ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG MẠNH HOÀN
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
Ở CHI LĂNG - LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯƠNG MẠNH HOÀN
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN
Ở CHI LĂNG - LẠNG SƠN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Hằng Phương
THÁI NGUYÊN - 2018
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Chi Lăng - Lạng Sơn.......... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 5
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 6
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................................. 6
7. Cấu trúc của luận văn................................................................................................ 7
NỘI DUNG .................................................................................................................. 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở CHI LĂNG - LẠNG SƠN ....... 8
1.1. Điều kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế xã hội, đời sống văn hóa và truyền
thống lịch sử ....................................................................................................... 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội ................................................................................... 10
1.2.3. Đời sống văn hóa và truyền thống lịch sử ........................................................ 12
1.2. Khái niệm truyền thuyết và lễ hội........................................................................ 16
1.2.1. Khái niệm truyền thuyết ................................................................................... 16
1.2.2. Khái niệm lễ hội dân gian ................................................................................. 17
1.3. Khái lược về truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Chi Lăng, Lạng Sơn ................ 19
1.3.1. Truyền thuyết ở Chi Lăng, Lạng Sơn ............................................................... 19
1.3.2. Hệ thống lễ hội dân gian ở Chi Lăng - Lạng Sơn ............................................. 20
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chi Lăng là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng Sơn, là vùng
đất địa linh, nhân kiệt và rực rỡ chiến công ở miền biên ải phía Bắc của Tổ quốc. Huyện
Chi Lăng nằm cách trung tâm thành phố Lạng Sơn khoảng 40km về phía nam, phía đông
giáp huyện Lộc Bình, phía tây giáp huyện Văn Quan, phía bắc giáp huyện Cao Lộc, phía
nam giáp huyện Hữu Lũng và huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang). Mặc dù phong tục tập
quán, ngôn ngữ và thời gian định cư sớm muộn khác nhau, nhưng nhân dân các dân tộc
trên địa bàn huyện Chi Lăng luôn luôn đoàn kết, gắn bó tương trợ lẫn nhau cùng chung
sống, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Huyện Chi Lăng hiện có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 2 thị trấn và 19 xã,
205 thôn, 7 khu phố. Nhiều nơi không đơn thuần chỉ là địa danh hay là nơi sản sinh
những nhân vật có thật trong lịch sử mà nó còn gắn với những câu chuyện truyền
thuyết dân gian vô cùng sống động. Lịch sử và truyền thuyết gắn liền với những lễ
hội dân gian hòa quyện, đan xen vào nhau đã tạo nên một Chi Lăng anh hùng.
Từng địa danh, từng ngọn núi, dòng sông, dòng suối ở vùng Chi Lăng đều ghi
dấu ấn lịch sử và mang những giá trị văn hóa rất ý nghĩa. Có nhiều công trình nghiên
cứu khoa học cho thấy Chi Lăng là mảnh với nhiều giá trị văn hóa, văn học truyền
thống. Việc tìm hiểu, nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian qua tiến hành khảo sát,
tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội ở vùng Chi Lăng được lưu truyền và tồn tại trong đời
sống xã hội có tác dụng và ý nghĩa tăng cường sự hiểu biết về giá trị văn hóa tinh
thần, phát huy sự đoàn kết, gắn bó các dân tộc ở Chi Lăng nói riêng, của cả dân tộc
Việt Nam nói chung. Để từ đó, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, giàu đẹp, đậm
đà bản sắc dân tộc. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội dân gian nói
chung là việc làm vô cùng thiết thực để thực hiện đường lối chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội ở Lạng Sơn. Tuy
lên xứ Lạng”, của Hà Văn Thư - Hoàng Văn Nam - Vi Hồng Nhân - Vương Toàn (1994),
Nxb văn hóa dân tộc Hà Nội có điểm qua sơ lược một số truyền thuyết dân gian Lạng Sơn
gắn liền với lễ hội.
Ngoài ra phải kể đến một số các công trình nghiên cứu là khóa luận, luận văn,
luận án về truyền thuyết dân gian ở Lạng Sơn như:
- Hoàng Thị Khánh Xuân (2007), “Truyền thuyết Bàn Hồ và tục thờ cúng Bàn
Hồ của người Dao Lô Gang ở huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc sĩ
khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
2
- Phạm Thị Huyền (2008), “Truyền thuyết và lễ hội ven sông Kỳ Cùng - Lạng
Sơn”, Khóa luận tốt nghiệp Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
- Nguyễn Thị Tân Hương (2012), “Khảo sát truyện kể dân gian Tày Nùng xứ
Lạng”, luận văn thạc sĩ, trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm Duy Tùng (2014), “Truyền thuyết về núi non xứ Lạng”, Luận văn thạc
sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội ở một số địa phương
- Bùi Văn Nguyên (1969), “Hình tượng anh hùng trong truyện dân gian các
dân tộc thiểu số miền Bắc”, Tạp chí Văn học, số 9, tr 64-74.
- Nguyễn Thế Dũng (2001), “Truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở Hát
Môn- Phú Thọ - Hà Tây”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Mai Thu Thủy (2005), “Khảo sát những đặc điểm truyền thuyết của người
Tày ở Bắc Kạn”, Luận văn thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Trần Duy Phương (2008), “Truyền thuyết Vũ Thành và lễ hội đền Hả, Lục
Ngạn, Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
- Vũ Ngọc Long (2009), “Khảo sát truyền thuyết và lễ hội về cuộc khởi nghĩa
của Hai Bà Trưng ở Hưng Yên”, Luận văn thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Hồ Thị Mai Hương (2009), “Khảo sát truyền thuyết về Lưu Nhân Chú ở vùng
Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Lạng Sơn), đã cung cấp về truyền thuyết về người
anh hùng nhân dân nơi đây thường gọi là Ngài gắn lịch sử của ngôi đền Cấm và đình
làng Mỏ. Đặc biệt tác giả đã khảo tả về lễ hội dân gian đình làng Mỏ một cách khá tỉ
mỉ và chi tiết.
Đặc biệt luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
của tác giả Ngô Thị Huế (2016), “Hình tượng người anh hùng chống ngoại xâm qua
nhóm truyền thuyết Chi Lăng, Lạng Sơn”. Trong luận văn này, tác giả có nghiên cứu,
tập hợp khá nhiều truyền thuyết ở Chi Lăng. Ngoài ra tác giả còn đi sâu tìm hiểu về
những đặc điểm nội dung và hình thức nghệ thuật về hình tượng người anh hùng
chống giặc ngoại xâm qua nhóm truyền thuyết Chi Lăng, Lạng Sơn
Như vậy, chúng tôi thấy đó là những tư liệu và kiến thức rất quý giá. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội ở Chi Lăng
- Lạng Sơn một cách đầy đủ một cách đầy đủ và có hệ thống.
Từ những điều kiện thực tế đó và trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi
trước, chúng tôi quyết định chọn “Truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Chi Lăng - Lạng
Sơn” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Chúng tôi xem những công trình đi trước là tiền đề khoa học quý giá, là những
ý kiến gợi mở giúp chúng tôi thực hiện đề tài của mình.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các truyền thuyết dân gian ở vùng Chi Lăng, Lạng Sơn.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của truyền thuyết dân gian ở Chi Lăng,
Lạng Sơn là thường gắn với các nghi lễ tế thần ở đình, đền, miếu…nên tác giả đồng
thời khảo tả các lễ hội dân gian ở nơi đây.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi tư liệu nghiên cứu:
Phương pháp điền dã: Chúng tôi sử dụng để tiến hành điền dã sưu tầm văn học,
văn hóa dân gian ở huyện Chi Lăng. Chúng tôi đến tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử,
đền chùa, đình…có liên quan đến các truyền thuyết của Chi Lăng. Gặp gỡ, nói chuyện và
trao đổi với những cán bộ văn hóa, quản lí di tích lịch sử, những người dân địa phương ở
một số làng, xã trong địa bàn huyện.
Phương pháp thống kê: Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu cụ
thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan, có
cơ sở khoa học.
Phương pháp phân tích văn bản văn học dân gian: Để tìm ra được
những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của các truyền thuyết, chúng tôi
lấy văn bản của các truyền thuyết làm cơ sở. Từ đó tiến hành hệ thống, phân
tích cụ thể hóa để làm nổi bật trọng tâm của các vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Do văn học dân gian nói chung và truyền
thuyết nói riêng có đặc trưng là nguyên hợp, tính chất sinh hoạt thực hành nên khi
tiến hành đề tài này chúng tôi đã vận dụng phương pháp thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau như: lịch sử, văn hóa, địa lý … để giải quyết vấn đề.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn phác họa diện mạo chung của truyền thuyết và lễ hội dân gian ở
Chi Lăng, Lạng Sơn một cách tương đối đầy đủ và hệ thống.
- Làm rõ những đặc điểm về nội dung, hình thức nghệ thuật và ý nghĩa của
thuyền thuyết và lễ hội dân gian Chi Lăng, Lạng Sơn.
- Góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần của văn
học dân gian Chi Lăng, Lạng Sơn nói riêng và văn học dân gian cả nước nói chung.
Từ đó khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương và của đất
nước Việt Nam.
- Luận văn góp phần bồi đắp tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý
thức xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước của thế hệ trẻ hôm nay. Cũng thông qua
6
dễ gây hạn hán kéo dài. Thời gian mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm. Do
sự kiến tạo tự nhiên của vùng núi khá khép kín mà Chi Lăng ít chịu ảnh hưởng của
bão. Tuy nhiên, do có nhiều triền dãy núi đá cao thẳng đứng nên cũng thường xuất
hiện mưa đấ và lốc gây không ít thiệt hại cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của
nhân dân” [ 20, tr.9].
Một đặc điểm nổi bật về tự nhiên của Chi Lăng là sự kiến tạo tự nhiên của
vùng núi khá khép kín mà nơi đây ít chịu ảnh hưởng của bão. Tuy nhiên, do có nhiều
triền dãy núi đá cao thẳng đứng nên cũng thường xuất hiện mưa đá và lốc gây không
ít thiệt hại cho sản xuất và sinh hoạt đời sống của nhân dân. “Nguồn nước tự nhiên ở
Chi Lăng khá dồi dào. Đặc biệt có dòng sông Thương chảy từ phía Đông Bắc xuống
hướng Nam huyện Chi Lăng, là nguồn nước lớn phục vụ cho canh tác sản xuất và
sinh hoạt của nhân dân các dân tộc thuộc các xã Bắc Thuỷ, Nhân Lý, Mai Sao,
Quang Lang, Chi Lăng, thị trấn Đồng Mỏ và thị trấn Chi Lăng.” [ 20, tr.10]. Ngoài
ra ở các nơi trong huyện đều có các con suối lớn, nhỏ chảy quanh qua các triền khe,
chân đồi núi, ven các bản làng, chân ruộng… Có thể khẳng định đây là nguồn nước
thường xuyên vô cùng thuận lợi cho canh tác và đời sống của nhân dân các dân tộc ở
từng vùng khác nhau.
8
Rừng Chi Lăng rất phong phú về thành phần loại cây. Vùng Chi Lăng nổi
tiếng với các loại cây gỗ quý như: lim, trầm, mộc lan, nghiến, lát, hoàng đàn, cam
thảo, hà thủ ô... Rừng núi Chi Lăng không chỉ bao bọc, che chở cho người dân mà
còn cung cấp nguồn lương thực dồi dào và nhiều cây dược liệu quý hiếm. Yếu tố
rừng khiến cho cảnh quan thêm phong phú, mặt khác cũng chính là những yếu tố,
những điều kiện thuận lợi cho việc bố phòng quân sự. Dưới lòng đất ở vùng này cũng
tiềm ẩn nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng và đang nhờ đôi bàn tay, khối óc con
người phát hiện, khai thác, phục vụ phát tiển kinh tế - xã hội và đời sống lâu dài. Chi
Lăng một thế hiểm đặc biệt hiếm có, bởi sự cắt xẻ của các yếu tố tự nhiên đã tạo cho
phần làm nên lịch sử Chi Lăng, góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước từ
buổi bình minh của lịch sử dân tộc cho đến ngày nay. “Chi Lăng vốn là địa bàn quần
cư lâu đời của các dân tộc anh em cùng nhau chung sống. Đồng bào Tày, Nùng định
sư sớm hơn, tạo dựng làng bản tập trung, ổn định theo một dòng họ hay nhiều dòng
họ bên những cánh đồng, bờ bãi thung lũng, triền sông. Đồng bào các dân tộc anh
em khác sống xen kẽ, rải rác các vùng đất mới khai khẩn trên triền đồi núi, khe dọc.
Đồng bào Kinh sống tập trung chủ yếu ở thị trấn, ven các trục đường Quốc lộ và
đường dân sinh. Mặc dù phong tục tập quán, ngôn ngữ và thời gian định cư sớm,
muộn khác nhau, nhung đồng bào các dân tộc Tày, Nùng Kinh….” [ 20, tr.12]. Người
dân ở Chi Lăng luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, hiểu biết, tôn
trọng và đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau ổn định cuộc sống, phát triển kinh
tế. Mỗi khi có giặc ngoại xâm hoặc thiên tai đe dọa tàn phá, các dân tộc anh em đều
đồng lòng, chung sức đánh giặc, khắc phục thiên tai, bảo vệ làng xóm quê hương,
đoàn kết xây dựng cuộc sống. Đó là mạch nguồn văn hóa, đạo đức lẽ sống của đồng
bào các dân tộc ở vùng đất lịch sử này.
Nhân dân các dân tộc Chi Lăng luôn luôn phát huy những truyền thống tốt đẹp
của quê hương, của dân tộc quyết tâm vươn lên phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống
đường giao thông đi lại, giao lưu và trao đổi hàng hóa công thương ở Chi Lăng khá
thuận tiện trong tỉnh. Đặc biệt là hiện nay con đường cao tốc mới đang được xây
dựng quy mô và hiện đại, dự kiến hoàn thành vào năm 2020 thuận tiện cho việc đi lại
và giao lưu phát triển kinh tế thương mại - dịch vụ, vốn đã diễn ra khá sôi động trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn khi Việt Nam mở cửa làm ăn, trao đổi hàng hóa, buôn bán với
nước láng giềng Trung Quốc. Trục đường Quốc lộ 1A Hà Nội - Lạng Sơn đi qua Chi
Lăng và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn qua ga Sông Hóa, ga Chi Lăng, ga Đồng
Mỏ mở cho phép giao lưu đi lại, trao đổi vận chuyển hàng hóa nhanh chóng, thuận lợi
từ Chi Lăng đi thành phố Lạng Sơn, xuôi về Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng
10
11
máy xi măng Đồng Bành giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động ở địa
phương. Đây là điều kiện thuận lợi để Chi Lăng phát triển sản xuất công nghiệp vật
liệu xây dựng - ngành công nghiệp mũi nhọn của huyện. Hoạt động thương mại và
dịch vụ ở Chi Lăng cũng từng bước phát triển. Khu chợ ở thị trấn Đồng Mỏ đã được
đầu tư xây dựng khá khang trang là nơi giao lưu thông thương, trao đổi hàng hóa của
toàn huyện, khu trưng bày hàng nông sản ở xã Quang Lang cũng là nơi thuận tiện cho
việc trưng bày, quảng bá nông sản của huyện, chợ na Đồng Bành ở thị trấn Chi Lăng
cũng được đầu tư xây dựng khá quy mô. Hầu hết ở các xã duy trì các chợ phiên góp
phần đắc lực vào việc giao lưu thông thương, trao đổi hàng hóa.
Chi Lăng được biết đên với nhiều địa danh nổi tiếng như dãy núi Cai Kinh, núi
Mặt Quỷ, núi Mã Yên, quỷ Môn quan. Nơi đây còn có đền Chầu Năm, đền Chầu Bát,
đền Cô Chín, đền Chầu Mười…hàng năm đón một lượng khách du lịch rất đông đảo
khách thập phương đến cúng bái, cầu lộc, cầu tài, cầu mùa màng bội thu, buôn may
bán đắt đồng thời góp phần bảo tồn, lưu giữ, phát huy và tôn vinh các giá trị truyền
thống văn hóa dân tộc nước nhà.
Hiện nay, ở các xã trong huyện đều có các trường phổ thông cơ sở, các trường
tiểu học, các trường mầm non. Đặc biệt toàn huyện có ba trường phổ thông trung học
là trường THPT Chi Lăng, trường THPT Đồng Bành, trường THPT Hòa Bình và 1
trung tâm giáo dục nghề, giáo dục thường xuyên. Hàng năm, các trường học phổ
thông thường xuyên thu hút hàng nghìn con em các dân tộc trong độ tuổi theo học.
“Cùng với sự mở mang hệ thống giáo dục, mạng lưới y tế trong huyện cũng được
thiết lập rộng khắp đến các cơ sở xã. Toàn huyện có một bệnh viện đa khoa tập trung
được đầu tư xây dựng quy mô, hiện đại và ba phòng khám khu vực luôn sẵn sàng
phục vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân các đân tộc trong huyện. Đời sống
kinh tế - xã hội đã và đang có nhiều đổi mới và chuyển biến tích cực, nếp sống mới,
đời sống mới đã và đang tỏa khắp các làng bản, ngõ xóm và thị trấn quê hương.
yên, núi rừng sông suối hiền hòa reo vui ấm áp tình người vượt đồi, vượt núi để giao
lưu, để gắn bó với nhau. Ôn Châu - Bằng Mạc, chợ Đồng Mỏ (Châu lỵ Ôn Châu) hay
chợ Vạn Linh (Châu lỵ Bằng Mạc) đều là nơi hội tụ tình nghĩa, hội tụ văn hóa giữa
các dân tộc anh em từ bao đời nay và còn truyền lại mãi cho thế hệ mai sau.
Người dân Chi Lăng rất đỗi tự hào về mảnh đất quê hương, về những thế hệ
ông cha đã không tiếc xương máu, nêu cao tinh thần yêu nước đã ghi danh và để lại
truyền thống yêu nước, cách mạng tươi đẹp cho con cháu đời đời noi theo học tập.
“Năm 1427, đội binh của người anh hùng Đại Huề đã đóng góp đáng kể cùng quân
dân cả nước làm nên chiến công hiển hách của dân tộc chống giặc phương Bắc.
13
Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang lịch sử đã đi qua nhiều thế kỷ song những tên
đất, tên làng ở Chi Lăng vẫn như đang lay động âm hưởng của niềm tự hào lớn lao
ấy: Làng Đăng, Làng Cóc, Làng Lìu, Ba Đàn, Quán Bầu….”[ 18, tr.13].
Giai đoạn lịch sử từ năm 1883 - 1885, trong cuộc chiến đấu chống sự xâm lấn
của thực dân Pháp lên Lạng Sơn, quân ta đã dựa vào thế hiểm yếu của núi rừng Chi
Lăng - Hữu Lũng, nghĩa quân Hoàng Đình Kinh đã anh dũng đánh trả, tiêu diệt kẻ
thù, làm cho địch bao phen khốn quẫn. Cũng từ đó, dãy núi Cai Kinh lưu truyền
nhiều chiến công và khí phách anh hùng của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh, mãi mãi
là niềm tự hào sống động ngay trên mảnh đất Chi Lăng hào hùng, “Năm Thành Thái
thứ 3 (1891 - Triều đình phong kiến nhà Nguyễn), thực dân Pháp tiến hành mở rộng
quy mô chiếm lĩnh và thống trị lên mảnh đất Lạng Sơn, với tinh thần yêu nước, không
chịu khuất phục giặc ngoại xâm, nhân dân các dân tộc ở Bằng Mạc đã dựa vòa thế
thuận lợi ở rừng núi, liên tiếp chiến đấu chống trả kẻ thù suốt hơn ba năm ròng rã
với muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, làm cho kẻ thù không dễ gì thiết lập chế độ cai trị
ở đây.”[ 18, tr.14].
Từ mạch nguồn của truyền thống yêu nước, bước vào thời kỳ đấu tranh giải
phóng dân tộc. Đặc biệt trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế
và thôn Cây Hồng… và các làn điệu hát Sli, hát lượn, hát then… tất cả làm nên nét đẹp
truyền thống, đặc trưng của vùng đất Chi Lăng lịch sử hòa trong nền văn hóa chung
của dân tộc Việt Nam. Nơi đây, ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ông bà, thể hiện lòng
hiếu thảo, đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc trong các gia đình, dòng họ. Một số
thôn, xóm còn có chùa, có đền được nhân dân lưu giữ và bảo tồn. Thờ thần ở nơi đây
cũng khá đa dạng có miếu, đình, đền thờ Thành hoàng - vị thần bảo vệ cho làng làng.
Trong đó vị thần được thờ nhiều nhất thường là những vị anh hùng hoặc có công với
dân làng được người dân suy tôn, gắn liền với các truyền thuyết.
Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, xã hội chính là tạo tiền đề, tạo cơ sở để
bước đầu tìm hiểu về kho tàng văn học, văn hóa dân gian ở Chi Lăng. Nơi đây chính
là vùng đất giàu truyền thống lịch sử nơi ghi dấu ấn của những chiến công hiển hách
gắn liền với những truyền thuyết về những con người được nhân dân ngưỡng mộ,
mến yêu và chính cuộc đời và sự nghiệp của họ là nguồn cảm hứng để tác giả dân
gian sáng tác nên những truyền thuyết vô cùng hấp dẫn và sinh động.
15
1.2. Khái niệm truyền thuyết và lễ hội
1.2.1. Khái niệm truyền thuyết
Truyền thuyết là một trong 12 thể loại của văn học dân gian Việt Nam. Truyền
thuyết ra đời với chức năng chủ yếu là truyện của lịch sử, phản ánh lịch sử sinh hoạt
của con người. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thuyết.
Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên 2008 có định nghĩa về
truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là truyện dân gian truyền miệng về các nhân vật
và sự kiện có liên quan đến lịch sử, thường mang yếu tố thần kỳ” [30, tr.1053].
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” có khái niệm: “Truyền thuyết là một
thể loại dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự
kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng tới một thời kỳ, một bộ tộc, một địa phương hay
một quốc gia”. [7, tr. 367].
Trong giáo trình “Văn học dân gian” của trường Đại học sư phạm Hà Nội, Đỗ
riêng và nền văn học dân tộc nói chung mà còn giúp cho người dân có cái toàn diện
về một thời kỳ lịch sử của dân tộc.
1.2.2. Khái niệm lễ hội dân gian
Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, nơi chung sống của 54 dân
tộc anh em. Bên cạnh sự thống nhất, hài hòa về nét đẹp văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc của người Việt, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những nét phong tục, tập quán
mang bản sắc riêng đóng góp vào sự phong phú và đa dạng mang những giá trị đặc
sắc của nền văn hóa người Việt. Trong đời sống tâm linh, đời sống văn hóa con người
ta vẫn luôn có niềm yêu mến, ngưỡng mộ, biết ơn những người có công lao với quê
hương đất nước. Người dân tôn thờ và có niềm tin vào tự nhiên che chở và bảo vệ
cho họ. Từ đó hình thành khát vọng cầu mùa, cầu mong sự bình an trong các lễ hội
dân gian. “Theo thư tịch cổ, lễ hội của người Việt xuất hiện từ thời Lý (thế kỉ 11)
nhưng có quan điểm cho rằng lễ hội của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát
triển cùng với lịch sử của dân tộc, của đất nước biểu hiện qua trống đồng Đông Sơn
mà tiêu biểu là vùng đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của dân tộc Việt đó là hội mùa, hội
làng…”[ 11, tr.21].
Lễ hội là dịp mọi người cầu mong thần linh phù hộ cho bách gia trăm họ từ
đầu năm đến giữa - giữa năm đến cuối được khỏe mạnh, bình an, cầu mùa màng được
bội thu, được đắc tài, sai lộc và họ cũng không quên cảm tạ thần linh đã phù hộ cho
mình với lòng thành kính sâu sắc nhất trong không khí vui tươi nhưng linh thiêng,
kính cẩn của ngày hội. Thông thường một lễ hội gồm có hai phần, đó là phần lễ và
17
phần hội. “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con
người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước
cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa tôn
giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự bình yên cho
từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh
vùng miền, lại vừa góp phần làm cho văn hóa dân tộc thêm phần đặc sắc và hấp dẫn.
Chính vì thế, trong cuốn từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có nêu rõ:
“Lễ hội là cuộc vui tổ chức chung có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền
thống của dân tộc” [30, tr.694].
1.3. Khái lược về truyền thuyết và lễ hội dân gian ở Chi Lăng, Lạng Sơn
1.3.1. Truyền thuyết ở Chi Lăng, Lạng Sơn
Văn học dân gian luôn có xu hướng “hiện đại hóa tác phẩm”[2, tr.45]. Mà
hơn thế nữa “Trong bối cảnh hiện đại, văn học dân gian có mối quan hệ chặt chẽ với
văn học quần chúng”[1, tr.19-20]. Khi nghiên cứu văn học dân gian ở Chi Lăng,
không thể bỏ qua mảng truyền thuyết về vùng đất và con người nơi này. Truyền
thuyết là tấm gương phản chiếu muôn mặt phong phú và đa dạng của đời sống nhân
dân, “Truyền thuyết sở dĩ có giá trị vì nó đã bổ sung vào chính sử những chi tiết
nhiều khi rất chân thực, làm rõ tính cách nhân vật, vai trò, vị trí những nơi xảy ra sự
kiện”[46, tr.14]. Chi Lăng - cái tên nơi mà từng tấc đất, từng tên núi, tên hang, tên
động, tên suối, tên đình, tên đền, tên chùa ở nơi đây đều gắn chặt với những câu
chuyện, gắn với những chiến công lịch sử oai hùng chống giặc, thắng giặc ngoại xâm
của dân tộc. Những câu chuyện truyền thuyết ở nơi đây được kể từ đời này sang đời
khác với nội dung, chủ đề như: Truyền thống đánh giặc giữ nước, công khai sơn phá
thạch tạo dựng đời sống văn hóa cho cộng đồng. Chi Lăng có một vị trí địa lí chiến
lược hiểm yếu. Đặt biệt, các yếu tố về điều kiện tự nhiên, xã hội, đời sống văn hóa và
truyền thống lịch sử, con người Chi Lăng hiền hòa, sống giàu tình nghĩa là nguồn
cảm hứng cho biết bao câu chuyện truyền thuyết sinh động, hấp dẫn.
Trong quá trình làm đề tài này, chúng tôi đã tiến hành thu thập và khảo sát từ
những tư liệu địa phương đến tư liệu lưu hành trên toàn quốc. Nguồn tư liệu mà
chúng tôi sử dụng để khảo sát truyền thuyết gồm cuốn sách “Kỳ tích Chi Lăng”[42],
trong cuốn sách này chúng tôi thu thập được 52 truyện, Ở các cuốn “Chi Lăng lịch
sử”[26], “Ai lên xứ Lạng”[46], chúng tôi sưu tầm được thêm 13 truyền thuyết.
Trong quá trình đi sưu tầm truyền thuyết ở Chi Lăng, chúng tôi có tìm hiểu,
tiếp cận với những cụ cao tuổi, những người am hiểu về lịch sử văn hóa ở địa
phương. Qua đó, chúng tôi có được 10 truyền thuyết như sau: