Một số đặc điểm tính cách và cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trường đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp - Pdf 66

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

NGUYỄN DUY TƢỞNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH
VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội, 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

NGUYỄN DUY TƢỞNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH
VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trƣơng Thị Khánh Hà

Hà Nội, 2020

Học Viên

Nguyễn Duy Tƣởng


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 2
3. Khách thể nghiên cứu.................................................................................... 2
4. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2
6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 3
7. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................... 3
8. Các phương pháp nghiên cứu........................................................................ 3
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH
CÁCH VÀ CẢM NHẬN HẠNH PHÚC ....................................................... 5
1.1. Tổng quan một số nghiên cứu về đặc điểm tính cách và cảm nhận
hạnh phúc ......................................................................................................... 5
1.1.1. Một số nghiên cứu về tính cách .............................................................. 5
1.1.2. Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc ............................................ 7
1.1.3. Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc ................................................... 12
1.1.4. Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc. ..................................................... 14
1.1.5. Đặc điểm của lòng biết ơn. ................................................................... 16
1.1.6. Đặc điểm của tính đố kỵ ........................................................................ 18

1. KẾT LUẬN ................................................................................................ 69
2. KHUYẾN NGHỊ........................................................................................ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 73
PHỤ LỤC


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

STT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1

ĐTB

Điểm trung bình

2

ĐLC

Độ lệch chuẩn

3
4

ĐHKT KTCN

bão về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, vì thế đòi hỏi con người phải thay đổi
tư duy, phương pháp hoạt động và biết vượt qua mọi khó khăn để thích ứng
với thời đại. Tuy nhiên, không phải mọi thứ của cá nhân đều có thể thay đổi
đó là những đặc trưng tính cách cũng như cách cảm nhận hạnh phúc của mỗi
con người. Nếu như trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường quan niệm
là có thể dễ dàng đánh giá tính cách của từng người như là người này nóng
tính, người kia dễ tính... Nhưng thực tế là không phải ai cũng đánh giá đúng
về tính cách của bản thân mình cũng như tính cách của người khác. Trong khi
đó, tính cách lại có một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, nó giúp
bản thân hòa nhập được với cuộc sống đầy biến động xung quanh.
Hạnh phúc là gì? Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều đã từng đặt câu
hỏi như vậy. Người ta có thể cảm nhận được hạnh phúc nhưng để mô tả nó
một cách rõ ràng thì không phải là điều đơn giản. Sinh viên là độ tuổi ở giai
đoạn chuyển giao từ tuổi thanh niên sang tuổi trưởng thành, đồng thời, đây là
giai đoạn chuyển đổi từ bậc học phổ thông sang việc học ở bậc đại học. Sinh
viên bắt đầu với cuộc sống tự lập và tự định hướng cho cuộc sống của bản
thân. Vì vậy, việc nắm bắt các đặc điểm về tính cách cũng như cách cảm nhận
hạnh phúc của họ có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống sau này
của họ.
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp là trường có truyền
thống lâu đời về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kinh tế - kỹ thuật.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường cũng rất quan tâm
đến việc cân bằng đời sống tinh thần của các bạn SV.

1


Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu trong nước và trên thế giới quan tâm. Nó được coi là hướng nghiên cứu
mới mẻ trong lĩnh vực tâm lý học. Trong khi đó, các đặc điểm tính cách được

- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Nghiên cứu chỉ ra thực trạng tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh
phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
+ Phân tích mối quan hệ giữa tính đố kỵ, tính biết ơn, cảm nhận hạnh
phúc của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
+ Rút ra kết luận và đề xuất một số kiến nghị
6. Phạm vi nghiên cứu
+ Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành từ Trường Đại học Kinh tế Kỹ
thuật Công nghiệp.
+ Khách thể: Nghiên cứu được thực hiện trực tiếp trên 298 sinh viên
đang học tại trường từ năm thứ nhất tới năm thứ tư.
+ Nội dung: Nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ một số đặc điểm tính
cách trong đó hai nét tính cách chính là lòng biết ơn và tính đố kỵ trong của
sinh viên đối với việc các em cảm nhận hạnh phúc.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Một số đặc điểm của tính cách của sinh viên Trường Đại học Kinh tế
Kỹ thuật Công nghiệp có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc. Mối
quan hệ này có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giới tính, địa bàn sinh sống, điều
kiện kinh tế xã hội của gia đình.
8. Các phƣơng pháp nghiên cứu
8.1.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Phương pháp này giúp chúng tôi có thêm nhiều cơ sở để tiến hành nghiên
cứu đề tài. Qua đây, chúng tôi biết được rằng, những nghiên cứu trước đã làm
được những gì, nghiên cứu của chúng tôi góp phần củng cố luận điểm nào, bổ
sung luận điểm nào. Những tài liệu mà chúng tôi sử dụng để viết tổng quan cho đề

3


Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học
(SPSS):

Đề tài sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để thực hiện các phép toán
phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

4


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM TÍNH CÁCH VÀ
CẢM NHẬN HẠNH PHÚC
1.1.

Tổng quan một số nghiên cứu về đặc điểm tính cách và cảm nhận
hạnh phúc

1.1.1. Một số nghiên cứu về tính cách
Tính cách là một đề tài được được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm
với nhiều các lý thuyết được đưa ra theo nhiều hướng khác nhau. Tính cách
làm nên sự khác biệt, sự “độc nhất vô nhị” của một cá nhân so với các cá
nhân khác trong xã hội. Trên cơ sở mục tiêu, hứng thú, niềm tin riêng biệt,
mỗi cá nhân có phương thức hành động riêng, bày tỏ cảm xúc riêng biệt và
đặc biệt tỏ ra khác biệt về tính cách: mềm dẻo, linh hoạt, khiêm nhường hay
cứng rắn, nghiêm ngặt và hiếu thắng; vui vẻ hay buồn rầu, ồn ào hay bình
thản…. trong nghiên cứu vấn đề này đã được quan tâm từ thời Cổ đại với các
triết gia như: Platon, Galieng... đặc biệt trong tâm lý học hiện đại vấn đề tính
cách đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả khác nhau thuộc các nền
văn hóa khác nhau. Có ba cách tiếp cận khác nhau về tính cách: tiếp cận tâm

những người xung quanh.
Các lý thuyết về tính cách ranh giới: Các lý thuyết về tính cách ranh
giới đều xuất phát từ cách tiếp cận tâm bệnh học và phần lớn các tác giả của
lý thuyết này là các nhà tâm thần học, tâm bệnh học và tâm lý học lâm sàng.
Khái niệm “tính cách ranh giới” được dịch nghĩa từ thuật ngữ “Akzentuierte”
do Karl Leonhrd một nhà tâm thần học đồng thời là nhà tâm lý học người Đức
đưa ra vào năm 1968. Ông cho rằng những dạng tính cách này được đặc trưng
bởi tính sẵn sàng phát triển thành các nhân cách đặc biệt: hoặc trở thành
người có hành vi xã hội tích cực hoặc trở thành người có hành vi xã hội tiêu
cực. Karl Leonhard (1904- 1988) trong cuốn sách của mình xuất bản ở Berlin
năm 1976 đưa ra phân loại các dạng tính cách ranh giới gồm những kiểu sau:
kiểu phô diễn; kiểu cố chấp; kiểu hoang tưởng; kiểu kích động; kiểu tăng
6


động; kiểu nặng nề; kiểu lo âu; kiểu nhẹ dạ; kiểu biểu cảm; kiểu bất ổn; kiểu
hướng ngoại; kiểu hướng nội. Trong hoạt động giao tiếp tính cách của con
người được bộc lộ rất rõ ràng, ngay cả việc lựa chọn hành động để tiến hành,
trên cơ sở mục tiêu, hứng thú, niềm tin riêng biệt, mỗi cá nhân có phương
thức hành động riêng, bày tỏ xúc cảm riêng và đặc biệt là tỏ ra khác biệt về
tính cách. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài trong tính cách cá nhân chúng
tôi tập trung vào biểu hiện về lòng biết ơn và tính đố kỵ trong việc cảm nhận
hạnh phúc của cá nhân.
1.1.2. Một số nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc
Descartes có sự phân biệt giữa hạnh phúc thông thường và hạnh phúc
linh thánh. Hạnh phúc thông thường “chỉ phụ thuộc vào các sự vật bên
ngoài”, và điều này là đối lập với hạnh phúc linh thánh (béatitude) bao hàm
“một sự toại ý hoàn hảo của trí tuệ cùng sự thỏa mãn nội tâm”.
Ngày nay, hạnh phúc và cảm nhận về hạnh phúc vẫn là đề tài thu hút
được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, không chỉ trong lĩnh vực xã hội

năng trí tuệ với hạnh phúc: Cũng trong nghiên cứu nói trên của Ectward
Diener, kết luận được nêu đáng để phải suy nghĩ là, thông minh không có ảnh
hưởng gì đến hạnh phúc. Diener giải thích, người thông minh thường nuôi
những ước vọng cao và rất cao. Bởi vậy, họ sẽ khó thỏa mãn với những gì
không phải thành quả cao nhất. Người bình thường mơ ước thành đạt được
như họ. Nhưng với họ, thành đạt như thế có thể vẫn là quá ít, và đó là nguyên
nhân khiến họ ít thấy mình hạnh phúc.
Trong nghiên cứu kéo dài 15 năm với hơn 30 ngàn người Đức, Diener
và công sự đã rút ra kết luận thú vị rằng những người hạnh phúc thường dễ
kết hôn và chấp nhận đời sống hôn nhân sau đó. Trong tạp chí nghiên cứu về
hạnh phúc do ông làm chủ biên, ông đã phát biểu: "Loài người được tự nhiên
ban cho một quá trình tiến hoá mà theo đó chúng ta cần phải có những người
khác để cùng nhau tồn tại. Vì thế, chúng ta hạnh phúc khi có những người
chung quanh cổ vũ nâng đỡ mình, và sẽ rất buồn khi thiếu vắng họ". Có thể
8


nói, khát khao tìm kiếm, phân tích hạnh phúc của con người là vô cùng to lớn.
Bên cạnh việc tìm ra những nhân tố có vai trò làm nên hạnh phúc của mỗi
người, các nhà khoa học không ngừng hướng tới việc tìm ra một công thức
tổng quát, định lượng để đo đạc hạnh phúc. Năm 2003, Carol Rothwell và
Pete Cohen đã đưa ra công thức để tính hạnh phúc. Dựa trên kết quả khảo sát
xã hội học ở 1000 nghiệm thể là người Anh, công thức được đưa ra dưới dạng
(Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)). Trong đó, P là chỉ số cá tính bao gồm:
quan niệm sống, khả năng thích nghi và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách. E
là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài
chính và các mối quan hệ thân hữu. H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao
(Higher Order) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bão và cả óc hài
hước. Dĩ nhiên không nhiều người kỳ vọng ở công thức này, song ở một
phạm vi nào đấy, người ta cũng thấy công thức này có giá trị gợi mở nhất

hành khảo sát ở 148 quốc gia từ năm 2000-2009 bằng nhiều thang đo có giá
trị khoa học khác nhau đã mang lại cho cho chúng ta một cái nhìn khá chuẩn
xác về vấn đề và mức độ hạnh phúc của người dân từng quốc gia. Câu hỏi căn
bản của chương trình khảo sát này là: Bao nhiêu người hạnh phúc với cuộc
sống của họ trên tổng thể theo thang đo từ 0 đến 10. Các yếu tố được xét đến
trong những khảo sát này bao gồm: Môi trường sống, xã hội vĩ mô, tình trạng
xã hội của cá nhân, các mối liên kết thân tình, năng lực, tính cách, sở thích,
hành vi, sự kiện đang diễn ra, lịch sử cuộc đời; và các yếu tố như sự nhận
thức, tính xác quyết, hệ quả, việc theo đuổi, niềm tin phổ biến, và triết lý của
hạnh phúc (Veenhoven, 06/2009)”. Như vậy, cách tiếp cận của WDH khá
tổng thể, đi sâu vào những yếu tố thuộc về chủ quan, bên trong con người.
Khác với cách tiếp cận trước, cảm nhận hạnh phúc, mức độ hài lòng về cuộc
sống chỉ là một trong ba thành phần tạo nên chỉ số HPI thì cách tiếp cận của
vị giáo sư này tập trung nhắm vào đo lường mực độ hạnh phúc của người dân
một cách toàn diện trên tất cả các phương diện bên trong lẫn bên ngoài ảnh
hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của họ. Với tổng điểm là 6.1, Việt Nam đứng
10


vị trí 63-66, cùng với các nhóm nước Hàn Quốc, Indonexia… sau các nước
như Nhật bản, Lào…. Đặc biệt hơn, Carol Ryff (1989) đã có một bài đánh giá
mang tính hệ thống về các lý thuyết và quan điểm trong tâm lý học, ở đó bà
xác định được 6 khía cạnh làm nên cảm nhận hạnh phúc như sau: 1) sự chấp
nhận bản thân; 2) cảm nhận về các mối quan hệ tích cực; 3) sự tự chủ; 4) khả
năng thích ứng với thay đổi của môi trường; 5) cảm nhận về mục đích sống và
6) cảm giác phát triển cá nhân.
Bàn về hạnh phúc, bên cạnh các công trình nghiên cứu, các tác giả còn
cho ra đời những cuốn sách chia sẻ những kinh nghiệm mà họ tích lũy được
qua quá trình nghiên cứu lâu dài, bền bỉ. Một trong những tác phẩm đi đầu
trong nghiên cứu về hạnh phúc là của Dr Tal Ben-Shahar “The Science of

1.1.3. Lòng biết ơn và cảm nhận hạnh phúc
Lòng biết ơn đã được coi là một cảm xúc đạo đức có liên quan mạnh
mẽ với ảnh hưởng tích cực (Watkins et al., 2009). Theo Fredrickson (2004),
lòng biết ơn hoạt động giống như những cảm xúc tích cực khác, mở rộng tiết
mục về khả năng hành động tư tưởng và xây dựng nguồn lực cá nhân lâu dài.
Do đó, có thể việc nuôi dưỡng lòng biết ơn có thể thúc đẩy hạnh phúc trong
khi cũng tạo ra hy vọng. Lòng biết ơn đã được tương quan tích cực với sự hài
lòng với cuộc sống, ảnh hưởng tích cực và hạnh phúc (Watkins, Woodward,
Stone, & Kolts, 2003). Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các kiểu
phản ứng đặc trưng của lòng biết ơn đặc trưng cho hạnh phúc (trên và ngoài
tính cách, được đo bằng Big Five) dựa trên thông tin và tự báo cáo
(McCullough et al., 2002). Hill và Allemand (2011) phát hiện ra rằng những
đặc điểm biết ơn và tha thứ mà mỗi người chiếm giữ hạnh phúc khi kiểm soát
người kia. Tác giả khuyên các nhà nghiên cứu thử nghiệm nhiều biến số đặc
điểm liên quan đến đạo đức để thúc đẩy nghiên cứu về hạnh phúc và áp dụng
phương pháp này để nghiên cứu hy vọng và hạnh phúc.
Sự đánh giá cao những điều tốt đẹp trong cuộc sống của một người có
thể khiến những người biết ơn tránh được lợi ích và được duy trì hạnh phúc
12


và sự hài lòng của họ theo thời gian (McCullough et al., 2002). Watkins,
Woodward, Stone và Kolts (2003) đã đưa ra một khung lý thuyết xác định ba
đặc điểm riêng biệt trong một cá nhân biết ơn, đặc điểm đầu tiên là thiếu cảm
giác thiếu thốn; thứ hai là xu hướng đánh giá cao những thú vui đơn giản, và
cuối cùng là xu hướng đánh giá cao những đóng góp của người khác đối với
hạnh phúc của một người khác và bày tỏ lòng biết ơn này. Trong khi lòng biết
ơn và hạnh phúc gắn liền với sự phong phú, hy vọng được định hướng để có
được sự phong phú, để thỏa mãn sự thiếu hụt hoặc để giảm bớt rắc rối trong
tương lai (gần hoặc xa). Nghiên cứu tính cách Big five với cảm nhận hạnh

từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy lòng biết ơn và cảm nhận với hạnh
phúc luôn có mối tương quan chặt chẽ thuận chiều nhau, đây cũng là cơ sở
hình thành được nhiều cảm xúc tích cực khác cho cá nhân trong cuộc sống.
1.1.4. Tính đố kỵ và cảm nhận hạnh phúc.
Tính đố kỵ là một cảm xúc phổ biến trong cuộc sống của con người, đó
là do các mối đe dọa, cạnh tranh và bảo vệ, khi một người cảm thấy những gì
họ có thể bị lấy đi từ họ do một điều gì đó tốt hơn. Họ được bảo vệ và ghen tị
nếu các mối đe dọa phát sinh. Tính đố kỵ được định nghĩa là một phản ứng
cảm xúc đối với sự từ chối xã hội. Sợ bị từ chối và mất những gì họ có nên họ
bảo vệ nó hết mức có thể, và nếu họ cảm thấy họ không thể bảo vệ nó hoặc
làm bất cứ điều gì về các mối đe dọa, điều đó gây ra sự căng thẳng lớn cho
lòng tự trọng và hạnh phúc của người này và điều này có thể gây thiệt hại cho
những mối quan hệ trong tương lai của những người có cảm xúc tích cực hoặc
bất kỳ mối quan hệ nào họ có thể có (DeSteno, Valdesolo & Bartlett, 2006).
Theo quan điểm của Nadler & Dotan (1992) cho rằng tính đố kỵ liên
quan đến hai mối đe dọa khác nhau, đó là mối đe dọa đối với mối quan hệ
hiện tại và suy nghĩ về việc mất đi những gì họ có và mối đe dọa khác về lòng
tự trọng bởi đối tác chọn ai đó tốt hơn ở vị trí của họ, khiến họ trở nên tốt hơn
cảm thấy không tốt hoặc không hạnh phúc và cũng có thể không mong muốn.
Chính điều đó tạo cho họ cảm giác ghen tuông trong mối quan hệ hoặc mối
14


quan hệ tương lai mà họ có thể có. Một số người có thể có cảm giác ghen
tuông trong mối quan hệ của họ ngay cả khi không có dấu hiệu nguy hiểm
trong mối quan hệ của họ, điều này là do người có lòng tự trọng thấp và luôn
cảm thấy rằng họ không đủ tốt cho người họ ở cùng, vì vậy họ luôn nghĩ rằng
khi đối tác của họ không ở bên họ thì họ sẽ tìm thấy ai đó tốt hơn họ, điều này
có thể gây căng thẳng lớn cho mối quan hệ.
Tính đố kỵ là phổ biến trong rất nhiều mối quan hệ và một số nghiên

trong các mối quan hệ lãng mạn. Do đó giới tính cũng là một yếu tố để xác
định được mức độ đố kỵ so với sự cảm nhận hạnh phúc cá nhân.
Như vậy, tính đố kỵ có mối tương quan nghịch với cảm nhận hạnh
phúc. Nếu như mỗi cá nhân có tính đố kỵ thấp thì sự cảm nhận hạnh phúc cao
hơn so với những người có tính đố kỵ cao. Nghiên cứu này tiến hành đo
lường thực trạng tính cách của cá nhân có tác động đến sự cảm nhận hạnh
phúc của cá nhân.
1.1.5. Đặc điểm của lòng biết ơn.
Gia đình là tế bào của xã hội ở đó chúng ta luôn có nhiều quy tắc khác
nhau từ những việc phải làm, được phép làm và không được phép thực
hiện,… đó chính là những khuôn mẫu, đạo đức xã hội, ở đó là những khuôn
mẫu mà mỗi cá nhân cần phải làm theo và những điều cần tránh và có những
điều nếu vi phạm sẽ bị lên án từ mọi người xung quanh cũng như từ xã hội.
Lòng biết ơn cũng là một trong nhiều điều nằm trong khuôn mẫu đạo đức đó,
vì vậy cho nên đây cũng là điều được quan tâm từ nhiều hướng khác nhau, từ
gia đình tới xã hội. Trong gia đình ông bà, cha mẹ thường xây dựng và dạy
con cháu cần có lòng biết ơn với người đi trước, được biểu hiện nhỏ nhất từ
việc biết nói “cảm ơn”, lòng biết ơn được xem như là một trong số nhiều
chuẩn mực xã hội cơ bản mà một cá nhân cần có nó vừa là cảm nhận của cá
nhân vừa được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động. Việc dành thời gian
bày tỏ lòng biết ơn và cảm kích những điều mà một cá nhân nhận được từ
những người xung quanh nói riêng và từ cuộc sống nói chung, dù là hữu hình
16


hay vô hình, sẽ khiến chúng ta cảm nhận được nhiều cảm xúc tích cực hơn,
tận hưởng những trải nghiệm tốt đẹp, cải thiện sức khỏe để đương đầu với
nghịch cảnh và xây dựng các mối quan hệ vững chắc. Tất cả đều là những
điều cần thiết cả trong công việc lẫn cuộc sống. Là một trong những giá trị
đạo đức quan trọng, lòng biết ơn cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status