THƯ
VIỆN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
**********************
ĐÀO THỊ QUÝ
KHẢO SÁT NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGHỀ
LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 603180
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN
TS. NGUYỄN ÁNH HỒNG
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Ánh Hồng. Trong quá trình làm luận văn vừa
qua tôi đã được cô chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và nhờ có sự giúp đỡ của cô tôi mới hoàn
thành được luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các giảng viên trong trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh,
Phòng nghiên cứu khoa học và Sau đại học, các bạn học viên cao học lớp Tâm lý học K18 đã
Kinh tế thương mại
N
Số lượng
NN
Nghề nghiệp
TB
Trung bình
TM
Thương mại
SV
Sinh viên
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thế giới ngày càng biến chuyển về mọi mặt trong đó có nền kinh tế biến chuyển khá rõ rệt,
nền kinh tế các nước đều theo một trào lưu đó là hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam
cũng không ngoại lệ, ngày 07/11/2006 Việt Nam đã chính thức gia nhập vào nền kinh tế thương
mại thế giới (WTO) đưa nền kinh tế nước ta phát triển lên một tầm cao mới. Để có thể hội nhập
Từ những băn khoăn đó đã khiến chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát nhận thức và thái
độ của sinh viên Trường Cao Đẳng Kinh Tế Đối Ngoại Thành Phố Hồ Chí Minh đối với một
số nghề liên quan đến kinh tế và thương mại”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ của SV trường CĐKTĐN đối với một số
nghề liên quan đến kinh tế và thương mại đề xuất một số biện pháp giúp SV có nhận thức và
thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp của mình.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: nhận thức, thái độ, đặc điểm tâm lý sinh
viên, nghề nghiệp liên quan đến kinh tế và thương mại…
Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ của SV CĐ.KTĐN đối với một số nghề liên quan đến
kinh tế và thương mại.
Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên về nghề
nghiệp các em đã chọn và có thái độ đúng đắn với các nghề này.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trên 400 sinh viên khoa Quản Trị Kinh Doanh, Khoa Tài Chính Kế Toán,
trường Cao đẳng Kinh Tế Đối Ngoại, TP. Hồ Chí Minh
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và thái độ của sinh viên trường Cao đẳng Kinh Tế Đối Ngoại đối
với một số
nghề liên quan đến kinh tế và thương mại.
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nhận thức và thái độ của sinh viên trường CĐ.KTĐN đối với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực
Tiến hành phát phiếu điều tra chính thức. Kết quả thu về như sau: Số phiếu phát ra là
400 phiếu, số phiếu hợp lệ là 380 phiếu. Điều tra ở sinh viên các chuyên ngành: Quản trị
DNTM (109 SV), Marketing TM (129 SV), Kế toán DNTM (120 SV), Kinh doanh (21
SV).
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn:
-
20 sinh viên các khoa: Quản trị kinh doanh, khoa tài chính kế toán để tìm hiểu suy nghĩ,
hiểu biết, thái độ của các em về nghề nghiệp các em đã chọn.
-
Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, khao Tài chình kế toán, 5 giảng viên giảng dạy trong
trường, 5 giáo viên chủ nhiệm để thu thập thông tin liên quan đến đề tài.
6.3 Phương pháp toán thống kê:
Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản
11.5 tính tần số, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, …
7. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
7.1 Giới hạn:
Nghiên cứu nhận thức và thái độ của sinh viên khoa: Quản Trị Kinh Doanh, Tài Chính Kế
Toán về nghề liên quan đến kinh tế và thương mại.
7.2 Phạm vi:
Nghiên cứu 400 sinh viên năm nhất và năm cuối hai khoa: Quản Trị Kinh Doanh, Tài Chính
Kế Toán trường CĐ Kinh Tế Đối Ngoại
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
SV năm cuối Từ năm 1970 ở trường Lêningrat đã tiến hành nghiên cứu nhân cách của học sinh
bằng cách xác định thiên hướng nghề nghiệp của các em với sự giúp đỡ của viện bội dưỡng giáo
viên. Tác giả Ph.N.Gôlôbin có công trình nghiên cứu về “ Những phẩm chất tâm lý của người
giáo viên”. Ông đã vạch ra được những phẩm chất tâm lý chủ yếu quyết định sự thành công
trong hoạt động giảng dạy của người giáo viên, qua đó đề ra những yêu cầu nghề nghiệp làm cơ
sở giúp cho s inh viên, giáo viên r èn lu yện và ph át triển n ăng lự c sư phạm phù hợp
[8 ].
1.1.2 Tại Việt Nam
Trong vài năm trở lại đây công tác hướng nghiệp nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, nhận
thức về nghề nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông đã trở
thành mối quan tâm của toàn xã hội.
Ngày 19/03/1981 hội đồng Chính phủ đã ra quyết định 126/CP về “công tác hướng nghiệp
trong nhà trường phổ thông…” và từ đây hướng nghiệp đã trở thành hoạt động chính thức trong
nhà trường phổ thông. Ngày 17/11/1981, Bộ Giáo dục ra thông tư số 31/TT quy định “ Để giúp
HS hiểu biết các ngành nghề, các trường học tạm thời sử dụng mỗi tháng một buổi lao động, để
giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành nghề”. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt
Nam (1986) khẳng định: “Trường phổ thông phải chuyển mạnh theo hướng dạy kiến thức phổ
thông cơ bản, lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề”. Nghị quyết 23 ngày
29/03/1989 của Bộ Giáo dục cũng nhấn mạnh “Phải đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phát triển
hệ thống dạy nghề…”. Ngày 31/03/1990 Bộ Giáo dục ban hành quyết định số 329/QĐ nói rõ nội
dung sinh hoạt hướng nghiệp và quy định các lớp THPT mỗi tháng phải có một buổi sinh hoạt
hướng nghiệp.
Nhờ sự quan tâm sâu sát của các cơ quan chính quyền mà công tác hướng nghiệp ở trường
phổ thông đã có những bước phát triển rõ rệt: các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng
nghiệp được tổ chức rộng rãi, các trường phổ thông xuất hiện các phòng, góc hướng nghiệp với
rất nhiều tư liệu về các ngành nghề.
Bên cạnh đó nhiều tác phẩm viết về vấn đề nghề nghiệp cũng được ra đời trong thời gian
gần đây như: “Định hướng NN cho giới trẻ” của tác giả Ngô Hoài Sơn. Sách có đề cập đến
Tác phẩm “Cẩm nang tìm việc” của P.H.Diệp đưa ra những lời khuyên cho bạn trẻ trước
khi tìm việc như chọn kênh thông tin tìm việc, xác định lý do làm việc, những lưu ý để có việc
làm thích hợp cũng như cách viết đơn xin việc, chuẩn bị hồ sơ, chuẩn bị phỏng vấn trước nhà
tuyển dụng…[29]
Công tác định hướng nghề nghiệp không chỉ dừng lại ở bậc phổ thông mà ngay cả sinh viên
sau khi đã lựa chọn ngành nghề và theo học ở bậc đại học, cao đẳng vẫn cần được quan tâm,
điều này sẽ góp phần nâng cao nhận thức và thái độ nghề nghiệp mà SV đang theo học. Như
vậy quá trình hướng nghiệp là một quá trình liên tục và kéo dài cho đến những năm cuối cùng
của bậc đại học, cao đẳng. Tuy nhiên trên thực tế vấn đề này rất ít được quan tâm nghiên cứu,
với những công trình nghiên cứu chuyên sâu vào lĩnh vực nhận thức, thái độ của sinh viên về
ngành nghề thuộc lĩnh vực kinh tế lại càng ít. Chính vì vậy, qua đề tài này chúng tôi muốn khảo
sát thực trạng nhận thức và thái độ về nghề nghiệp của sinh viên đang học các ngành nghề kinh
tế để từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao nhận thức về nghề nghiệp của sinh viên,
giúp SV hình thành thái độ tích cực, đúng đắn đối với ngành nghề các em đang theo học.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ
1.2.1.1 Nhận thức
Khái niệm chung
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhận thức, trong chương trình tâm lý học đại cương
của nhiều tác giả, khái niệm nhận thức đã được đề cập rất cụ thể với nhiều phương diện khác
nhau.
Theo từ điển tiếng Việt - 1992: nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện
thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết
quả của quá trình đó [ 3, tr.689].
Theo Từ điển Triết học: nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng
tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn [32].
Từ điển Bách khoa Việt Nam: nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới
giải: Nhận thức là một thuật ngữ khái quát hóa mọi dạng hiểu biết. Các quá trình hiểu biết bao
gồm: chú ý, ghi nhớ, suy nghĩ và giải quyết vấn đề, tri giác và nhận biết hình mẫu. [50, tr.284].
Từ các quan điểm và các góc độ tiếp cận của các nhà nghiên cứu trên, chúng tôi xác định
rằng: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não con người, mang tính
chủ thể, mang tính lịch sử xã hội và trên cơ sở nhận thức con người tỏ thái độ và hành động
đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình.
Như vậy chúng ta nhận thấy:
- Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan do đó nếu con người có nhận thức
tốt tức là quá trình phản ảnh hiện thức khách quan đúng đắn, đầy đủ.
- Nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ. Tức là khi con người nhận thức tốt sẽ
làm nảy sinh, định hướng, điều khiển tình cảm, thái độ và giúp con người tỏ thái độ phù hợp.
- Nhận thức, thái độ có mối quan hệ với hành động. Nghĩa là nhận thức, thái độ tốt sẽ làm
động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt.
Các giai đoạn của quá trình nhận thức
Sống và hoạt động trong thế giới khách quan, con người luôn nhận thức và tỏ thái độ của
mình với những sự vật hiện tượng xung quanh. Trong quá trình hoạt động, con người phải
nhận thức cái bên ngoài và bản chất bên trong, cái trực quan cụ thể và cái khái quát, trừu
tượng…của sự vật hiện tượng. Như vậy hoạt động nhận thức rất phức tạp, đa dạng và thể
hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Hoạt động nhận thức được chia thành hai giai đoạn: Nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình cảm giác và
tri giác. Nhận thức lý tính gồm có quá trình tư duy và tưởng tượng. Giữa cảm tính và lý
tính có cấp độ trung gian, đó là trí nhớ [22, tr.88].
Nhận thức cảm tính
Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên của con người, trong đó chúng ta chỉ
phản ánh được những đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng riêng lẻ khi chúng trực tiếp tác
động vào các giác quan của chúng ta. Nhận thức cảm tính gồm có hai quá trình cơ bản là cảm
giác và tri giác.
- Tư duy:
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và
quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan, nảy sinh trên cơ sở
nhận thức cảm tính. Tư duy cho ta biết những thuộc tính bản chất bên trong, những quy luật của
hàng loạt sự vật hiện tượng, những cái mà bằng giác quan, bằng nhận thức cảm tính con người
chưa thể phản ánh được. Tư duy nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ nhận thức cảm tính
và vượt ra ngoài nhận tức cảm tính. Tư duy là quá trình tâm lý không tách rời ngôn ngữ, hình
thành bởi xã hội, đi tìm cái mới cơ bản, là quá trình phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực.
Chính vì thế tư duy cho phép ta tìm hiểu quá khứ xa xưa và cũng cho phép ta nhìn về tương lai.
- Tưởng tượng:
Trong thực tế, không phải bất cứ tình huống có vấn đề nào ta cũng đều giải quyết được
bằng tư duy. Có nhiều trường hợp, khi đứng trước tình huống có vấn đề con người không thể
dùng tư duy để giải quyết mà phải dùng một quá trình nhận thức khác gọi là tưởng tượng.
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong kinh
nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Tưởng tượng tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng của trí nhớ nhờ các
phương thức hành động: chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, mô phỏng…
Các mức độ của quá trình nhận thức
Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước bàn về các mức độ của quá trình nhận thức, nhưng
đề tài này chỉ tập trung nói đến quan niệm của B.S.Bloom về đánh giá các mục tiêu nhận thức.
Nhận thức có nhiều mức độ khác nhau, phân loại mục tiêu nhận thức ra thành 6 mức độ từ
thấp đến cao. Mỗi mức độ đặc trưng cho một hoạt động trí tuệ.
Mức 1: Biết: Đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin của cùng một đối tượng nhận thức,
ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái niệm, nội dung các định luật,…
Mức 2: Hiểu: Có thể thuyết minh, giải thích, chứng minh những kiến thức đã lĩnh hội (phục
hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tượng khác nhau, thiết lập liên hệ ở những đối tượng
khác nhau)
đồng thời còn có một hệ thống nhận thức tương đối bền vững về bản thân, mỗi một nhận thức
mới phải được hòa nhập vào hệ thống đó.
+ Nếu những nhận thức mới phù hợp với hệ thống nhận thức đã có thì dẫn đến sự xác nhận
cũng như củng cố thêm nhận thức đã có tạo nên sự hòa nhập.
+ Nếu những nhận thức mới không phù hợp với nhận thức đã có thì có sự tác động qua lại
giữa thông tin mới và nhận thức đã có. Sự tác động này thường gắn với những trạng thái xúc
cảm. Đặc biệt trong trường hợp này, những quá trình nhận thức mới có thể kích thích đưa đến sự
cải tổ hệ thống nhận thức và hệ thống quan điểm đã có.
Tự nhận thức với tư cách là thành phần của tự ý thức của nhân cách, là sự nhận thức về cái
tôi riêng trong mối quan hệ với sự nhận thức thực tế khách quan, nhưng đồng thời trong sự thống
nhất với những quá trình ý thức, nó có chức năng điều chỉnh hành động có ý thức.
1.2.1.2 Thái độ
Khái niệm thái độ
Thái độ là một thuật ngữ được sử dụng khá thường xuyên trong khoa học tâm lý và các
ngành khoa học khác, tuy nhiên việc tìm một khái niệm toàn diện, đầy đủ nhất về thái độ không
phải là dễ. Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu về thái độ
Theo từ điển Tiếng việt – 1999, thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài
(bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm với ai hoặc đối với sự việc nào
đó. Thái độ hống hách, thái độ không bằng lòng, thái độ niềm nở, thái độ im lặng…[3]
Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn
đề, một tình hình. Xây dựng thái độ lao động mới, thái độ học tập đúng đắn, thái độ hoài nghi,
thiếu tin tưởng…
Theo tâm lý học xã hội: Thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một
tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất
quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân [53].
Theo từ điểm tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện – 1991: Trước một số đối tượng nhất định,
như hàng hoá nào đó hoặc một ý tưởng nào đó (chính trị, tôn giáo, triết lý…) nhiều người có
những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn
ánh tồn tại xã hội, chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xã hội, của dư luận và tập đoàn
xã hội. Nó thường không phải là những đáp ứng được biểu lộ một cách rõ ràng hay trực tiếp mà
là những ý nghĩ đang chuyển hoá thành hành động [52].
Các tác giả Xô viết mặc dù có các định nghĩa khác nhau nhưng đều chung một ý là: thái độ
là sự phản ánh ý thức, là sự phản ánh thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định
hướng hành vi xã hội của con người.
Trong tâm lý học phương Tây, vấn đề thái độ được đặt ra lần đầu do hai nhà tâm lý học
người Mỹ là V.I.Thomas và PH.Znanheski (1918) và được nghiên cứu mạnh mẽ vào những năm
30, 50 của thế kỷ này. Họ xem thái độ như là một trong những thuộc tính quan trọng của các vấn
đề xã hội, thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị.
Thái độ được hiểu là sự đáp ứng có tính cách đánh giá và đáp ứng thuộc lĩnh vực tình cảm
được đặt trên cơ sở việc áp dụng một số khái niệm có tính đánh giá và chính thái độ làm nảy
sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích. Nếu vậy, thái độ nảy sinh bên trong của con người
trước sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài và thái độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận
thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể.
Nhà tâm lý học xã hội Hoa Kỳ G.V.Onparte thì cho rằng: Thái độ là trạng thái thần kinh và
tâm lý của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm nó có ảnh hưởng và điều khiển năng
động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó.
Theo D.N.Uzanataze cho rằng ”Thái độ là một trạng thái toàn vẹn của chủ thể. Đó là sự
phản ứng cơ bản đầu tiên đối với các tác động của tình huống trong chủ thể phải đặt ra và giải
quyết tình huống”
Qua những khái niệm trên ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định khía cạnh tâm lý cá nhân
trong thái độ, thái độ là cái rất riêng của cá nhân như là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là
sự sẵn sàng của cơ thể. Thế nhưng, thái độ không chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lý cá nhân mà
phải được xem xét trong mối quan hệ với những yếu tố khác như mối quan hệ với người khác và
cả trong mối quan hệ phức tạp và đa dạng của xã hội.
Thực vậy, thái độ không chỉ mang tính chất cá nhân mà còn mang tính xã hội. Thông
thường thái độ mang tính chất riêng tư của cá nhân vì mỗi cá nhân là một chủ thể nhất định,
Gây ảnh hưởng và điều khiển hành vi
Theo Y.Tamat và Znanhieuski khi nghiên cứu về sự thích ứng của người nông dân Balan
di cư thì khái niệm này dùng để chỉ những đặc trưng cá nhân so với đặc trưng xã hội. Thái độ
được coi là trạng thái xúc động của cá nhân đối với các giá trị, ý nghĩa, lý tưởng của đối tượng
xã hội cụ thể hoặc là trạng thái ý thức của cá nhân phù hợp với một số giá trị xã hội.
Nhà tâm lý học Mỹ Newcom cho rằng, thái độ là khuynh hướng hành động, nhận thức, tư
duy, cảm nhận của cá nhân với khách thể có liên quan.
H.C.Trianodis coi “Thái độ là tư tưởng được hình thành từ những cảm xúc gây tác động
đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong những tình huống xã hội. Thái độ của con
người bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy về đối tượng, cũng như thái độ xử sự
của họ đối với nó.”
R.Marten thì khẳng định, thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xã hội,
nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hành động. Thái độ của con người có mối quan
hệ chặt chẽ với hành vi, được xác định bằng tình huống thống nhất bên trong.
H.Fillmore cho rằng, thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối
tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) của môi trường…thái độ là sự định hướng của cá nhân đến
các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu trúc có tính động cơ.
J.Traver và cộng sự định nghĩa thái độ là các cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu
dài đối với sự việc hay con người nào đó.
Như vậy, khái niệm thái độ là một khái niệm mang tính phức tạp. Thái độ con người theo
diện rộng là toàn bộ hệ thống các mối quan hệ có tính phân biệt lựa chọn, có ý thức của nhân
cách đối với các mặt khác nhau của hiện thực khách quan. Hệ thống này là kết quả của toàn bộ
lịch sử phát triển con người. Nó thể hiện kinh nghiệm cá nhân và mặt bên trong quy định thành
hành vi, tâm trạng của con người.
Đặc điểm của thái độ
Đầu tiên là cảm xúc với đối tượng quen thuộc. Tuy thế, vẫn chưa đủ mà thái độ bao gồm cả
ý định và hành động đối xử với một đối tượng nhất định. Đó là mặt trong, mặt chủ quan của thái
độ. Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn và
Con người thường hình thành thái độ tích cực với những gì có lợi và hình thành thái độ tiêu
cực với khách thể có hại trong tiến trình thoả mãn nhu cầu của mình. Quá trình thoả mãn nhu
cầu là quá trình chủ thể nỗ lực bản thân, tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thoả mãn các
nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể.
- Thái độ được hình thành qua giao tiếp nhóm
Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau, thái độ của một người thường phản
ánh giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ là thành viên. Thái độ của các nhóm khác nhau
là do mục đích, tiêu chuẩn của các nhóm khác nhau. Chẳng hạn nhóm hoạt náo viên khác nhóm
thổi kèn đám ma.
Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ có ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành
viên trong nhóm đó. Chuẩn mực đó không chỉ xác định hành vi nào là đúng hay sai, hành vi nào
là tốt hay xấu mà còn xác định xem thái độ nào là đúng thái độ nào là sai. Thông qua việc
thưởng phạt và áp lực nhóm, ép cá nhân phải tuân theo. Các nhóm thường đưa ra quy chế thưởng
phạt làm động cơ cho các thành viên. Ai có thái độ, hành vi tốt, đúng thì sẽ được khen ngợi,
được thưởng và ngược lại thì sẽ bị lên án, bị phạt. Trong tâm lý học xã hội đề cao vai trò của
nhóm, nhất là các nhóm: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…có vai trò quan trọng trong việc hình
thành ý thức cá nhân. Tuy nhiên cá nhân tiếp nhận các thái độ trong nhóm một cách có lựa chọn,
không tiếp nhận một cách bị động, mức độ và cách thức tiếp nhận của mỗi thành viên trong
nhóm là khác nhau.
- Thái độ được hình thành qua kinh nghiệm sống
Kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ hình thành nên thái độ. Người có nhiều kinh nghiệm sẽ có
thái độ khác so với những người có ít kinh nghiệm mặc dù họ cùng gặp một vấn đề giống nhau.
- Nhân cách cá nhân và sự hình thành thái độ
Cá nhân có xu hướng tiếp nhận các thái độ phù hợp với nhân cách của mình, nhưng nhân
cách của con người thì chưa hẳn là một hệ thống hoàn toàn thống nhất. Chính vì thế mà chúng ta
có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn nhau, bởi sự giáo dục khác nhau.
1.2.1.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ
Thái độ có liên quan chặt chẽ với nhận thức, thái độ chịu sự chi phối của nhận thức nhưng