khảo sát về cách học từ vựng môn tiếng anh giai đoạn một của sinh viên trường đại học kinh tế TP HCM - Pdf 24

91

KHẢO SÁT VỀ CÁCH HỌC TỪ VỰNG MÔN TI
ẾNG ANH
GIAI ĐOẠN MỘT CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

ThS. Bùi Thị Xuân Hồng

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Học từ vựng là một phần rất quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và
Anh ngữ nói riêng. Càng biết nhiều từ, bạn càng có khả năng hiểu được những điều mình
nghe thấy, đọc thấy và càng có khả năng nói và viết tốt Anh ngữ. Một người có vốn từ vựng
phong phú sẽ có thuận lợi hơn nhiều trong các bài đọc hiểu khi tham gia các kỳ thi TOEIC,
TOFEL v.v so với người có vốn từ vựng ít. Khả năng giao tiếp bằng Tiếng Anh của người đó
tốt hơn vì có thể diễn đạt rõ ràng và chính xác điều mình muốn nói và viết. Trong công việc,
người biết nhiều từ vựng có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn và dễ dàng thăng tiến hơn.
Nhưng học từ vựng là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì bền bỉ rất lớn của người học. Không
phải ai cũng tìm ra được cách học từ vựng có hiệu quả và không ít người nản chí.
Là giáo viên, chúng ta đã nghiên cứu và đưa ra nhiều cách giảng dạy từ vựng. Nhưng
chúng ta chưa dành nhiều thời gian để quan sát xem sinh viên của chúng ta nghĩ gì về phương
pháp của chúng ta giới thiệu cho các em. Chúng ta cũng chưa khảo sát xem các em học từ
vựng như thế nào. Việc nghiên cứu về thói quen và thời gian học từ vựng của sinh viên ở nhà
và ý kiến của các em về các phương pháp giảng dạy từ vựng mà giáo viên đưa ra sẽ giúp cho
việc dạy và học Anh ngữ tốt hơn.
Đa số các từ vựng chuyên ngành tiếng anh thương mại trong bộ giáo trình giai đoạn
một là mới vì ở trường phổ thông các em chưa được học từ vựng chuyên ngành. Các em cần
phải hiểu rõ nghĩa và cách sử dụng chúng trong môi trường kinh doanh.
Số lượng từ vựng này phục vụ cùng một lúc cho 4908 sinh viên ở nhiều trình độ Anh
ngữ khác nhau ở trên 100 lớp. Trong đó 15% dưới A (739 em), 37% A (1817 em), 37% B
(1819 em) , 11% C (533 em). Chắc chắn là các em có điểm thi đầu vào thấp sẽ gặp nhiều khó

yếu (central), chứ không phải là hoạt động thứ yếu (peripheral) trong chương trình giảng dạy
ngôn ngữ”. Richard cũng có cùng quan điểm cho rằng “trò chơi tạo sự vui vẻ, nhưng không
thể bỏ qua giá trị giáo dục của chúng” [3]. Theo ông, trò chơi có nhiều ưu điểm, chẳng hạn
như “chúng có thể làm giảm căng thẳng, và vì vậy làm cho việc tiếp thu kiến thức được dễ.
Trò chơi gây hứng thú cao và có tác dụng giải trí và chúng còn giúp cho những học viên nhút
nhát có cơ hội để thể hiện ý kiến và tình cảm của mình”. Henson [3]. “Trò chơi còn có thể
giúp người học học được kinh nghiệm mà một bài học bình thường không phải lúc nào cũng
làm được điều này”. Wierus và Wierus [3] nói rằng “trong bầu không khí thoãi mái, thư giãn
do trò chơi tạo ra, người học nhớ nhanh hơn và tốt hơn”. S. M. Silvers cho rằng “nhiều giáo
viên rất nhiệt tình trong việc sử dụng trò chơi như là một phương tiện giảng dạy (teaching
device), nhưng họ thường coi đó là để lấp thời gian trống, phá vỡ sự đơn điệu hoặc coi là
hoạt động không quan trọng”. Ông nhấn mạnh rằng “nhiều giáo viên không thấy được là
trong bầu không khí thư giãn, việc tiếp thu thực sự mới diễn ra, và người học sử dụng được
những ngôn ngữ mà họ đã được học và đã thực hành trước đó.”
Khi nào thì nên sử dụng trò chơi?
Trò chơi thường được sử dụng để cho những hoạt động tạo không khí khởi đầu sôi nổi
(warm-up activities), Rixon đề nghị sử dụng trò chơi trong tất cả các bước giảng dạy nếu
chúng phù hợp và được lựa chọn cẩn thận [3].
Chọn trò chơi thế nào cho phù hợp?
Có nhiều yếu tố chúng ta phải cân nhắc khi chọn trò chơi cho phù hợp. Giáo viên cần
phải thận trọng trong việc chọn trò chơi nếu họ muốn các trò chơi có ích cho quá trình học.
Theo Agniesz Uberman [3],” nếu giáo viên muốn trò chơi mang lại kết quả mong muốn, thì
trò chơi phải phù hợp với trình độ, tuổi tác hoặc là giáo trình của người học. Không phải tất
cả các trò chơi đều phù hợp với tất cả người học, đó là chưa nói đến tuổi tác”. Một yếu tố
nữa là thời gian. Theo Sie-Piskozub [3], “giáo viên có thể phân bổ thời gian nhiều hay ít tùy
theo trình độ, số lượng người trong một nhóm và luật chơi.”
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- 106 sinh viên 3 lớp K34 (lớp 20, 61 và 71) đang học Anh văn giai đoạn 1 tại Trường Đại
Học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian từ tháng 2 năm 2008 đến tháng 12 năm 2009

con người, là con đường tác dộng trực tiếp nên ngắn nhất vào thế giới nhận thức và tư duy
của con người và do đó nó có hiệu quả nhất” (Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền trong Sử Dụng
Phương Tiện Trực Quan Trong Bài Giảng [2])
- Cuối mỗi bài, giáo viên ôn tập từ vựng bằng cách thiết kế trò chơi từ vựng để giúp
các em ôn tập. Giáo viên tham khảo các trò chơi từ vựng khác để áp dụng phù hợp vào bài
giảng của mình. Trò chơi từ vựng có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau cho đỡ
đơn điệu.
3.3. Xử lý số liệu: Các số liệu thu thập được qua bảng hỏi sẽ được xử lý theo tỉ lệ phần trăm.

IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Qua khảo sát 106 sinh viên 3 lớp K34 đang học Anh văn giai đoạn 1 tại Trường Đại
Học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh về cách học từ vựng chúng tôi nhận thấy:
1. Một số thuận lợi của sinh viên khi học từ vựng
Kết quả khảo sát cho thấy ba thuận lợi được sinh viên lựa chọn nhiều nhất theo thứ tự là:
94

53.8%
44.2%
33.9%
0
10
20
30
40
50
60
1 2 3

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các lựa chọn một số thuận lợi khi học từ vựng:
1. từ vựng có liên quan đến nghề nghiệp sau này

lượng từ lớn như vậy, thì việc hiểu nghĩa của từ đã khó khăn, việc nhớ nghĩa và sử dụng được
từ trong ngữ cảnh khác thì khó khăn hơn rất nhiều. Đặc biệt là các em mới ở giai đoạn một, có
nghĩa là còn khoảng thời gian rất lâu nữa các em mới tốt nghiệp. Một lượng từ lớn như vậy
95

chưa được sử dụng đến chắc chắn là rất dễ bị quên. Vốn từ vựng của các em chỉ có tác dụng
cho các em tham gia các kỳ thi TOEIC trước khi ra trường. Trong bài Overcoming Barriers to
Improving Your Vocabulary: Using Vocabulary Building Software[7], Troy Simpson nói
rằng “để sử dụng thông thạo một từ nào đó và nghĩa của nó thì từ này phải được sử dụng
khoảng 40 lần trong ngữ cảnh khác nhau.”
3. Về thời gian sinh viên dành cho việc học từ vựng
3.8%
19.8%
23.6%
15.1%
9.4%
0
5
10
15
20
25
1 2 3 4 5

Biểu đồ 3: thời gian sinh viên dành cho học từ vựng
1. không học từ vựng ở nhà
2. học 5-10 phút mỗi ngày
3. mỗi lần 5 - 10 phút /3 lần / mỗi tuần
4. mỗi lần 5 - 10 phút /2 lần / mỗi tuần
5. mỗi lần 5 - 10 phút /1 lần / mỗi tuần

12.3
0
10 20 30 40 50 60

Biểu đồ 4: Tỷ lệ lựa chọn về cách học từ vựng:
A - phát âm từ theo từ điển trên mạng: 28.3 %
B - phát âm từ theo từ điển trên đĩa CD: 23.6 %
C - phát âm theo phiên âm trong sách từ điển: 53.8 %
D - viết lại từ nhiều lần: 53.8 %
E - đọc thầm: 29.2%
F - học từ trong ví dụ : 32.1%
G - học nghĩa của từ thông qua các từ đồng nghĩa, trái nghĩa: 12.3 %
Các em trau dồi từ vựng theo điều kiện học tập và theo thói quen của mỗi em.
Con số 53.8 % sinh viên phát âm theo phiên âm trong sách từ điển nói lên rằng các em chưa
có từ điển bằng đĩa, một phương tiện giúp phát âm chính xác. Các em học phát âm theo phiên
âm trong sách từ điển thì gặp khó khăn hơn rất nhiều. 53.8% sinh viên học từ bằng cách viết
lại từ nhiều lần. Học từ vựng đòi hỏi người học bỏ ra rất nhiều công sức: phải nghe, nhắc lại
nhiều lần và viết lại cũng nhiều lần. Việc viết lại từ có thể là cách giúp các em nhớ từ lâu hơn.
Một số liệu đáng quan tâm nữa là 32.1% sinh viên học từ trong ví dụ. Đây là cách học từ có
hiệu quả vì trong ví dụ các em biết được cách kết hợp từ và cách dùng từ trong ngữ cảnh phù
hợp.
5. Về cách tiếp cận từ vựng nào giúp em hiểu và nhớ từ. (Đánh dấu tầm quan trọng từ 1
– 6; 1: quan trọng nhất đến 6: ít quan trọng nhất)
Ở câu hỏi này, 34 em không đánh dấu theo thứ tự từ 1- 6 nên gây khó khăn cho việc
thống kê và phân tích kết quả. Việc phân tích dữ liệu chỉ dựa vào số em đã đánh dấu đúng quy
định (72 em). Theo dữ liệu, chúng ta biết được hai cách tiếp cận từ quan trọng nhất giúp các
em hiểu và nhớ từ là: giáo viên giải thích từng từ có dùng hình ảnh (sử dụng powerpoint)
(33.3%), và cuối mỗi bài, giáo viên giúp sinh viên ôn tập từ vựng thông qua trò chơi từ
vựng (31.9 %). Điều này cho thấy là phương pháp giảng từ mới bằng hình ảnh và trò chơi từ
vựng không nên bỏ qua trong giờ giảng. Sinh viên tin cậy vào kỹ năng tra từ chuyên nghiệp

12.3
15.1
28.3
70.8
51.9
0
10
20
30
40
50
60
70
80

Biểu đồ 5: Kết quả lựa chọn của sinh viên về các phương pháp giúp nhớ từ vựng:
1 - tra từ vựng theo nhóm được phân công: 12.3 %
2 - giáo viên cung cấp từ vựng do sinh viên khóa trước soạn: 15.1%
3 - từ điền nhỏ sau mỗi bài ở cuốn Practice Book: 28.3%
4 - giáo viên giải thích từng từ có dùng hình ảnh (dùng powerpoint): 70.8%
5 - cuối mỗi bài, giáo viên ôn tập từ vựng đã học, có tổ chức trò chơi từ vựng: 51.9%
Như vậy sự kết hợp việc giáo viên giải thích từng từ có dùng hình ảnh (dùng
powerpoint) (70.8%) và giáo viên ôn tập từ vựng đã học, có tổ chức trò chơi từ vựng cuối
mỗi bài( 51.9%) được nhiều em chọn nhất. Đây là cách học trực quan và sinh động nhất vì từ
được trình bày có dùng nhiều hình ảnh, màu sắc trong một bầu không khí thư giãn của lớp
học. Người học được cảm thấy mình như đang chơi. Nhưng thực ra họ đang học một cách
98

thoải mái nhất. Và S.M.Silver [3] cho rằng chính lúc này việc học thực sự đang diễn ra. Hơn
nữa, việc giáo viên giải thích từng từ một làm cho sinh viên đỡ nản hơn là học từ trong một


Biểu đồ 6: Kết quả lựa chọn lợi ích của việc tra từ vựng theo nhóm được phân công:
A- nhớ cách phát âm, nghĩa và cách dùng từ trong ngữ cảnh 47.2 %
B- tiết kiệm thời gian tra từ do làm theo nhóm: 38.7%
C- giúp nhớ chính tả vì phải tự đánh máy: 27.4%
D- tăng cường kỹ năng tra từ điển: 41.5%
E- biết cách dùng từ điển trên mạng: 25.5%
F- lợi ích khác: 5.7%
Ba lợi ích lớn của việc tra từ vựng theo nhóm được phân công sinh viên lựa chọn
nhiều nhất là: giúp sinh viên nhớ cách phát âm, nghĩa và cách dùng từ trong ngữ cảnh (47.2
%), tăng cường kỹ năng tra từ điển (41.5%) và tiết kiệm thời gian tra từ do làm theo nhóm
(38.7%). Việc tra từ vựng theo nhóm được phân công giúp 25.5% sinh viên biết cách dùng
từ điển trên mạng. Tỷ lệ này chưa cao có thể do sinh viên chúng ta hiện nay còn thiếu và khó
khăn trong việc tiếp cận với các phương tiện tra từ hiện đại.
99

8. Về một số khó khăn của sinh viên khi tự tra từ vựng
0
20
40
60
1
2
3

Biểu đồ 7: một số khó khăn của sinh viên khi tự tra từ vựng:
1- không biết cách sử dụng từ điển Anh -Việt 8.5%
2- không biết cách và không quen dùng từ điển trên mạng 28.3%
3- không biết cách dùng từ điển Anh- Anh 42.5%
Khó khăn lớn nhất khi tra từ vựng là không biết cách dùng từ điển Anh- Anh (42.5%).

nhận vì thời gian trên lớp rất hạn chế. Ý kiến của em Nguyễn Văn Linh như sau: “Mỗi thứ
đều có tầm quan trọng riêng. Trò chơi từ vựng là cách ôn tập hay, học đi đôi với luyện tập thì
dễ nhớ, khó quên” . Rixon [3] cho rằng “trò chơi trong các bài tập ôn luyện giúp người học
nhớ lại ngữ liệu (material) một cách dễ chịu và thoải mái. Nhiều tác giả cho rằng mặc dù cho
trò chơi thường gây ồn ào và tạo cho người học giải trí, nhưng rất đáng để chú ý đến và áp
dụng trong lớp học vì chúng làm cho người học hứng thú, tăng khả năng giao tiếp và nói trôi
chảy.”
10. Để việc học từ vựng tốt hơn sinh viên cần phải làm gì?
46.2
42.5
73.6
14.1
12.3
0
10
20
30
40
50
60
70
80

Biểu đồ 9:
1- dành thời gian nhiều hơn để học từ một mình 46.2%
2- dành thời gian nhiều hơn để học từ với bạn 42.5%
3- đọc nhiều, nghe nhiều 73.6%
4- nhờ sự trợ giúp của website speaking 24.com hoặc các website khác 14.1%
5- cách học khác 12.3%
Có đến 73.6% sinh viên cho rằng để việc học từ vựng tốt hơn, em cần phải đọc nhiều,

dạy phát âm cũng phản ánh một xu hướng tự học đang gia tăng. Các em đã ý thức được rằng
không thể phụ thuộc vào giáo viên quá nhiều. Học từ qua đĩa thì thuận lợi hơn rất nhiều.
V. KẾT LUẬN
Sinh viên giai đoạn một ở một số lớp được tiếp cận với một lượng từ vựng rất hữu ích
cho nghề nghiệp sau này bằng nhiều cách học từ vựng khác nhau dưới sự hướng dẫn nhiệt
tình của giáo viên. Số lượng từ vựng trong mỗi bài học nhiều, thời gian để học từ hạn chế,
việc thiếu phương tiện học từ vựng ở nhà và việc chưa tìm được một phương pháp học từ có
hiệu quả là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc phát âm chính xác các từ, kỹ năng tra từ
điển Anh-Anh còn là vấn đề lớn.Với những yếu tố trên đây, thì việc hiểu nghĩa của từ và khả
năng sử dụng thành thạo từ trong ngữ cảnh khác nhau còn rất hạn chế.
Trong các cách giảng dạy từ vựng thì sinh viên cho rằng việc giáo viên giải thích từng
từ có dùng hình ảnh, sau đó thiết kế thành trò chơi trên lớp là dễ hiểu, dễ nhớ và tạo không
khí vui tươi sinh động nhất.Việc giảng dạy từ mới chỉ giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn nghĩa
của từ trong ngữ cảnh, mà chưa giúp sinh viên sử dụng từ để giao tiếp. Cần phải có nhiều
thời gian và cố gắng rất nhiều của giáo viên và sinh viên.
VI. KIẾN NGHỊ
Đối với sinh viên
Học từ vựng đòi hỏi người học nỗ lực suốt cả cuộc đời. Nhưng bạn không thể học hết
tất cả các từ được. Người học phải rất kiên trì và tìm được phương pháp cho phù hợp với hoàn
cảnh và cách học (learning style ) của riêng mình.
- Có ý thức trau dồi từ vựng hàng ngày
- Tăng cường kỹ năng tra từ điển.
- Cố gắng sử dụng từ đã học trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.
- Học những từ quan trọng theo chủ đề mà bạn đang học
- Học những từ bạn đọc và nghe thấy thường xuyên
- Học những từ mà bạn sẽ thường xuyên muốn sử dụng
- Không học những từ hiếm thấy hoặc không hữu ích
Đối với giáo viên
- Tăng cường giảng từ vựng bằng hình ảnh và trò chơi từ vựng để giúp sinh viên hiểu và dễ
nhớ từ.

103

MẪU BẢNG CÂU HỎI

Các em sinh viên thân mến,
Nhận thấy các em sẽ gặp một số khó khăn trong việc học từ vựng, cô đã đưa ra một số cách
học từ vựng để giúp các em trong suốt 2 học kỳ (1 và 2). Vậy cô rất muốn biết được ý kiến của
các em về vấn đề này. Ý kiến của các em rất quan trọng trong việc rút ra những kinh nghiệm
cho cô trong việc giảng dạy cho các sinh viên khóa sau này. Thông tin mà các em cung cấp
sẽ được giữ tuyệt mật (mỗi câu hỏi các em có thể chọn nhiều câu trả lời).
Chân thành cảm ơn sự hợp tác của các em.

1. Thuận lợi của em khi học từ vựng:
a. nhiều cách tiếp cận với từ vựng


b. em thích học Anh văn




d. viết lại từ nhiều lần


e. đọc thầm


104

f. học từ trong ví dụ


g. học nghĩa của từ thông qua các từ đồng nghĩa, trái nghĩa


5. Theo em, cách tiếp cận từ vựng nào giúp em hiểu và nhớ từ nhất? (Đánh dấu tầm
quan trọng từ 1 - quan trọng nhất đến 6 - ít quan trọng nhất):
a. tra từ vựng theo nhóm được phân công (Học phần 1) □
b. giáo viên cung cấp từ vựng do sinh viên khóa trước soạn (Học phần 2) □
c. từ điền nhỏ sau mỗi bài ở cuốn Practice Book □
d. giáo viên giải thích từng từ có dùng hình ảnh (sử dụng powerpoint) □
e. cuối mỗi bài, giáo viên giúp sinh viên ôn tập từ vựng thông qua trò chơi từ vựng □
f. em tự tra tất cả từ mới □
6. Việc kết hợp các phương pháp nào giúp em nhớ từ lâu hơn?
a. tra từ vựng theo nhóm được phân công


b. giáo viên cung cấp từ vựng do sinh viên khóa trước soạn


105

b. dành thời gian nhiều hơn để học từ với bạn


c. đọc nhiều, nghe nhiều


d. nhờ sự trợ giúp của website speaking 24.com hoặc các website khác


e. cách học khác ………………………………………………………………
11. Để giúp em hiểu , nhớ và biết cách sử dụng từ tốt hơn, em muốn giáo viên:
a. phát âm từng từ


b. giới thiệu các website trợ giúp phát âm và nghĩa của từ


c. dùng hình ảnh nhiều hơn nữa để giải thích nghĩa của từ


d. thiết kế nhiều trò chơi từ vựng hơn


e. giới thiệu các đĩa dạy phát âm


f. đề nghị khác …………………………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status