MỐI QUAN hệ GIỮA các THÀNH PHẦN tự NHIÊN và các DẠNG bài tập - Pdf 31

CHUYÊN ĐỀ ĐỊA LÍ
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN
VÀ CÁC DẠNG BÀI TẬP
Trường THPT chuyên Hoàng Văn Thụ - Hòa Bình
PHẦN MỞ ĐẦU
Địa lí tự nhiên Việt Nam là một học phần có vị trí quan trọng trong chương
trình Địa lí ở các cấp học. Đối với học sinh cấp Trung học phổ thông, trên cơ sở
kiến thức tự nhiên đại cương của Trái đất, phần địa lí tự nhiên Việt Nam tiếp tục
giúp các em trong quá trình tìm hiểu các đặc điểm địa lí tự nhiên và các quy luật
phân hóa của các thể tổng hợp tự nhiên các cấp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Từ đó cho học sinh cụ thể hóa việc đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự
nhiên đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Tuy vậy, đây là học phần có nhiều đơn vị kiến thức, nhiều nội dung hay
nhưng khó, đòi hỏi giáo viên và học sinh phải nắm vững đặc điểm từng thành phần
tự nhiên Việt Nam và mối quan hệ - tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành phần
đó. Xuất phát từ đặc điểm nội dung phần địa lí tự nhiên Việt Nam và mục đích
giảng dạy, đặc biệt cho đối tượng học sinh thi học sinh giỏi khu vực và toàn quốc,
chúng tôi viết chuyên đề: Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên Việt Nam.
Để làm rõ đặc điểm và mối quan hệ giữa các thành phần, cấu trúc chuyên đề
của chúng tôi có những nội dung chính là:
A-Phần lý thuyết:
1. Đặc điểm khái quát của từng thành phần (địa hình, đất đai, khí hậu, sông
ngòi, sinh vật, thổ nhưỡng).
2. Phân tích mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên.
B - Phần kĩ năng
Các dạng câu hỏi, bài tập.


PHẦN NỘI DUNG
A - LÝ THUYẾT
I.Địa hình

cắt xẻ, xói mòn , rửa trôi.
Hệ quả của quá trình xâm thực, bào mòn bề mặt địa hình miền đồi núi là quá
trình bồi tụ, mở rộng đồng bằng hạ lưu sông, hàng năm phía đông nam ĐB châu
thổ S Hồng và phía tây nam ĐBSCl vẫn mở rộng ra biển vài chục - vài trăm met.
2.Mối quan hệ giữa địa hình với các thành phần tự nhiên khác.
2.1.Mối quan hệ giữa địa hình với khí hậu
Địa hình đồi núi thấp chiếm ưu thế nên tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của
khí hậu vẫn được bảo toàn ở vành đai chân núi (độ cao ở miền Bắc dưới 600700m; miền Nam 900-1000m).
Độ cao địa hình là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khí hậu, đặc biệt là chế
độ nhiệt. Theo quy luật đai cao, cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm 0,6 0C. Vì vậy
những vùng núi cao của nước ta có nhiệt độ thấp hơn so với nền nhiệt trung bình
cả nước.
Độ cao địa hình là nhân tố ảnh hưởng đến lượng mưa và sự phân bố mưa:
Cùng một sườn núi, càng lên cao lượng mưa càng tăng. Tới độ cao nào đó độ ẩm
không khí đã giảm nhiều, sẽ không còn mưa, điều này xảy ra ở các vùng núi cao ở
nước ta, như Sapa. Địa hình núi cao – đón gió mưa nhiều (Việt Bắc, Kon Tum);
còn địa hình thấp – khuất gió mưa ít (lóng máng Cao – Lạng).
Hướng địa hình ảnh hưởng đến lượng mưa và sự phân bố mưa: Cùng dãy
núi, sườn đón gió mưa nhiều, sườn khuất gió mưa ít: Các trung tâm mưa nhiều
nằm ở vị trí đón gió từ biển vào như Móng Cái, Huế…ngược lại khi vực khuất gió
như thung lũng Sông Đà, sông Ba, Mường Xén…mưa rất ít. Hướng địa hình song
song với hướng gió, lượng mưa cũng rất thấp: Ninh Thuận, Bình Thuận


Do địa hình nước ta ¾ là đồi núi nên khí hâu phân hóa theo độ cao khá rõ:
Đai nhiệt đới gió mùa: Độ cao: miền Bắc đai nhiệt đới gió mùa có độ cao dưới
600-700m, miền Nam lên đến độ cao 900-1000m. Ở độ cao này tính chất đới ẩm
vẫn được bảo toàn với nền nhiệt cao, mùa hạ nóng nhiệt độ trung bình tháng trên
250C, độ ẩm thay đổi tùy nơi từ khô hạn đến ẩm ướt. Đai cận nhiệt đới gió mùa ở
độ cao từ 600-700m dến 2600m ở miền Bắc, ở miền Nam từ 900-1000m đến

từ dãy Bạch Mã trở vào, nhiệt độ trung bình năm >20 0C, không tháng nào< 200C.
2.2. Mối quan hệ giữa địa hình với thổ nhưỡng
Vai trò của địa hình đối với quá trình hình thành thổ nhưỡng biểu hiện ở tác
động phân phối lại các nguyên tố địa hóa trong lớp vỏ phong hóa và làm thay đổi
điều kiện sinh – khí hậu, từ đó tác động tới cường độ và chiều hướng của quá trình
hình thành đất. Có thể nói yếu tố địa hình và qua đó điều kiện sinh – khí hậu là yếu
tố quan trọng nhất tạo nên sự phong phú của đất VN.
Ảnh hưởng của đại địa hình đến sự phân bố đất theo độ cao ở VN: Theo độ
cao, sự hạ thấp nhiệt độ, sự tăng cường lượng ẩm đã dẫn đến sự thay thế đai rừng
nhiệt đới lá rộng thường xanh bằng các đai rừng á nhiệt đới lá rộng hỗn giao – lá
kim và trên nữa là đai rừng mưa mù cây thấp. Đồng thời theo đó là quá trình hình
thành đất cũng thay đổi theo hướng cường độ phong hóa đá mẹ giảm, tốc độ phân
giải chất hữu cơ giảm và quá trình feralit cũng yếu dần. Trên núi cao ảnh hưởng
của độ dốc làm tăng quá trình lưu thông của nước, tăng quá trình xói mòn, thêm
vào đó cường độ phong hóa yếu làm cho chiều dày vỏ phong hóa kém, phẫu diện
đất nông, có sự tích tụ mùn và chất hữu cơ.
Tại VN nơi mà ¾ diện tích đất đai là đồi núi thì quy luật đai cao chi phối rất
lớn điều kiện hình thành và phân bố đất.
Quá trình feralit chỉ mạnh từ 150m trở xuống, hình thành loại đất feralit
vàng đỏ phát triển trên vùng trung du. Địa hình là các đồi bằng, sườn thoải, phần
lớn lớp phủ thực vạt bị tàn phá, tính chất phân mùa được thể hiện rõ rệt. Trong


điều kiện đó quá trình feralit được đẩy mạnh. Tùy theo đá mẹ và mức độ feralit mà
chia ra các loại đất khác nhau: Đất feralit đỏ vàng; feralit điển hình và feralit có
phẫu diện phân dị.
Tại vùng đồi núi thấp từ 150m đến 600-700m, địa hình có sườn dốc hơn,
không đọng nước, xói mòn mạnh, nhiệt độ thấp hơn và ẩm hơn thướng có lớp phủ
thục vật. Những điều kiện đó làm cho đất có phẫu diện mỏng hơn, mùn nhiều hơn,
đất chua hơn, nhưng hạn chế được quá trình kết vón và đá ong. Tùy theo đá mẹ

này theo dòng nước ngầm, chảy trôi trên mặt đất.
Tại địa hình trũng, úng thủy, hình thành loại đất lầy (đất glây). Còn ở đồng
bằng sự chênh lệch rất nhỏ về độ cao cũng dẫn đến sự khác biệt rõ rệt trong tính
chất đất và thành phần cơ giới thô: đất ruộng cao nghèo phì liệu, thành phần cơ
giới nhẹ, nhiều cát, đất ruộng thấp tích tụ nhiều phần tử sét, hạt mịn, giàu phì liệu
hơn.
2.3.Mối quan hệ giữa địa hình với sinh vật
Địa hình ảnh hưởng đến phân bố sinh vật chủ yếu thông qua sự thay đổi chế
độ nhiệt ẩm theo độ cao. Sự thay đổi nhiệt ẩm theo độ cao của địa hình dẫn đến
hình thành các vành đai sinh vật khác nhau. Các hướng sườn khác nhau thường
nhận được lượng nhiệt, ẩm chế độ chiếu sáng khác nhau do đó ảnh hưởng tới độ
cao bắt đầu và kết thúc của các vành đai sinh vật.
Ở Việt Nam, đai rừng chân núi là là vành đai của nhóm thục bì nhiệt đới núi
thấp phân bố ở độ cao dưới 700m ở miềm Bắc và dưới 1000m ở miền Nam. Tuy
vậy, đi vào từng vùng, có nới giới hạn đai rừng nhiệt đới chỉ tới 400-500m ở Lạng
Sơn – Đông Bắc, có nới tới 700-800m ở Hà Tĩnh, Quảng Bình. Thành phần loài,
cấu trúc, kiểu loại của thực bì trong đai này vô cùng đa dạng và phức tạp. Loại trừ
các kiểu thục bì trên thổ nhưỡng đặc biệt, còn gặp đủ kiểu thực bì từ rừng rậm
thường xanh, mưa ẩm lá rộng, kiểu rừng nhiệt đới mưa mù thường xanh, các kiểu
rừng thưa nửa rụng lá, rụng lá, các kiểu truông khô hạn nhiệt đới.
Từ độ cao 700m đến 1500-1600m ở miền Bắc và từ 1000m đến 1700-1800m
ở miền Nam là đai rừng á nhiệt đới trên núi. Đặc trưng là khí hậu cps nhiệt độ


trung bình năm 15-200C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh dưới 15 0C, lượng mưa từ
2500-3000mm. Trong đai rừng này kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
chiếm diện tích lớn nhất và mang đặc trưng của đai, các kiểu ừng á nhiệt đới hỗn
giao chỉ gặp ở vùng Đông Bắc, tập trung chủ yếu ở Tây Bắc và Trường Sơn trên
đường di cư của luông di cư Himalaya. Lên cao nữa lượng mưa càng tăng hình
thành rừng á nhiệt đới mưa mù.

chảy êm đềm, uốn khúc quanh co. Sự tương phản giữa đoạn miền núi và đoạn
đồng bằng càng rõ nét ở các sông sườn đông Trường Sơn ở Trung Bộ .
Khu vực phía Bắc với địa hình cao về phía Tây Bắc và Bắc, thấp dần về
phía Đông Nam với nhiều núi và thung lũng đón gió ẩm còn vùng khuất gió hẹp có
những đặc điểm riêng về thủy văn như : Hệ thống sông dài với lưu vực lớn, diện
tích trên 10.000km2 và chiều dài trên 200km: sông Thái Bình, sông Hồng, sông
Mã…Các vùng núi cao và thung lũng đón gió có dòng chảy tăng lên vào loại nhiều
và vùng khuất gió giảm xuống vào loại rất ít.
Khu vực đông Trường Sơn: với các đồng bằng chân núi-ven biển nhỏ hẹp,
chỉ có những hệ thống sông ngắn và lưu vực nhỏ, nằm hoàn toàn trong lãnh thổ
nước ta. Diện tích lưu vực từ 1000-5000km2, dài từ 70-170km, ví dụ: sông Gianh,
sông Quảng Trị, sông Hương …Khu vực này là vùng có dòng chảy nhiều nhất
trong nước và không có vùng ít nước
Khu vực phía Nam (Tây Trường Sơn) bao gồm Tây Nguyên và Nam Bộ có
những lưu vực sông tương đối lớn có cả sông đổ về sông Mê Kông góp phần đưa
nước về vùng cửa sông ở Tây Nam Bộ và sông đổ ra biển Đông qua vùng Đông
Nam Bộ như: lưu vực sông Xrê Pôk, lưu vực sông Đồng Nai–Vàm Cỏ ...sông Ba
bắt nguồn ở Tây Trường Sơn nhưng hạ lưu lại sang phía đông Trường Sơn tạo nên
đồng bằng Tuy Hòa. Như vậy dải Trường Sơn là nhân tố chính gây ra sự phân hóa
không gian giữa các lưu vực sông.
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình phần lớn sông ngòi nước ta đều mang
đặc điểm của sông ngòi miền đồi núi dốc nên trong mùa lũ có nước lớn và mực


nước dâng cao nhanh đồng thời tăng cường khả năng xâm thực và vận chuyển phù
sa (tổng lượng phù sa của sông ngòi tới 200 triệu tấn/năm)
II. Khí hậu
1.Đặc điểm chung của khí hậu nước ta
1.1.Nhiệt đới ẩm gió mùa
Tính chất nhiệt đới: Tính chất nhiệt đới của khí hậu được quy định bởi vị trí

định. Khối khí NPc hoạt động ở Việt Nam chỉ mạnh vào mùa đông và ở miền Bắc,
hình thành ở miền Bắc nước ta một mùa đông có 3 tháng lạnh với những ngày nửa
đầu mùa đông có thời tiết lạnh, khô và nửa sau mùa đông là những ngày lạnh, ẩm.
Khi di chuyển xuống phía Nam, khối khí này suy yếu dần và dường như kết thúc
ảnh hưởng bởi bức chắn là dãy Bạch Mã. Từ Đà Nẵng-16 0B trở vào, tín phong nửa
cầu Bắc cũng thổi theo hướng Đông Bắc chiếm ưu thế trở thành “gió mùa mùa
đông” ở miền không có msùa đông lạnh do không bị khối khí cực đới tràn về.
Gió mùa mùa hạ: Nguồn gốc: áp cao Bắc Ấn Độ Dương, áp cao cận chí
tuyến Nam bán cầu. Hướng: tây nam, đông nam. Phạm vi tác động: toàn bộ lãnh
thổ Việt Nam. Thời gian và tính chất:
Đầu mùa hạ (tháng 4,5): trung tâm áp thấp Ấn Độ-Mianma hút gió từ Ấn Độ
Dương qua Vịnh Bengan (khối khí nhiệt đới vịnh Bengan-TBg). Khối khí này có
nguồn gốc từ biển nóng ẩm nên thường gây dông nhiệt mạnh. Khối khí TBg di
chuyển theo hướng Tây Nam xâm nhập trực tiếp và gây mưa lớn cho đồng bằng
Nam Bộ và Tây Nguyên. Khi di chuyển đến khu vực sườn Tây dãy Trường Sơn,
khối khí này bị chắn lại ở sườn Tây dãy Trường Sơn, mưa hết ở đây. Khi vượt qua
dãy TS, khối khí bị biến tính thành nóng, khô do hiệu ứng phơn (gió phơn Tây
Nam-gió Lào) tràn xuống vùng đồng bằng ven biển Trung bộ và phần Nam của
khu vực Tây Bắc.


Nửa sau mùa hạ: Bắt đầu từ giữa mùa hạ vào tháng 6, áp cao cận chí tuyến
Nam bán cầu phát triển mạnh. Khối khí xuất phát từ áp cao này di chuyển theo
hướng Đông Nam về xích đạo, khi qua xích đạo chuyển hướng thành Tây Nam do
lực Coriolit vào Việt Nam. Khối khí này có tầng ẩm dày, dòng thăng lớn nên
thường gây mưa lớn và kéo dài cho các vùng đón gió ở Nam Bộ và Tây Nguyên.
Khối khí này cùng với sự hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới là nguyên nhân gây
mưa vào mùa hạ cho hai miền nam bắc và thu đông cho DHMT
1.2.Phân hóa đa dạng
Sự phân hóa này được thể hiện khá rõ nét trong chế độ nhiệt và tương quan

phong Đông Nam lại hoạt động mạnh hơn. Chỉ đến tháng 8, dải hội tụ nhiệt đới
mới dừng lâu ở đồng bằng Bắc Bộ gây ra mưa lớn, dai dẳng (mưa ngâu). Mỗi khi
gió mùa Tây Nam của nửa cầu Nam yếu đi thì gió Tây Nam vịnh Bengan lại tăng
cường.
Chế độ mưa: Nước ta có lượng mưa khá lớn. Lượng mưa trung bình hàng
năm ở đồng bằng là trên 1500mm, ở các khu vực núi cao tới 2000-3000mm. Tuy
nhiên, ở những nơi khuất gió lượng mưa chỉ trên dưới 700mm.
Lượng mưa có sự phân hóa theo không gian: Những nơi mưa nhiều nhất là
những vùng núi cao có địa hình chắn gió, vùng núi thấp ven biển. Các đồng bằng
ven biển cũng có lượng mưa trên 2500mm. Những nơi có lượng mưa trung bình: là
đồng bằng Bắc bộ và dải đồng bằng ven biển miền Trung từ Quảng Ngãi đến Phú
Yên. Những nơi mưa ít nhất là đồng bằng cực Nam trung bộ lượng mưa hàng năm
chỉ có 643mm.
Lượng mưa có sự phân hóa theo thời gian (theo mùa): Mùa khô ít mưa, có
tháng không mưa. Mùa mưa thì lượng mưa chiếm tới 80-85% lượng mưa cả năm
và tháng mưa ít nhất cũng phải từ 100mm trở lên, tháng mưa nhiều nhất trung bình
có thể tới 300-600mm.
1.3.Tính chất thất thường


Do vị trí địa lí nằm trong vùng gió mùa, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của
biển, nằm ở vùng chịu tác động mạnh của bão nhiệt đới.
Biểu hiện: Thời tiết, khí hậu thường xuyên biến động mạnh, có năm rét sớm,
năm rét muộn, năm mưa lớn, năm khô hạn, năm ít bão, năm nhiều bão…Công tác
dự báo thời tiết và xác định thời vụ vì thế gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt ảnh hưởng
của các đợt gió mùa là nguyên nhân chính gây ra sự thay đổi thất thường của chế
độ nhiệt tại các vùng miền trên cả nước. Gió mùa Đông Bắc khiến nhiệt độ hạ thấp
kéo dài đến 3 tháng, gây nên cả hiện tượng tuyết rơi, sương giá. Gió Tây khô nóng
phổ biến ở vùng Tây Bắc và vùng Duyên hải miền Trung nước ta vào các tháng
6,7,8 khiến thời tiết khô nóng kéo dài từng đợt khoảng vài ba ngày, đôi khi tới 5-7

QT bồi tụ: Thềm lục địa nông, rộng được bồi tụ bằng 1 lượng vật liệu lớn từ
khu vực đồi núi. Các đồng bằng phía Đông và Đông nam được bồi tụ và mở rộng
từ vài chục đến trăm m (đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long).
2.2. Mối quan hệ giữa khí hậu với thổ nhưỡng:
Tính đa dạng của khí hậu là một trong những nhân tố chính tạo nên sự đa
dạng của thổ nhưỡng Việt Nam.
Khí hậu được coi là nhân tố quan trọng nhất đối với quá trình hình thành đất,
vì chính khí hậu quyết định chiều hướng và cường độ diễn biến của quá trình hình
thành lớp vỏ phong hóa và thổ nhưỡng. hai yếu tố khí hậu và nước chi phối mọi
quá trình sinh lí hóa diễn ra trong quá trình hình thành đất. Khí hậu không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua giới sinh vật.
Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta, quá trình hình thành đất có
những nét đặc trưng riêng. Quá trình hình thành đất feralit là quá trình hình thành
đất đặc trưng ở nước ta. Nhóm đất này chiếm tới 65% diện tích đất tự nhiên. Trong
điều kiện nhiệt ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra với cường độ mạnh, tạo nên
một lớp đất dày. Mưa nhiều rửa trôi các chất bazo dễ tan (Ca 2+, Mg2+, K+) làm cho
đất chua, đồng thời có sự tích tụ oxit sắt, oxit nhôm tạo ra màu đỏ vàng. Loại đất
này được gọi là feralit đỏ vàng.


Tính phân mùa của khí hậu với sự xen kẽ giữa hai múa khô, ẩm, đặc biệt tại
vùng núi thấp, nơi lớp phủ thực vật bị tàn phá đã xúc tiến qua trình tích tụ oxit Fe,
Al tạo thành tầng kết von dầy, sát mặt đất.
2.3. Mối quan hệ giữa khí hậu với sinh vật
Khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông ứu
nền tảng nhiệt ẩm. Nhân tố này có ý nghĩa quyết định đến hình thái và cấu trúc các
kiểu thục bì. Tình chất địa đới và phi địa đới của khí hậu cũng tạo nên tính chất địa
đới và phi địa đới của sinh vật. Sự phân chia khu vực thực vật trên những nét lớn,
theo sát sự phân chía của khu vực khí hậu. Trong khí hậu, yếu tố chính chi phối sự
phân hóa các kiểu rừng là yếu tố nước. Do nhiều hay ít nước, mà ta có một loạt các

ở miền Nam là đai rừng á nhiệt đới trên núi. Đặc trưng là khí hậu cps nhiệt độ
trung bình năm 15-200C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh dưới 15 0C, lượng mưa từ
2500-3000mm. Trong đai rừng này kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
chiếm diện tích lớn nhất và mang đặc trưng của đai, các kiểu ừng á nhiệt đới hỗn
giao chỉ gặp ở vùng Đông Bắc, tập trung chủ yếu ở Tây Bắc và Trường Sơn trên
đường di cư của luông di cư Himalaya. Lên cao nữa lượng mưa càng tăng hình
thành rừng á nhiệt đới mưa mù.
Trên độ cao 2700-2800m, xuất hiện kiểu rừng lùn, cây thấp, nhỏ, cong queo
thích ứng với điều kiện giá rét, gió mạnh, địa hình dốc, đất trơ sỏi đá là các quần
thể khô lạnh núi cao.
2.4. Mối quan hệ giữa khí hậu với Thủy văn
Do lượng mưa lớn trên nền địa hình dễ bị xâm thực nên nước ta có mạng
lưới sông ngòi dày đặc, nhiều nước, giàu phù sa.
Do nguồn cung cấp nước của sông ngòi nước ta chủ yếu là nước mưa nên
chế độ nước sông phụ thuộc hoàn toàn vào sự phân bố lượng mưa trong năm.
Nhìn chung sông có lũ lớn vào mùa mưa và cạn vào mùa khô, mùa lũ chiếm tới 7080% lượng nước cả năm nên dễ gây ra lũ lụt nhưng do mùa mưa ở các vùng khác
nhau nên thời gian mùa lũ các sông không giống nhau: Sông ngòi Bắc Bộ có mùa
lũ từ tháng 6 đến tháng 10. Sông ngòi Trung Bộ có lũ vào thu đông. Sông ngòi
Nam Bộ khá điều hòa, mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11.


Sự thất thường của khí hậu cũng khiến cho chế độ mùa nói trên của sông
ngòi diễn ra rất thất thường khó dự đoán. Đồng thời sự phân hóa sâu sắc giữa hai
mùa mưa – khô nên có sự chênh lệch nước giữa mùa lũ và mùa cạn, tháng lũ và
tháng kiệt.
III. Thủy văn
1.Đặc điểm chung của sông ngòi nước ta
1.1. Mạng lưới sông dày đặc
Là hệ quả tác động của khí hậu với tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa trên nền
địa hình nhiều đồi núi mà quá trình xâm thực là chủ yếu

biển Đông. Ngoài ra còn có hướng vòng cung của 1 số sông ngòi vùng Đông Bắc.
2. Mối quan hệ giữa sông ngòi với các thành phần tự nhiên khác
1.1.Mối quan hệ giữa sông ngòi với địa hình
Sông ngòi là một nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xâm thực và bồi tụ
trong việc hình thành địa hình Việt Nam hiện tại.
Xâm thực mạnh ở khu vực đồi núi: Trên các sườn dốc mất lớp phủ thực vật,
bề mặt địa hình bị cắt xẻ, đất bị xói mòn rửa trôi khiến nhiều nơi trơ sỏi đá. Khi
mưa lớn còn xảy ra hiện tượng đất trượt, đá lở. Ở vùng núi đá vôi hình thành địa
hình kaxtơ=> hình thành hang động, suối cạn, thung khô. Tại vùng thềm phù sa cổ,
địa hình bị chia cắt thành đồi thấp xen thung lũng sông
Bồi tụ nhanh ở các đồng bằng hạ lưu sông: Đây là hệ quả của quá trình xâm
thực, bào mòn mạnh mẽ bề mặt địa hình của miền đồi núi. Rìa phía đông nam của
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long hàng năm lấn ra biển từ vài
chục đến gần trăm m.
Nguyên nhân: Mạng lưới sông ngòi dày đặc, lượng nước lớn trên nền địa
hình nhiều đổi núiđã tạo điều kiện cho các quá trình bóc mòn, vận chuyển diễn ra


mạnh, mang vật liệu xuống bồi tụ ở khu vực địa hình thấp. Có thể nói sông ngòi
chính là nhân tố quan trọng góp phần làm sâu sắc hơn, rõ nét hơn tính chất trẻ của
địa hình VN do vận động tân kiến tạo để lại và làm mềm mại hơn địa hình đồi và
bán bình nguyên của nước ta)
1.3. Mối quan hệ giữa sông ngòi với thổ nhưỡng
Mạng lưới sông ngòi nước ta dày đặc, khi chảy qua miền đồi núi độ dốc lòng
sông lớn, xâm thực mạnh và trước khi đổ vào đồng bằng các sông thường hợp lưu
tạo thành dòng chảy lớn có lưu tốc mạnh mang theo nhiều vật liệu bồi đắp các
đồng bằng đất phù sa ở hạ lưu sông.
Tính chất nham thạch và thành phần lớp vỏ phong hóa mà các dòng sông
chảy qua ảnh hưởng rõ rệt đến đặc tính phù sa bồi tụ, nhất là vật liệu phù sa từ các
dòng sông nhỏ, ngắn. Như đặc tính chua, nghèo phì liệu của phần lớn đồng bằng

nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh. Rừng nguyên sinh còn lại rất ít, hiện nay phổ biến
là rừng thứ sinh với các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa biến dạng khác nhau: từ
rừng gió mùa thường xanh, rừng gió mùa nửa rụng lá, rừng thưa khô rụng lá tới
xavan, truông bụi gai hạn nhiệt đới
Các thành phần loài thực, động vật nhiệt đới chiếm ưu thế bao gồm cả các loài
bản địa và các loài có nguồn gốc từ các khu hệ Malai-Inđô, Ấn đô-Mianma. Thực vật
chủ yếu là các loài cây họ nhiệt đới như Đậu, Vang, Dầu. Động vật trong rừng là các
loài chim thú nhiệt đới (công, trĩ, gà lôi,khỉ, sơn dương...).Ngoài ra còn có nhiều loài
bò sát, ếch nhái, côn trùng vô cùng phong phú

2. Mối quan hệ giữa sinh vật với các thành phần tự nhiên
2.1. Mối quan hệ giữa sinh vật với Đất:
Thực vật là nguồn cung cấp vật chất hữu cơ, cải biến vỏ phong hóa hình
thành đất. Quá trình hình thành đất ở VN diễn ra với cường độ mạnh, chính là do
sự phong phú của giới thảm thực vật. Với kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường
xanh ưu thế tốc độ sinh trưởng nhanh, vật chất được huy động vào vòng tuần hoàn


sinh vật diễn ra trong chu kỳ ngắn và cường độ mạnh. Chính vì thế khó giải thích
nổi tại sao trên một lớp đất mỏng, nghèo mùn vậy lại có thể sản sinh một rừng cấy
cao to, dày đặc và xanh tươi nếu không tính đến lượng mùn trong trạng thái động
của nó.
Cùng với sự đa dạng của kiểu rừng là sự đa dạng các loại đất ở VN. Theo
đai cao có sự thay thế theo quy luật của các kiểu rừng và tương ứng là sự thay thế
có quy luật của các kiểu đất. Mỗi kiểu rừng, mỗi loại cây có ảnh hưởng khác nhau
đến quá trình hình thành đất và đặc tính của đất. Đất dưới rừng ẩm, lá rộng thường
xanh có tầng dất dày, ẩm, mùn khá nhiều và phì liệu khá cao. Đất dưới rừng thưa,
vó tầng đất mỏng, khô, ít mùn, nghèo phì liệu, quá trình tích tụ xeckioxit sắt, nhôm
được xúc tiến. Có loại cây cung cấp đạm làm tốt đất như các loại cây họ Đậu, vài
loài hòa thảo. Đất dưới rừng thông, bạch đàn, các loại cây lá kim thường nghèo và

có khả năng làm giảm tốc độ gió; phòng chống gió hại cho cây nông - công nghiệp,
tạo không khí trong lành cho dân cư thành phố bằng cách trồng rừng.
V. Thổ nhưỡng
1.Đặc điểm chung của thổ nhưỡng nước ta.
1.1.Thổ nhưỡng VN phân hóa đa dạng, phức tạp.
Thổ nhưỡng nước ta có đặc tính đa dạng và phức tạp bao gồm nhiều quá
trình hình thành đất và nhiều lợi đất khác nhau: 19 nhóm đất với 54 loại đất.
1.2.Thổ nhưỡng của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với quá trình hình thành đất feralit
là chủ yếu
Quá trình feralit là quá trình hình thành đất đặc trưng ở nước ta trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Điều kiện của quá trình feralit là : quá trình
phong hóa mạnh gấp 10 lần ôn đới; tốc độ phân giải vật chất gấp 5 lần ôn đới; quá
trình feralit trong môi trường axit.
Đất feralit có các đặc tính: Tầng đất dày, Đất có màu đỏ vàng; đất chua
nhiều axit, thành phần khoáng vật sơ cấp ít;
2. Mối quan hệ giữa thổ nhưỡng và các thành phần tự nhiên khác


2.1. Mối quan hệ giữa thổ nhưỡng với sinh vật
Thổ nhưỡng ảnh hưởng lớn đến hình thái thực bì, đôi khi còn giữ vai trò
quyết định. Mặc dù điều kiện khí hậu thuận lợi, tình trạng thoái hóa của thổ
nhưỡng dẫm tới sự biến chuyển của các kiểu thực vật và thành phần loài cây thay
đổi tùy nơi. Trên đất dày ẩm là kiểu rừng ẩm thường xanh với các loại cây ưa
bóng, khó tính như lát, gụ, lim, táu ở miền Bắc và các loài trắc, cẩm xe, vên vên,
sao,..ở miền Nam. Trên đất mỏng, nghèo phì liệu xuất hiện kiểu rừng gió mùa với
các loài cây ưa sáng, mọc nhanh như sau sau, thành ngạnh, săng lẻ,...xen câc loại
cây họ Dẻ, ở miền Bắc và kiểu rừng thưa với các loại cây chịu hạn, rụng lá mùa
khô ở miền Nam như dầu trà, dầu lông, dầu chai, thông. Đất xấu nữa, rừng cũng
khó mọc, thay thế bằng kiểu quần hệ sim, mua, thanh hao và cuối cùng chỉ còn các
loại cỏ tranh, cỏ may mọc trên đất trơ sỏi đá.

ngòi cũng thưa.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status