I. LÝ LUẬN CHUNG
1. Khái niệm và các thành phần của công nghệ
1.1. Khái niệm
Đã từ lâu thuật nhữ công nghệ được nhắc đến nhiều như là một bộ phận không thể
thiếu trong cuộc sống của con người. Công nghệ dược hình thành ngay từ khi con người
xuất hiện và nó chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong sự phát triển của xã hội xưa và
nay. Đối với khái niệm cụ thể về công nghệ, có rất nhiều cá nhân, tổ chức có cách nhìn
nhận khác nhau.
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) định nghĩa về
công nghệ như sau: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử
dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.
Còn đối với Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) định
nghĩa: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu
và thông tin. Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiets bị và phương pháp sử dụng
trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin.
Như vậy, nếu như định nghĩa của UNIDO nhằm nhấn mạnh vtinhs khoa học là
thuộc tính của công nghệ và khía cạnh hiệu quả của công nghệ khi xem xét việc sử dụng
công nghệ cho mục đích nào đó thì định nghĩa của ESCAP lại được coi là một bước ngoặt
trong lịch sử quan niệm về công nghệ.
Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra một định nghĩa khái quát nhất về công
nghệ như sau: Công nghệ là sự ứng dụng thành quả khoa học kỹ thuật nhằm biến đổi tất
cả những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thành đầu ra.
Hiện nay, loài người đang chứng kiến những thay đổi to lớn trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống, mà xuất phất điểm của nó chính là sự phát triển, tiến bộ không ngừng
của khoa học và công nghệ. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải nhanh chóng nắm bắt và
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh
doanh. Vì các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao sẽ có lợi thế trong các cuộc cạnh
tranh. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phải tạo được một lợi thế mạnh trên thị
trường bằng những sản phẩm có năng lực làm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng về cả số
lượng, chất lượng, kiểu dáng, tính thẩm mỹ của sản phẩm và quan trọng hơn là phải có
năng lực thỏa mãn người tiêu dùng cao hơn. Muốn vậy doanh nghiệp cần nắm được các
2.1. Thực chất của việc đổi mới công nghệ
- Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, việc lựa chọn những phương án
công nghệ mới phù hợp có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao đang ngày càng trở nên quan
trọng và cần thiết không chỉ riêng các doanh nghiệp mà còn mở rộng đến toàn ngành.
- Theo quan điểm phổ biến và hiện đại trên thế giới: Đổi mới công nghệ là việc thay thế
các thiết bị lạc hậu đang có bằng thiết bị hiện đại, thay thế cho quy trình sản xuất mới
hiện đại hơn, tiến bộ hơn quy trình đang áp dụng. Sự thay đổi này kéo theo đồng thời
quá trình biến đổi về chất của các yếu tố khác trong công nghệ, như: nâng cao năng lực sản
xuất của người lao động, đổi mới biện pháp quản lý tổ chức các yếu tố công nghệ, xử lý
các thông tin nhằm cải tiến hoặc sản xuất ra các sản phẩm mới có khả năng đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Có thể nói, đổi mới công nghệ là sự hoàn thiện
không ngừng các yếu tố của công nghệ dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng.
* Một số phương thức đổi mới công nghệ như sau:
- Công nghệ truyền thống đang có của ngành, doanh nghiệp được cải tiến hiện đại hóa
dần dần để từng bước đổi mới công nghệ hiện có lên trình độ tiên tiến, hiện đại.
- Kết hợp việc cải tiến hiện đại hóa với tự nghiên cứu để phát triển công nghệ mới, thay
thế cho công nghệ cũ lạc hậu đang được áp dụng.
- Nhập và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại từ nước ngoài, thông qua các kênh đầu tư
trực tiếp nước ngoài của các công ty đa quốc gia, nhập máy móc thông tin qua hợp tác kinh
doanh trên cơ sở hợp đồng, trả dần vốn qua bao tiêu sản phẩm, mua các lixăng sang chế,
nhận hỗ trợ của các hang thiết bị,…Đây là phương thức chuyển giao mang lại hiệu quả có
tính chất đột biến.
2.2. Sự cần thiết của đổi mới công nghệ
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong những thập niên gần đây đã mở ra cho loài
người những khả năng vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là việc ứng dụng nó
trong đời sống của con người. Song song với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các công
nghệ mới cũng liên tiếp ra đời để phục vụ cho đời sống và sản xuất.
* Đối với một quốc gia:
- Công nghệ là yếu tố cơ bản của sự phát triển ở mỗi quốc gia. Đổi mới công nghệ góp
- Khi đổi mới công nghệ làm cho số lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng lên
tương ứng. Điều này sẽ làm cho lượng hàng hóa được tieu thụ cũng tăng lên, nhờ đó mà
doanh nghiệp có thể mở rộng được thị trường. Đối với thị trường nước ngoài, một thị
trường có thể nói là rất khó tính, nếu doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu về chất
lượng và mẫu mã, bao bì thì việc xâm nhập vào thị trường đó sẽ có rất nhiều thuận lợi.
Doanh nghiệp có thể tạo dựng được uy tín lâu dài trren thị trường này nhờ việc duy trì chất
lượng của sản phẩm.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ
- Mặc dù nhận thức được rõ vai trò và sự cần thiết của đổi mới công nghệ, nhưng không
phải bất cứ ngành nào, doanh nghiệp nào, quốc gia nào muốn là có thể thực hiện được
ngay. Bởi đổi mới công nghệ được xét ở nhiều căn cứ, trong đó trước tiên là phải xuất phát
từ mục tiêu kinh tế, xã hội tạo cho ngành trong từng thời kỳ. Ngoài ra, còn phải căn cứ vào
trình độ công nghệ hiện có của bản thân doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của các đối
thủ khác, xét về mặt công nghệ.
- Có thể xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ từ 4 góc độ sau đây:
2.3.1. Đường lối chính sách của nhà nước
- Đường lối, chính sách của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ có ảnh hưởng
rất lớn tới sự phát triển công nghệ của một quốc gia và quá trình đổi mới của từng doanh
nghiệp. Đường lối, chính sách về công nghệ được thể hiện rất rõ ở chính sách công nghệ
của mỗi quốc gia. Nó quy định khung pháp lý cho sự phát triển công nghệ của chính nước
đó thông qua cách thức phát triển công nghệ - đây là nền tảng cho các hoạt động có liên
quan đến công nghệ.
+ Đường lối, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới
công nghệ bằng các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách mở cửa, ngoại thương hay
chính sách thuế,…
+ Thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghệ.
+Tổ chức đào tạo nhằm nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ khoa học kỹ thuật.
2.3.2. Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần phải đổi mới công nghệ. Tuy
nhiên, việc đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp.
trường đều phải chịu sự cạnh tranh của nhiều đối thủ, không chỉ trong nước mà còn nước
ngoài. Do đó, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của
mình để có thể chiến thắng đối thủ khác. Đổi mới công nghệ hiệu quả thì doanh nghiệp
mới tạo ra những sản phẩm mới mà thị trường có thể chấp nhận được.
2.3.4. Khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường.
- Trước khi tiến hành đổi mới công nghệ, doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu thị
trường để tìm kiếm những sản phẩm thích hợp, phải xem xét khả năng tiêu thụ sản phẩm
đó trên thị trường như thế nào. Điều này sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sau khi sản xuất ra
sản phẩm có thể tiêu thụ được nhanh chóng và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
II. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRUYỀN THÔNG
TẠI VIỆT NAM
l. Sự phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trên thế giới
Công nghệ thông tin - truyền thông, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trên thế
giới ngày càng trở nên nhỏ bé. Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa hoạt động kinh
tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu. Sự hội tụ công
nghệ viễn thông - tin học - truyền thông quảng bá đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn
cầu và dẫn đến sự hình thành những loại hình dịch vụ mới, tạo ra khả năng mới và cách
tiếp cận mới đối với phát triển kinh tế xã hội.
Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc
đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa xã hội loài người chuyển
mạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri
thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ,
xử lý và trao đổi thông tin.
Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội và thách thức
hết sức to lớn. Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉ đạo trực tiếp của
Đảng và Chính phủ chúng ta có thể tận dụng tiềm năng công nghệ thông tin - truyền thông
để chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế xã hội theo hướng xây dựng một
xã hội thông tin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rút ngắn quá trình hiện đại
hoá đất nước.
Về vấn đề này, GS.TSKH Seungtaik Yang - cố vấn công nghệ thông tin của Bộ Bưu
doanh, tiếp thị trong nước và quốc tế. ứng dụng công nghệ thông tin đã tương đối phổ biến
trong hệ thống các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, tại một số địa phương, trong quốc
phòng và an ninh. Hơn 50% bộ, ngành và hơn 80% tỉnh, thành phố trực thuộc đã có trang
Web, 3 tờ báo điện tử và hàng chục trang tin điện tử các loại cùng với việc truyền tín hiệu
truyền hình số qua Internet góp phần đáng kể vào công tác thông tin, tuyên truyền và đối
ngoại. Các trang tin điện tử của Đảng và Quốc hội được cập nhật thông tin thường xuyên,
chiếm được sự quan tâm của cả trong và ngoài nước.
Công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam phát triển với tốc độ trung bình 25%
năm. Tổng giá trị công nghiệp công nghệ thông tin năm 2003 vào khoảng 1,65 tỷ USD.
Trong đó, ước tính giá trị công nghiệp phần cứng máy tính đạt khoảng 850 triệu USD,
công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông đạt khoảng 180 triệu USD, công nghiệp điện tử
đạt khoảng 500 triệu USD, doanh thu sản phẩm và dịch vụ phần mềm đạt khoảng 120 triệu
USD. Công nghiệp nội dung thông tin đang hình thành và phát triển, phục vụ ngày càng có
hiệu quả mọi đối tượng trong nhân dân.
Công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin đã có những chuyển biến tích cực,
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động với tỷ lệ lao động tri thức ngày càng cao. Tính đến
năm 2004 đã có 62 cơ sở bậc đại học, 101 cơ sở bậc cao đẳng, 108 cơ sở bậc trung học
chuyên nghiệp thực hiện đào tạo chính qui về công nghệ thông tin và 69 cơ sở đào tạo phi
chính qui ở các trình độ khác nhau. Chỉ tiêu tuyển sinh đại học, cao đẳng về công nghệ
thông tin-truyền thông bình quân hàng năm tăng 50%, số sinh viên sau đại học tăng 30%.
100% trường đại học, cao đẳng, 93,48% trường trung học phổ thông đã nối mạng Internet.
Những kết quả ban đầu đạt được trong hoàn cảnh kinh tế của nước ta trong giai
đoạn chuyển đổi tuy còn ở mức thấp nhưng đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao.
Trong những đánh giá tổng thể gần đây về mức độ sẵn sàng cho một xã hội kết nối mạng,
hay chiến lược phát triển một đất nước điện tử, Việt Nam đã được coi là một đất nước có
tiềm năng phát triển công nghệ thông tin-truyền thông hơn Lào, Campuchia, Mianma,
Indonesia và nhỉnh hơn cả Phillippines nước có thu nhập bình quân 3500 USD người/năm.
2.2. Những bước tiến nổi bật về ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong
các doanh nghiệp Việt Nam.
ngân hàng theo định hướng tổng thể đến năm 2010, cung cấp cho khách hàng nhiều dịch
vụ chất lượng cao như quản lý vốn tự động (Sweep), chuyển tiền tự động (AFT), trả lương
tự động, gửi tiền một nơi rút nhiều nơi..., đồng thời hỗ trợ các dịch vụ trực tuyến, giúp
khách hàng "giao dịch một cửa".
Đi đầu trong công nghệ thẻ và ngân hàng điện tử
Tháng 5-2002, việc khai trương hệ thống ngân hàng trực tuyến (VCB-Online) và hệ
thống máy rút tiền tự động ATM (với khoảng 100 máy trên toàn quốc) đã mang lại tầm vóc
mới về công nghệ ngân hàng được áp dụng tại Vietcombank. Hai hệ thống này hỗ trợ cho
nhau, mang lại cho khách hàng nhiều tiện ích khi mọi giao dịch ngân hàng được thực hiện
tức thì (Real time), không cần phải qua một khâu trung gian nào. Khách hàng có thể tự
thực hiện các giao dịch như xem tài khoản, chuyển khoản, rút tiền... tại các máy ATM gần
nhất để sử dụng các dịch vụ tự động hoá có tính chính xác và bảo mật cao.
Trong khi đó, hệ thống giao dịch tự động (Connect 24) cho phép khách hàng giao dịch ở
bất cứ đâu. Đối với những khách hàng cần tiết kiệm thời gian và thích sử dụng công nghệ
cao, dịch vụ VCB – Online sẽ giúp khách hàng thực hiện giao dịch ngay tại công ty hay
nhà của mình thông qua hệ thống E – Banking hoặc mạng Internet. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Lê Đức Thúy đánh giá, việc triển khai 2 dịch vụ này của Vietcombank đã đánh
dấu bước phát triển mới về “chất” trên con đường hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Việt
Nam.
Không chỉ đi đầu về ngân hàng điện tử, ngay từ những năm1996 - 1997,
Vietcombank đã thực hiện chủ trương phát triển công nghệ thẻ bằng việc đứng ra làm đại
lý phát hành và thanh toán 2 loại thẻ tín dụng quốc tế phổ biến trong giao dịch ngân hàng
trên thế giới là MasterCard và VisaCard. Mới đây, Vietcombank lại tiếp tục khai trương
dịch vụ thẻ tín dụng Vietcombank American Express (thẻ VCB Amex). Đây là loại thẻ tín
dụng quốc tế có nhiều tiện ích cho khách hàng, được chấp nhận thanh toán tại hàng triệu
điểm cung cấp hàng hoá, dịch vụ và có thể rút tiền từ hệ thống 500.000 máy rút tiền tự
động ATM ở hơn 200 quốc gia trên toàn thế giới.
Nâng cao "chất" công nghệ để trở thành hàng đầu trong khu vực .
Tính đến cuối năm 2002, tổng nguồn vốn của Vietcombank đã tăng gấp 5,2 lần so
với năm 1991, đạt gần 82.000 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ có hiệu quả của các sản phẩm CNTT