BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
----------------------------------
LÊ THỊ NGỌC DIỆP
ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN TỶ SUẤT SINH
LỢI VÀ BIẾN ĐỘNG TỶ SUẤT SINH LỢI
CỔ PHIẾU: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ
PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
----------------------------------
LÊ THỊ NGỌC DIỆP
ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG LÃI SUẤT VÀ
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI
VÀ BIẾN ĐỘNG TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ
PHIẾU: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu. ........................................................................1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .....................................................................2
1.3. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................2
1.4. Ý nghĩa công trình nghiên cứu. .....................................................................3
1.5. Cấu trúc đề tài. ................................................................................................4
2. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY ............................................................................................................4
2.1. Cơ sở lý thuyết.................................................................................................4
2.1.1. Mô hình định giá tài sản vốn liên thời gian (Intertemporal Capital
Asset Pricing Model - ICAPM) .........................................................................5
2.1.1. Mô hình Arbitrage Pricing (APT) ..........................................................5
2.1.1.1. Mô hình APT một nhân tố ................................................................6
2.1.1.2. Mô hình APT đa nhân tố ...................................................................6
2.1.1.3. Các giả định của mô hình APT .........................................................7
2.1.2. Giả thuyết hợp đồng danh nghĩa - The nominal contracting
hypothesis ............................................................................................................7
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây: ......................................................9
3. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. .............................................16
3.1. Dữ liệu nghiên cứu. .......................................................................................16
3.1.1. Dữ liệu về tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu Ngành Ngân hàng ................16
3.1.2. Dữ liệu về biến tỷ suất sinh lợi của chỉ số danh mục cổ phiếu ngành
Ngân hàng .........................................................................................................18
3.1.3. Tỷ suất sinh lợi của chỉ số giá thị trƣờng. ............................................19
3.1.4. Sự biến động của lãi suất: ......................................................................20
3.1.5. Sự biến động của tỷ giá hối đoái ...........................................................22
3.2. Giai đoạn nghiên cứu và tần suất dữ liệu. ..................................................23
3.3. Quy trình nghiên cứu ...................................................................................24
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................25
Từ
Nghĩa
ADF
Kiểm định Dickey và Fuller mở rộng
APT
Mô hình Arbitrage Pricing
ARCH
Mô hình phương sai có điều kiện của sai số thay đổi tự hồi quy
ARDL
AutoRegressive Distributed Lag
ECM
Error Components Model
FX
Biến động tỷ giá hối đoái
GARCH
Ngân hàng Nhà nước
OLS
Mô hình hồi quy tuyến tính theo phương pháp bình phương bé
nhất - Ordinary Least Squares.
TMCP
Thương mại cổ phần
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các Ngân hàng TMCP trong mẫu nghiên cứu....................................18
Bảng 3.2: Mô tả biến nghiên cứu ...........................................................................23
Bảng 4.1: Thống kê mô tả và kiểm định tính dừng ..............................................36
Bảng 4.2: Kết quả ƣớc lƣợng hồi quy mô hình OLS của từng ngân hàng và của
danh mục cổ phiếu Ngân hàng. ..............................................................................42
Bảng 4.3. Kết quả ƣớc lƣợng tỷ suất sinh lợi theo mô hình GARCH (1,1) ........46
Bảng 4.4: Kết quả ƣớc lƣợng biến động tỷ suất sinh lợi theo mô hình GARCH
(1,1) ...........................................................................................................................54
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu khảo sát tác động của biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái lên tỷ
suất sinh lợi và biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của các Ngân hàng TMCP Việt
Nam. Mô hình sử dụng là mô hình OLS và mô hình GARCH. Biến phụ thuộc được
nghiên cứu trong bài nghiên cứu là tỷ suất sinh lợi của các cổ phiểu Ngân hàng
TMCP Việt Nam và chỉ số ngành Ngân hàng (Bankindex) và chỉ số VNIndex. Tác
giả chọn mẫu tám cổ phiếu được niêm yết tại Sàn chứng khoán HOSE và HNX
rủi ro ngành ngân hàng cả về tỷ giá và lãi suất.
Hầu hết các nghiên cứu hiện nay có trên thế giới đa số tập trung ở các nước đang
phát triển nơi mà có thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ, thể hiện vai trò quan
trọng của hệ thống ngân hàng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Thị trường các
nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là hệ thống ngân hàng tại các nước mới nổi phát triển
mạnh mẽ từ những năm 2000 đến nay. Hệ thống ngân hàng tại các nước đang phát
triển dễ bị tổn thương bởi những cuộc khủng hoảng so với các nước đang phát triển
hơn do thiếu những công cụ và kỹ thuật trong quản trị rủi ro. Việt Nam được coi
như một thị trường mới nổi, lãi suất cao và biến động tỷ giá hối đoái là một trong
những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian dài. Vì vậy mục tiêu của
nghiên cứu là điều tra độ nhảy cảm của hoạt động ngân hàng dưới sự tác động của
lãi suất và tỷ giá hối đoái lên ngành ngân hàng mà đại diện là tỷ suất sinh lợi của cổ
phiếu ngành. Ngoài ra những bài nghiên cứu trên thế giới đều thực hiện trên lãi suất
của trái phiếu Chính Phủ, nhưng xét trên thực tế của Việt Nam, lãi suất ảnh hưởng
mạnh mẽ lên ngành Ngân hàng là lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm
được Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày, đây là lãi suất dẫn chiếu thị trường
tài chính ngân hàng của Việt Nam. Vì vậy tác giả thực hiện bài nghiên cứu lựa chọn
2
lãi suất là lãi suất bình quân liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm để đưa vào mô hình cho
thị trường Việt Nam.
Cổ phiếu ngành ngân hàng thể hiện sự tác động của những biến động trong lãi suất
và tỷ giá lên tác động của hoạt động ngân hàng, ngoài ra sự biến động chung của thị
trường chứng khoán cũng tác động mạnh mẽ lên cổ phiếu ngành ngân hàng. Nhằm
cung cấp các bằng chứng về tác động của tỷ giá, lãi suất cũng như kỳ vọng của
chúng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng và biến động tỷ suất sinh lời của
cổ phiếu ngân hàng TMCP tại Việt Nam, tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu này.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Số liệu nghiên cứ được lấy trong giai đoạn từ ngày 01/11/2011
đến ngày 31/08/2016. Việc phân chia thời gian nhằm phục vụ cho việc thu thập
thông tin và nghiên cứu mô hình.
Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng:
-
Mô hình OLS để xác định mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các
ngân hàng riêng lẻ, danh mục cổ phiếu ngân hàng và biến tỷ suất sinh lợi của
chỉ số thị trường, biến động lãi suất lãi suất bình quân liên ngân hàng, biến
động tỷ giá hối đoái.
-
Mô hình GARCH để ước lượng tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu hoặc danh
mục cổ phiếu, biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái đối với biến động tỷ suất
sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng riêng lẻ hoặc danh mục cổ phiếu.
Công cụ phân tích: Phần mềm thống kê sử dụng chủ đạo trong nghiên cứu là Eview
8.0 để hồi quy chuỗi thời gian của tỷ suất sinh lợi và dự báo sự biến động của rủi ro
theo thời gian.
1.4. Ý nghĩa công trình nghiên cứu.
Bài nghiên cứu này có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn như
sau:
-
Xét về mặt lý luận: Công trình nghiên cứu cung cấp thông tin cho các nhà
xây dựng chính sách, quản trị ngân hàng, cổ động và các nhà đầu tư tiềm
năng, kết quả cũng góp phần cung cấp các thông tin cho các đối tượng khác
có liên quan.
Chương 3: Trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương
pháp nghiên cứu.
-
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
-
Chương 5: Kết luận tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được và nêu ra những
hạn chế tồn tại của nghiên cứu, từ đó đề xuất hướng mở cho những nghiên
cứu sau này.
2. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
2.1. Cơ sở lý thuyết
Sự nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi chứng khoán ngành ngân hàng đối với lãi suất và
tỷ giá hối đoái được giải thích về mặt lý thuyết bằng một vài mô hình và giả thuyết
khác nhau như mô hình định giá tài sản vốn liên thời gian (Intertemporal Capital
Asset Pricing Model - ICAPM) (Merton, 1973), lý thuyết Kinh doanh chênh lệch
giá – Mô hình Arbitrage Pricing (APT) (Ross Stephen, 1976) và giả thuyết hợp
đồng danh nghĩa - The nominal contracting hypothesis (Kessel, 1956; French và
cộng sự, 1983). Tiếp theo, bài nghiên cứu sẽ trình bày tác động của lãi suất và tỷ giá
đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán thông qua các mô hình và giả thuyết trên.
5
2.1.1. Mô hình định giá tài sản vốn liên thời gian (Intertemporal Capital
Asset Pricing Model - ICAPM)
6
thông thường của các định chế tài chính bao gồm cả ngân hàng, kết quả này cũng
phù hợp với nghiên cứu của Sweeney và Varga năm 1986. Sự nhạy cảm của tài sản
với sự thay đổi trong mỗi yếu tố được đại diện bằng đại lượng xác định gọi là hệ số
beta.
Sự chứng minh về lý thuyết của tác động của các yếu tố như lãi suất hay tỷ giá đến
tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu có thể được giải thích thông qua sự lo ngại về rủi ro.
Một nhà đầu tư không thích các rủi ro sẽ thích nắm giữ một danh mục đầu tư có
phòng ngừa rủi ro chống lại các biến động bất lợi trong các yếu tố tác động. Kết quả
là, trong trạng thái cân bằng giá tài sản và lợi nhuận dự kiến sẽ khác nhau do sự
biến động của các yếu tố như lãi suất hay tỷ giá. Vì vậy, thông qua mô hình APT, ta
có thể thấy ngoài yếu tố thị trường tác động lên tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu, tỷ giá
và lãi suất cũng tác động đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu.
Một số mô hình APT sử dụng trong các nghiên cứu là:
2.1.1.1. Mô hình APT một nhân tố
Mô hình một nhân tố diễn tả tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i (ri) chịu sự tác động
của một nhân tố (F), nhân tố này thường là nhân tố thị trường và nhà đầu tư không
thể đa dạng hóa rủi ro này, tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán được mô tả:
Trong đó: βi là mức độ nhạy cảm của chứng khoán i đối với nhân tố F
là nhân tố đặc trưng riêng của chứng khoán và có thể đa dạng hóa.
2.1.1.2. Mô hình APT đa nhân tố
∑
7
Các ngân hàng thường nắm giữ các tài sản danh nghĩa và các khoản nợ danh nghĩa
khác nhau. Các tài sản có danh nghĩa gồm tiền mặt, các khoản phải thu, tấm chắn
thuế hoặc các hợp đồng bán hàng với giá cố định (French và cộng sự, 1983). Vì
vậy, nếu xét rõ ràng, ngân hàng hiện đang nắm giữ các tài sản danh nghĩa như tiền
mặt, các khoản cho vay, các trái phiếu chính phủ… Các tài sản nợ (nguồn vốn) danh
nghĩa như các khoản nợ vay, khoản phải trả, các hợp đồng nguyên vật liệu, các cam
kết hoa hồng… Với ngân hàng tài sản nợ danh nghĩa lớn nhất chính là các khoản
huy động vốn từ dân cư (tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá..)
8
Giả thuyết hợp đồng danh nghĩa cho rằng các ngân hàng nắm giữ các tài sản có và
tài sản nợ danh nghĩa khác nhau tác động đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu thông
thường thông qua tác động phân phối sự giàu có bởi sự ảnh hưởng của lạm phát
không mong đợi.
(Kessel, 1956; French và cộng sự, 1983) cho rằng, lạm phát không mong đợi sẽ
phân phối lại sự giàu có giữa chủ nợ (người cho vay) và con nợ (người đi vay) (The
debtor-creditor hypothesis). Các hợp đồng danh nghĩa được xác định thông qua lạm
phát kỳ vọng. Nếu lạm phát kỳ vọng thay đổi sẽ phân phối lại sự giàu có giữa con
nợ và chủ nợ. Nếu lạm phát tăng điều đó sẽ làm cho lãi suất thực mà người cho vay
được hưởng giảm xuống và lãi suất thực đi vay của con nợ cũng giảm xuống, trong
trường hợp này, sự giàu có đã chuyển từ người đi vay sang người vay. Mặc khác,
nếu lạm phát thấp hơn lạm phát kỳ vọng, điều đó dễ dàng thấy rằng con nợ sẽ phải
trả nhiều hơn so với mức dự kiến ban đầu.
Vì vậy, thông qua lạm phát, sự giàu có sẽ tái phân phối lại giữa ngân hàng và người
đi vay. Mà lạm phát chính là một phần quan trọng trong lãi suất (lãi suất danh nghĩa
là tổng của lãi suất thực và lạm phát). Khi cho vay, thì hợp đồng vay chính là một
hợp đồng danh nghĩa. Khi lãi suất thị trường thay đổi cũng làm ảnh hưởng đến lợi
nhuận của ngân hàng, thông qua đó ảnh hưởng đến giá chứng khoán ngân hàng.
là tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lợi của lãi suất trái phiếu.
Stone (1974) cho rằng ngoài nhân tố thị trường thì lãi suất hệ thống là một nhân tố
nữa tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng thương mại. Lloyd và Shick
(1977) kiểm tra tác động của lãi suất và biến động của chính nó lên quá trình tạo ra
tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Kết quả thu được cho thấy lãi suất và biến động
lãi suất có tác động trực tiếp đối với biến động của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngành
ngân hàng. Ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy độ một cú sốc trong chính sách tiền tệ
có tác động và ý nghĩa thống kê đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng.
Ngoài những nghiên cứu trên có thể kể tới những nghiên cứu Lynge và Zumwalt
(1980), Chance và Lane (1980), Flannery và James (1984), Booth và Officer
(1985), Scott và Peterson (1086) cũng sử dụng mô hình hai nhân tố (bao gồm lãi
10
suất và yếu tố thị trường) trên tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngành ngân hàng trên giả
định là các sai số không đổi. Các nghiên cứu có kết quả và mức độ tác động là khác
nhau.
Lynge và Zumwalt (1980) nghiên cứu sự tác động của nhân tố lãi suất đến tỷ suất
sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng. Tác giả đưa vào mô hình nhân tố thứ nhất là nhân
tố thị trường, nhân tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi của trái phiếu nhưng có sự tách biệt
thành tỷ suất sinh lợi của trái phiếu ngắn hạn và tỷ suất sinh lợi của trái phiếu dài
hạn như là một mô hình ba nhân tố và tác giả kết luận rằng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu
ngân hàng bị tác động ngược chiều và có ý nghĩa bởi lãi suất.
Dinenis & S.K. Staikouras (1998) nghiên cứu tác động của sự thay đổi lãi suất và tỷ
suất sinh lợi không mong đợi của danh mục các cổ phiếu phổ thông của các định
chế tài chính Anh. Các định chế tài chính nghiên cứu được chia thành năm nhóm
khác nhau là ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, các công ty đầu tư bất động
sản và các công ty tài chính. Nghiên cứu sử dụng mô hình hai nhân tố với nhân tố
thứ nhất là tỷ suất sinh lợi thị trường, nhân tố thứ hai là biến động lãi suất, kết quả
tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Ngân hàng Mỹ là thị trường, tỷ giá hối đoái và yếu tố lãi
suất với giả định điều kiện sai số thay đổi. Với chuỗi dữ liệu gồm 48 Ngân hàng tại
Mỹ trong giai đoạn từ năm 1975- 1987, việc phân tích một cách chung tác động của
hoặc lãi suất hoặc tỷ giá trên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng, tác giả cung cấp
bằng chứng về độ nhạy lãi suất lớn hơn là độ nhạy tỷ giá hối đoái ngụ ý rằng biến
động lãi suất dẫn đến sự gia tăng nhiều hơn trong biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu
ngân hàng.
Wetmore và Brick(1994) sử dụng mô hình đa nhân tố trên nền tảng của nghiên cứu
Choi và cộng sự, nghiên cứu trên 100 ngân hàng tại Mỹ trong giai đoạn 1986 -1991
và đưa ra kết quả rằng sẽ có những tác động khác nhau của rủi ro thị trường, rủi ro
lãi suất và rủi ro tỷ giá phụ thuộc vào từng giai đoạn và khác nhau ở từng loại hình
ngân hàng khác nhau.
Hahm (2004) sử dụng mô hình ba nhân tố nghiên cứu tác động của lãi suất và tỷ giá
đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Hàn Quốc trong giai đoạn 1990 –
12
1997 trước khủng hoảng tài chính năm 1997. Hahm (2004) cho rằng một sự thay
đổi bất ngờ trong lãi suất và tỷ giá có tác động đáng kể đến giá trị của các cổ tức tài
chính. Kết quả cho thấy lãi suất cao và sự mất giá của đồng Won Hàn Quốc vào
cuối năm 1997 làm hệ số an toàn vốn của các ngân hàng Hàn Quốc xấu đi, ảnh
hưởng đến giá trị của các ngân hàng Hàn Quốc. Bài nghiên cứu cũng cho thấy một
trong những điều kiện tiên quyết để việc tự do hóa tài chính thành công là việc giám
sát thực tiễn và quản lý rủi ro tài chính phải được nâng cao, hơn nữa sự hiệu quả
trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Hàn Quốc có liên quan
mật thiết đến chính sách lãi suất và tín dụng của nhà nước.
Hầu hết những nghiên cứu trên được thực hiện theo phương pháp ước lượng tuyến
tính OLS hoặc GLS, không xem xét rằng sự nhạy cảm của ngân hàng với thị
trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái là khác nhau theo thời gian. Do ảnh hưởng hiệu
mô hình nghiên cứu trên dữ liệu tại Úc.
Mặc dù có rất nhiều các nghiên cứu trên thế giới được thực hiện về đề tài tác động
của lãi suất và tỷ giá đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng nhưng khá ít các
nghiên cứu thực hiện tại các quốc gia đang phát triển. Một trong những nghiên cứu
nổi bật tại các quốc gia đang phát triển chính là mô hình nghiên cứu của Hooy và
cộng sự (2004), bài nghiên cứu của tác các giả thực hiện điều tra sự nhạy cảm rủi ro
lãi suất và tỷ giá lên cổ phiếu ngành ngân hàng tại Malaysia trong cuộc khủng
hoảng tài chính gần đây, đặc biệt là có liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á 1997. Tác giả sử dụng mô hình GARCH – M trong suốt giai đoạn khủng
hoảng tài chính châu Á 1997. Bài nghiên cứu cho thấy rằng giá cổ phiếu ngân hàng
trước và trong khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính đã trở nên ít nhạy cảm với
những rủi ro và đã nhạy cảm hơn khi nguy cơ rủi ro của ngân hàng Malaysia tăng
sau khi có những chính sách kiểm soát vốn và chính sách sáp nhập hợp nhất ngân
hàng tại Malaysia để tránh khủng hoảng.
Mouna, Aloui và Jarboui Anis, M (2013) nghiên cứu tác động của biến động lãi suất
và tỷ giá hối đoái lên tỷ suất sinh lợi và biến động tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu
ngành ngân hàng tại Tunisian bằng cách sử dụng cả mô hình ước lượng OLS và
14
GARCH, bài nghiên cứu cho thấy rằng tỷ giá và rủi ro thị trường là yếu tốt đóng vai
trò quan trọng trong biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngành ngân hàng, tuy nhiên
lãi suất lại không phải là một yếu tố quan trọng trong mô hình nghiên cứu tại
Tunisian này. Hơn nữa, các kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng biến động lãi
suất trong dài hạn và biến động tỷ giá hối đoái là nhân tố quyết định lên biến động
tỷ suất sinh lợi ngành ngân hàng tại Tunisian.
Saadet Kasman, Gulin Vardar và Gokce Tunc (2011) nghiên cứu tác động của lãi
suất, tỷ giá hối đoái lên tỷ suất sinh lợi và biến động tỷ suất sinh lợi cua cổ phiếu
ngành ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ bằng các sử dụng mô hình ước lượng OLS và
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của giá cổ phiếu. Tác giả đã
sử dụng chuỗi giá, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS), lãi suất cho vay, tỷ giá
USD/VND, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tần suất hàng quý trong giai
đoạn từ 31/12/2006 đến 31/12/2012. Bài nghiên cứu trình bày kết quả cho thấy rằng
EPS, tỷ giá USD/VND có tương quan thuận với giá các cổ phiếu được niêm yết trên
thị trường chứng khoán HOSE. Ngược lại, biến động của giá vàng và tỷ lệ lạm phát
có mối tương quan nghịch với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu.
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy đã có rất nhiều những nghiên cứu khác nhau,
và đánh giá tổng quát là tác động cùng chiều hay ngược chiều của tỷ giá, lãi suất,
biến thị trường lên tỷ suất sinh lợi và biến động tỷ suất lợi của cổ phiếu ngành Ngân
hàng. Bài nghiên cứu của Saadet Kasman, Gulin Vardar và Gokce Tunc (2011) đưa
ra kết quả có ý nghĩa thống kê khá cao, phương pháp sử dụng ngoài OLS thông
thường tác giả đã sử dụng mô hình GARCH (1,1) để dự báo, mang đến tính chính
xác và hợp lý cho bài nghiên cứu khi mà các kiểm định ARCH đều có ý nghĩa thống
kê (các mô hình OLS vi phạm giả định về sự tương quan).
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đây được coi như một thị trường mới nổi
tại Châu Á và trên thế giới, nền kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn như biến động cao
trong sự tăng trưởng, lãi suất cao, thiếu thị trường tiền tệ, thị trường vốn, các công
cụ thị trường tiền tệ khá ít, đơn giản, nền kinh tế thị trường còn mang nhiều tính
quản lý tính chất nhà nước… Vì vậy việc lựa chọn Việt Nam là quốc gia nghiên cứu
trong bài nghiên cứu cần thiết để đánh giá tác động của những biến động trên thị
16
trường, tỷ giá và lãi suất đến một trong những ngành quan trọng, dẫn dắt thị trường,
cung cấp vốn đến toàn nền kinh tế đó là ngành ngân hàng. Sự lựa chọn Việt Nam
trong giai đoạn nghiên cứu từ ngày 01/11/2011 – 31/08/2016 đánh giá hầu hết
những biến động của nền kinh tế tác động thông qua tỷ giá hối đoái, những bẩn ổn
lãi suất thị trường giai đoạn năm 2012, khi mà lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua