hiện nay, băng hà chiếm 11% diện
tích lục địa. Băng hà không phải là nước sông hay nước biển bị đóng băng mà do tuyết
tích tụ lâu ngày nên biến đổi mà thành. Khi đạt đến một chiều dày nhất định thì khối
băng có thể chuyển dịch. Khối băng có thể di chuyển theo hướng tác động của trọng lực
(hướng dốc). Do áp lực mạnh (lực ép của khối băng) lớp băng ở đáy sông băng bị tan
chảy làm khối băng trên nó dễ dàng di chuyển hơn, đặc biệt là những nơi có độ dốc lớn.
Trong quá trình di chuyển, băng hà có tác dụng phá huỷ rất lớn. Băng hà không những
dùng các mảnh đá kích thước khác nhau mà nó mang theo để khía, rạch, bào, nạo mà
(ôxalic, malic, cacbonic, sunfuaric ...) có khả năng hòa tan và làm thay đổi thành phần
của đá mẹ. Các vi khuẩn và vi sinh vật dễ dàng vào sâu trong các lớp đá tới 2 – 3 km
tiết ra axit hữu cơ hòa tan các lớp đất đá rất mạnh ...
Ngoài ra sinh vật còn gây nên sự phá huỷ về mặt cơ học, thí dụ: động vật đào
hang, rễ thực vật khi xuyên vào kẽ nứt của đá cũng làm cho khe nứt bị rộng thêm do áp
lực của rễ lên thành khe nứt, dần dần đá và khoáng sẽ bị vỡ nhỏ ra.
Hệ thống rễ cây đang tách khối đá xâm nhập (Đồng Nai)
Sinh vật cũng góp phần tạo nên một số dạng địa hình độc đáo ở vùng biển như
ám tiêu san hô, bờ biển sú vẹt. San hô là động vật phát triển chủ yếu ở vùng nhiệt đới.
Chúng tạo ra những cấu trúc vôi (ám tiêu) mà đôi khi có thể lớn tới hàng km. Cấu trúc
san hô có hình dạng và tên gọi khác nhau. Ám tiêu vòng là cấu trúc dạng vành khăn với
đường kính đôi khi tới 60km. Cấu trúc này vây lấy một cải vụng sâu khoảng 30-100m.
Ám tiêu vòng điển hình nhât thường gặp ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các tập
hợp của các đảo san hô trong quần đảo Hoàng Sa cho ta ấn tượng về ám tiêu vòng.
Rạn san hô vòng Bokak (quần đảo Marshall)
Rạn san hô viền bờ ở Eilat, Israel.
16
Ám tiêu bờ là cấu trúc san hô bám sát lấy bờ làm thành một bãi đá hay một tường
đá chạy dài. Ở bờ biển Trung Bộ, từ Đà Nẵng trở vào có nhiều ám tiêu bờ. Đặc biệt là ở
bờ biển Bình Thuận, ám tiêu bờ làm thành thềm đá cao dựng đứng trên mặt biển.
Ám tiêu chắn là cấu trúc san hô dài hàng chục đến hàng trăm km, song song với
bờ và cách bờ một dải nước rộng. Nổi tiếng nhất là ám tiêu chắn ở bờ đông bắc
Australia (dài hơn 2000km).
ôlêvin ... thì dễ bị phá huỷ. Những nơi đá dễ thấm nước và dễ hoà tan như đá vôi, thạch
cao, do tác động của nước trên mặt, nước ngầm và khí cacbonic đã xuất hiện các dạng
địa hình đặc biệt như địa hình cacxtơ. Các khoáng vật silicat càng chứa nhiều cation,
hoặc hàm lượng Si02 càng thấp, thì độ bền phong hóa càng thấp.
Những loại đá chứa nhiều khoáng vật sẽ có nhiều hệ số dãn nở khác nhau, do đó
bị phá huỷ dễ dàng hơn những loại đá chứa ít khoáng vật. Đá có màu thẫm sẽ hấp thụ
nhiệt mạnh hơn, vì vậy dễ bị phá huỷ hơn đá sáng màu ...
Các sản phẩm của quá trình phong hoá một phần bị nước hoặc gió cuốn đi, phần
còn lại phủ trên bề mặt đá gốc tạo thành lớp vỏ phong hoá, tạo ra vật liệu cho quá trình
vận chuyển và bồi tụ.
2.2. Tác động của địa hình, sinh vật, đất đến khí hậu.
Thời tiết là trạng thái của khí quyển ở khu vực hay địa điểm nào đó vào một thời
điểm cụ thể ; nó được đặc trưng bởi các trị số về nhiệt độ, mây, mưa, độ ẩm tương đối,
gió, vv… của thời điểm đó, được gọi là các yếu tố khí tượng hay các yếu tố thời
tiết. Thời tiết có tính chất không ổn định, hay thay đổi bất thường.
Khí hậu là trạng thái của khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởi các trị số
trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mua, lượng nước bốc hơi, lượng mây,
gió, ... đó là các yếu tố khí hậu. Như vậy khí hậu là trị số trung bình nhiều năm của thời
tiết. Khí hậu có tính chất ổn định, ít thay đổi.
Khí hậu trên Trái Đất rất khác nhau giữa các khu vực, giữa các địa phương, ... Sự
khác nhau đó được tạo ra bởi các nhân tố địa lí của khí hậu là: vĩ độ, địa hình, lớp phủ
thực vật, lục địa đại dương, ... Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tác giả xin tập
trung vào tác động của nhân tố địa hình và sinh vật.
2.2.1. Tác động của địa hình đến khí hậu.
Địa hình là yếu tố phi địa đới có ảnh hưởng lớn đến khí hậu, phá vỡ tính địa đới
của khí hậu theo chiều vĩ độ từ Xích đạo về hai cực.
2.2.1.1. Tác động của địa hình đến nhiệt độ.
Ảnh hưởng của độ cao địa hình: Trong tầng đối lưu, càng lên cao nhiệt độ không
khí càng giảm, trung bình cứ lên cao 100m, nhiệt độ giảm 0,6 0C. Mặc dù vĩ độ gần
tương đương nhau nhưng nhiệt độ trung bình năm của trạm Đà Lạt (18,3 0C) thấp hơn
Ở khu vực ngoại chí tuyến của Bắc bán cầu nhìn chung sườn núi ở phía Nam có
nhiệt độ cao hơn sườn phía Bắc (vì sườn Nam có các tia sáng Mặt Trời chiếu trực tiếp),
ở Nam bán cầu ngược lại sườn núi ở phía Nam có nhiệt độ thấp hơn sườn phía Bắc.
Độ dốc cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến nhiệt độ: cùng hướng sườn phơi
nắng, sườn dốc có nhiệt độ cao hơn sườn thoải, do sườn dốc có góc nhập xạ (góc chiếu
sáng) lớn hơn.
19
Nhiệt độ thay đổi theo độ dốc và hướng phơi của sườn núi (mức độ đốt nóng
được biểu hiện bằng độ dày của lớp được đốt nóng, tô bằng màu đỏ)
Bề mặt địa hình: biên độ nhiệt trong ngày thay đổi theo địa hình. Nơi đất bằng
nhiệt độ ít thay đổi hơn nơi đất trũng vì nơi đất trũng ban ngày ít gió, nhiệt độ cao, ban
đêm khí lạnh trên cao dồn xuống làm cho nhiệt độ hạ thấp. Trên mặt các cao nguyên,
không khí loãng hơn ở đồng bằng nên nhiệt độ thay đổi nhanh hơn ở các đồng bằng.
2.2.1.2. Tác động của địa hình đến khí áp.
Càng lên cao khí áp càng hạ. Trên mặt biển khí áp trung bình đo được là
760mmHg và cứ lên cao 10m khí áp giảm 1mmHg. Điều này được lí giải như sau: càng
lên cao không khí càng loãng bởi vì không khí là thể khí có thể nén được nên không khí
ở tầng trên nén xuống tầng dưới làm không khí tầng dưới đậm đặc hơn. Càng lên cao
thì chịu lực ép của không khí tầng trên càng nhỏ nên loãng hơn và khí áp hạ.
Do vậy khi đi du lịch trên trên các đỉnh núi cao chúng ta không thể luộc chín
được trứng (nhiệt độ sôi của chất lỏng giảm khi áp suất không khí trên bề mặt chất lỏng
giảm và ngược lại). Ở vùng núi cao áp suất không khí giảm rõ rệt khiến nhiệt độ
hoá hơi của nước cũng giảm. Nước hoá hơi dưới 100 0C nên không đủ nóng để luộc chín
trứng).
2.2.1.3. Tác động của địa hình đến độ ẩm không khí.
Độ cao cũng ảnh hưởng rất lớn đến độ ẩm không khí.
Càng lên cao độ ẩm tuyệt đối càng giảm. Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước được
những đỉnh núi cao thường khô ráo.
Cùng một dãy núi sườn đón gió mưa nhiều hơn sườn khuất gió. Ở sườn đón gió,
không khí chuyển động đi lên, nhiệt độ giảm theo tiêu chuẩn của khí ẩm (trung bình cứ
lên cao 100m thì giảm 0,60C), không khí bị lạnh đi, nhiệt độ xuống dưới điểm sương, sự
ngưng kết hơi nước được diễn ra, mây hình thành và mưa rơi xuống từ các đám mây
bên sườn đón gió. Khi các dòng không khí vượt qua sống núi sang sườn khuất gió, hơi
nước đã giảm nhiều, bắt đầu chuyển động đi xuống và nhiệt độ tăng lên theo tiêu chuẩn
không khí khô xuống núi (trung bình cứ hạ thấp 100m thì tăng 10C) nên độ ẩm tương
đối hạ xuống và ít mưa. Ví dụ về mùa hạ, Lạng Sơn ở nơi khuất gió đông nam (phía sau
cánh cung Đông Triều) và ngược lại Quảng Ninh mưa nhiều (sườn đón gió).
2.2.1.5. Tác động của địa hình đến gió.
Ở miền núi, độ cao làm sinh ra các loại gió địa phương đó là gió phơn, gió núi,
gió thung lũng.
2.2.1.5.1. Gió núi – thung lũng.
Trong các hệ thống núi thường thấy có gió thay đổi hướng theo chu kì một ngày
đêm, loại gió đó gọi là gió núi - thung lũng. Ban ngày gió thổi từ thung lũng lên đỉnh
núi là thung lũng, ban đêm gió thổi từ trên đỉnh núi xuống thung lũng là gió núi.
Nguyên nhân sinh ra gió này chính là do sự chênh lệch nhiệt độ ở cùng độ cao của
không khí ở sườn núi và trên thung lũng.
Ban ngày, không khí trên sườn núi nóng hơn nên bốc lên cao, không khí ở thung
lũng lạnh, nên xuất hiện gió thổi từ thung lũng đến sườn núi đi lên gọi là gió thung
lũng. Gió thung lũng thường oi bức (nóng, ẩm).
21
Ban đêm sườn núi bức xạ mạnh hơn nên hiện tượng xảy ra ngược lại với quá
trình diễn ra ban ngày, gió trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng gọi là gió núi. Gió núi
thường mát dịu mát hơn gió thung lũng.
Gió núi và thung lũng thể hiện đặc biệt rõ rệt vào mùa hạ còn về mùa đông yếu
2.2.2. Tác động của (bề mặt) đất đến khí hậu.
2.2.2.1. Tác động của (bề mặt) đất đến nhiệt độ không khí.
Vì sao không khí có nhiệt độ? Nguyên nhân tạo ra nhiệt độ không khí ở tầng đối
lưu: nguồn bức xạ mặt trời trực tiếp (chỉ khoảng 19%); nhiệt của bề mặt Trái Đất được
Mặt Trời đốt nóng (chủ yếu). Khi các tia bức xạ mặt trời chiếu thẳng xuống Trái Đất
làm cho mặt đất nóng lên; sau đó mặt đất sẽ bức xạ ngược trở lại vào không khí làm cho
không khí nóng lên. Mặc dù không khí nóng lên còn nhờ vào việc tiếp nhận trực tiếp
một phần bức xạ mặt trời, nhưng truyền nhiệt từ mặt đất có tác dụng rất lớn (không khí
nhận được lượng nhiệt do loạn lưu là sự chuyển động hỗn loạn của các phân tử khí do
mặt đất bị đốt nóng không đều gây nên đưa lên từ mặt đất lớn hơn 400 lần so với bức
xạ). Chính vì lí do trên mà cán cân bức xạ Mặt Trời của bề mặt đất (đại lượng biểu thị
mối tương quan giữa năng lượng bức xạ mà bề mặt Trái Đất thu được và chi ra) là nhân
tố qui định chế độ nhiệt của lớp không khí sát mặt đất. Cán cân bức xạ Mặt Trời của bề
mặt đất lớn ở nội chí tuyến qui định nhiệt độ trung bình năm cao của vùng nhiệt đới.
Cán cân bức xạ Mặt Trời ở khu vực hai cực luôn âm qui định nhiệt độ trung bình năm
của vùng cực đều thấp dưới 00C.
Đặc điểm của bề mặt đất có ảnh hưởng lớn đến nhiệt độ không khí. Vùng hoang
mạc, bề mặt chủ yếu là cát nên biên độ nhiệt ngày đêm của không khí lớn. Cát có khả
năng hấp thu nhiệt rất tốt nhưng thoát nhiệt cũng rất nhanh. Ban ngày, bề mặt cát hấp
thu nhiệt lượng của mặt trời rất tốt nên nhiệt độ không khí cao, ban đêm bề mặt cát lại
thoát nhiệt nhanh nên nhiệt độ hạ thấp. Do ảnh hưởng của bề mặt là lớp băng tuyết nên
vùng cực về mùa hè mặc dù đã được nguồn năng lượng mặt trời cung cấp khá nhiều
nhưng nhiệt độ không khí ít khi vượt lên 10C đến 20C. Bề mặt băng tuyết phản chiếu các
tia bức xạ Mặt Trời, do đó nhiệt độ luôn lạnh hơn so với mặt đất. Hơn nữa khi tuyết tan
ra nó hút nhiệt độ từ không khí nên thời tiết lạnh giá kéo dài.
2.2.2.2. Tác động của (bề mặt) đất đến độ ẩm không khí.
Hơi nước luôn có trong không khí. Nguồn gốc của hơi nước trong khí quyển từ
đâu? Hơi nước liên tục được nhập vào khí quyển do quá trình bốc hơi từ mặt đất ẩm,
chuyển động xoáy lốc. Nếu gió mạnh thì những luồng nhiễu động có thể lên cao trên
những ngọn cây lớn đến 200, 300m.
24
Hơi nước trong rừng cây.
Gió gặp chướng ngại vật – rừng cây.
2.3. Tác động của khí hậu, đất, địa hình đến sinh vật.
Sinh quyển là một quyển của Trái Đất trong đó có toàn bộ sinh vật sinh sống.
Chiều dày sinh quyển tùy thuộc vào giới hạn phân bố của sinh vật: giới hạn phía trên là
nơi tiếp giáp với tầng ozon (22- 25km), giới hạn phía dưới xuống tận đáy đại dương
(sâu nhất >11km). Ở lục địa xuống đáy lớp vỏ phong hóa, ở độ sâu trung bình 60m, ít
khi tới 100 - 200m hoặc hơn nữa. Trong trường hợp đặc biệt có thể tìm thấy sự sống ở
ngoài lớp vỏ phong hóa, ví dụ đã tìm thấy vi sinh vật trong mỏ dầu ở độ sâu đến
4500m. Tuy vậy sinh vật không phân bố đều trong toàn bộ chiều dày của sinh quyển mà
chỉ tập trung vào nơi có thực vật mọc, dày khoảng vài chục mét ở phía trên và dưới bề
mặt đất. Như vậy, giới hạn của sinh quyển bao gồm toàn bộ thủy quyển, phần thấp của
khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóa.
Sự xuất hiện của sinh quyển trong lớp vỏ địa lí đã ảnh hưởng nhiều đến sự phát
triển của các quyền khác trên Trái Đất. Ngược lại, các cơ thể sống của sinh quyển đều
phải sống dựa vào môi trường và chịu tác động của môi trường như ánh sáng, nhiệt độ,
độ ẩm, nước, không khí, gió, đất, sinh vật ... Những sinh vật nào thích nghi với điều
kiện môi trường nơi phân bố sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị chết hoặc loại trừ ra
khỏi vùng phân bố.
Sinh vật trên thế giới rất đa dạng và phức tạp, sự phân bố của chúng phụ thuộc
vào rất nhiều nhân tố nhất là các yếu tố của khí hậu.
2.3.1. Tác động của khí hậu đến sinh vật.
vật có nhiệt độ cơ thể ổn định, không thay đổi theo nhiệt độ môi trường như các loài
chim, thú. Nhóm động vật biến nhiệt là những loài động vật có nhiệt độ cơ thể biến đổi
theo nhiệt độ môi trường bên ngoài như các động vật không xương sống, cá, ếch nhái,
bò sát. Động vật có thể thích nghi với sự thay đổi của nhiệt độ môi trường bằng nhiều
dạng khác nhau. Ví dụ, để điều hoà nhiệt, động vật có các đặc điểm hình thái, cấu tạo
cơ thể thích nghi. Hoặc ở vùng lạnh thú thường có lông dày và dài, có lớp mỡ dày dưới
da..., các côn trùng ở sa mạc nắng nóng có khoang chống nóng ... Một số loài chim, thú
tự thích nghi với nhiệt độ môi trường bằng cách ngủ đông, ngủ hè hoặc di trú.
2.3.1.1.2. Tác động của nước và độ ẩm không khí đến sinh vật.
Những nơi có nhiệt, ẩm và nước thuận lợi như các vùng xích đạo, nhiệt đới ẩm,
cận nhiệt, ôn đới ấm và ẩm là môi trường tốt để sinh vật phát triển. Trái lại, nơi khô
khan, thiếu nước không thuận lợi cho sinh vật phát triển thì sinh vật nghèo nàn, ít sinh
vật có thể sinh sống được (như hoang mạc).
Sở dĩ như vậy vì nước và độ ẩm trong đất, trong không khí có ý nghĩa sinh thái
rất lớn đối với sinh vật. Nước là thành phần không thể thiếu của tất cả các tế bào sống,
nước tham gia vào hầu hết vào các hoạt động sống của sinh vật. Nước là nguyên liệu
cho cây quang hợp, là phương tiện vận chuyển trao đổi khoáng và chất hữu cơ trong
cây, vận chuyển máu và chất dinh dưỡng ở động vật. Nước tham gia trao đổi năng
lượng và điều hoà nhiệt độ cơ thể. Nước giữ vai trò quan trọng trong sinh sản và phát
tán nòi giống, nước là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.