Vai trò của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty trong các chu kỳ kinh tế khác nhau: nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH


NGUYỄN THỊ TÂM PHƢƠNG

VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN
CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI
CỦA CÔNG TY TRONG CÁC CHU KỲ
KINH TẾ KHÁC NHAU: NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH- NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH


NGUYỄN THỊ TÂM PHƢƠNG

VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN
CHUYỂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI
CỦA CÔNG TY TRONG CÁC CHU KỲ
KINH TẾ KHÁC NHAU: NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính-Ngân Hàng
Mã số: 60340201


1.2.

Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................. 5

1.3.

Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................... 5

1.4.

Tổng quan các nội dung chính của luận văn ...................................................... 5

1.5.

Kết cấu của luận văn ............................................................................................. 7

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .............. 8
2.1

Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi ................... 8

2.2

Vai trò của chu kỳ kinh tế trong mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển

và khả năng sinh lời ....................................................................................................... 14
2.3

Giả thiết ................................................................................................................ 17


5.2

Hạn chế................................................................................................................. 57

5.3

Hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai .................................................................... 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1

Tóm tắt các biến nghiên cứu

Bảng 4.1

Thống kê mô tả

Bảng 4.2

Ma trận hệ số tƣơng quan trong giai đoạn kinh tế bùng nổ

Bảng 4.3

Ma trận hệ số tƣơng quan trong giai đoạn kinh tế bão hòa



Hình 3.1 Tốc độ tăng trƣởng GDP của Việt Nam từ 2006-2013.

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ROA

Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

GOI

Tổng thu nhập hoạt động ròng

CCC

Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

AP

Vòng quay khoản phải trả

AR

Vòng quay khoản phải thu

INV

Vòng quay hàng tồn kho

CR

Từ khóa: Vốn luân chuyển, khả năng sinh lợi, chu kỳ kinh tế


2

CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luân chuyển là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, là yếu tố

quan trọng trong hoạt động của một công ty và là một thƣớc đo sự dịch chuyển của
dòng tiền mặt. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa từ tiền mặt, đến
hàng tồn kho, khoản phải thu và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền mặt. Khi các
công ty hoạt động hiệu quả, dòng tiền chạy tự do; ở những công ty khác, tiền bị kẹt
bên trong vốn luân chuyển, hạn chế khả năng phát triển của công ty. Điều này đặc
biệt đúng đối với các công ty sản xuất, vì đây là vốn đầu tƣ lớn và nhạy cảm hơn
với biến động kinh tế. Quản trị vốn luân chuyển là một quyết định quan trọng tạo
nên sự thành công của một công ty. Việc quản trị vốn luân chuyển đƣợc chia thành
hai nhóm: quản lý tài sản và quản lý nợ. Nếu một công ty đầu tƣ quá nhiều vào tài
sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình
trạng kiệt quệ tài chính do thiếu vốn luân chuyển. Mặc dù các công ty có tình hình
tài chính dài hạn tốt, nhƣng do vốn luân chuyển không đủ khiến công ty lâm vào
tình trạng mất khả năng cạnh tranh. Do đó, việc cân bằng đƣợc tài sản ngắn hạn và
nợ ngắn hạn là rất quan trọng, nhằm duy trì tốt hoạt động công ty, tận dụng tối đa
nguồn vốn và tối thiểu hóa chi phí, cũng nhƣ tạo ra đủ tiền để thực hiện thanh toán
các nghĩa vụ ngắn hạn và đầu tƣ thêm vào sản xuất kinh doanh. Hiệu quả của quản
trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào việc cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng
sinh lợi của doanh nghiệp. Các lý thuyết đã chỉ ra rằng quản trị vốn luân chuyển tác
động trực tiếp đến thanh khoản (chẳng hạn nhƣ Kim, 1998; Opler, 1999; Wang,

các ngân hàng để tài trợ cho vốn luân chuyển là thuận chu kì. Braun và Larrain
(2005) xem xét tầm quan trọng của việc phụ thuộc bên ngoài của công ty về nhu cầu


4

tài trợ với mối quan hệ giữa tăng trƣởng ngành và chu kì kinh doanh trong ngắn
hạn. Chiou và cộng sự (2006) xem xét tác động của các chỉ báo kinh doanh đến các
nhân tố quyết định quản trị vốn luân chuyển. Những nghiên cứu này đã liên kết vốn
luân chuyển với khả năng sinh lợi của công ty và chu kì kinh doanh. Enqvist và
cộng sự (2014) nghiên cứu đồng thời mối quan hệ giữa vốn luân chuyển- khả năng
sinh lợi và ảnh hƣởng của chu kì kinh doanh. Tác giả tìm thấy tầm quan trọng của
chu kì kinh doanh đến mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi và vốn luân chuyển thể
hiện rõ rệt hơn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, quản lý hàng tồn kho hiệu quả
và gia tăng khoản phải thu trong suốt giai đoạn suy thoái kinh tế cũng có tầm quan
trọng đối với khả năng sinh lợi của công ty.
Quản trị vốn luân chuyển có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc quản lý tài
chính, đƣợc nghiên cứu rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả ở Việt
Nam. Tuy chủ đề nghiên cứu về vốn luân chuyển không quá mới nhƣng vẫn có ý
nghĩa hết sức quan trọng theo thời gian, đặc biệt là vấn đề nghiên cứu, phƣơng
pháp và đóng góp của bài nghiên cứu đó. Các nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam tập
trung chủ yếu vào việc xác định tác động của việc quản trị vốn luân chuyển lên khả
năng sinh lợi, hiệu quả tài chính của công ty... chứ chƣa xem xét mối quan hệ giữa
quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi trong các chu kỳ kinh tế khác nhau.
Trƣớc tình hình kinh tế nhiều biến động, ở mỗi giai đoạn khác nhau, vấn đề đặt ra là
công ty làm thế nào để tối ƣu hóa công tác quản trị vốn luân chuyển để tối đa hóa
giá trị doanh nghiệp. Ngƣời viết hi vọng thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ
giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi công ty bằng cách xem xét vai trò của
chu kỳ kinh tế tác động đến mối quan hệ này dựa theo phƣơng pháp nghiên cứu của
Enqvist và cộng sự (2014), và có thể bổ sung thêm về mặt thực nghiệm cho các

khác nhau nhƣ thế nào?

1.4.

Tổng quan các nội dung chính của luận văn
Trong luận văn này, ngƣời viết nghiên cứu tác động của việc quản trị vốn luân

chuyển lên khả năng sinh lợi của công ty trong các chu kỳ kinh tế khác nhau tại
Việt Nam bằng cách sử dụng một mẫu quan sát bao gồm 73 công ty niêm yết tại Sở
giao dịch chứng khoán TP HCM trong thời gian nghiên cứu là 8 năm từ 2006-2013.


6

Thông qua các phƣơng pháp Pooled OLS, Fixed Effectsvà Random Effects cũng
nhƣ có thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn giữa Fixed Effects và Random
Effects, cùng với các biến kiểm soát bao gồm: tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ lệ nợ,
quy mô công ty. Ngoài ra, ngƣời viết còn sử dụng thêm biến giả chỉ ra chu kỳ kinh
tế làm biến kiểm soát. Hơn thế nữa, để giải quyết triệt để các nguồn nội sinh tiềm
tàng trong nghiên cứu, ngƣời viết sử dụng mô hình hồi quy ƣớc lƣợng system GMM
hai bƣớc.
Luận văn đƣa ra một vài kết quả phù hợp với các nghiên cứu trƣớc đây. Thứ
nhất các công ty có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách tăng vốn luân chuyển. Về mặt
kinh tế, các công ty có thể đạt đƣợc mục tiêu này bằng cách tăng tập trung vào thực
tiễn quản lý vốn luân chuyển hiệu quả. Do tình tình kinh tế có nhiều biến động,
ngƣời viết thấy rằng quản trị vốn luân chuyển quan trọng trong tình hình kinh tế suy
thoái và nên đƣợc dự trù trong kế hoạch tài chính của công ty. Kết quả nghiên cứu
của E&Y (2009) chỉ ra rằng tiềm năng lớn nhất để cải thiện vốn luân chuyển có thể
đƣợc tìm thấy trong việc tối ƣu hóa các quy trình nội bộ. Điều này cho thấy rằng
lĩnh vực này chƣa đƣợc ƣu tiên trong thời điểm tăng trƣởng kinh tế đƣợc coi là giai

cứu và hƣớng nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai


8

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
2.1

Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi
Vốn đầu tƣ của một công ty trong tài sản hiện nay bao gồm: tiền mặt, tiền gửi

ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu và hàng tồn kho đƣợc gọi là
vốn luân chuyển. Vốn luân chuyển ròng là thặng dƣ của các tài sản ngắn hạn trên
các khoản nợ ngắn hạn và đại diện cho biên thanh khoản sẵn có để đáp ứng nhu cầu
tiền mặt, duy trì các hoạt động hàng ngày và hƣởng lợi từ những cơ hội đầu tƣ sinh
lợi (Yadav, 2010). Do đó, vốn luân chuyển là thƣớc đo tài chính đại diện cho hoạt
động thanh khoản của công ty và đóng góp vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa
giá trị tài sản của cổ đông. Vốn luân chuyển dƣơng đảm bảo rằng một công ty có
thể tiếp tục hoạt động của mình và có thể quản trị các khoản nợ ngắn hạn và chi phí
hoạt động. Việc quản trị vốn luân chuyển liên quan đến quản trị hàng tồn kho,
khoản phải thu, khoản phải trả và tiền mặt. Quản trị vốn luân chuyển bao gồm bốn
phần chính: trƣớc hết là quản lý dòng tiền, trong đó xác định số dƣ tiền mặt cho
phép các doanh nghiệp đủ đáp ứng chi phí theo ngày; thứ hai, quản lý hàng tồn kho,
trong đó xác định mức độ hàng tồn kho cho phép để sản xuất không bị gián đoạn
nhƣng giảm việc đầu tƣ nguyên liệu và giảm thiểu chi phí sắp xếp lại, và do đó làm
tăng dòng tiền; thứ ba, quản lý nợ, trong đó xác định các chính sách tín dụng phù
hợp; và cuối cùng là tài sản tài chính ngắn hạn, trong đó xác định các nguồn thích
hợp về tài chính trong các giai đoạn sắp tới.
Quản trị vốn luân chuyển có mối liên hệ mật thiết với khả năng sinh lợi, rủi ro

có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty bằng việc xử lý đúng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt


10

và giữ cho mỗi thành phần của chu trình chuyển đổi (khoản phải thu, khoản phải
trả, và hàng tồn kho) ở mức tối ƣu.
Rahman và Naser (2007) đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả
năng sinh lợi và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt trong các công ty của Pakistan. Trong
nghiên cứu này, mẫu gồm 94 công ty đã trong giai đoạn 1999-2004. Chu kỳ chuyển
đổi tiền mặt, vòng quay hàng tồn kho, nợ ngân hàng, tỷ số hiện hành, quy mô công
ty, tỷ lệ nợ và tỷ lệ của các tài sản tài chính đƣợc sử dụng để xem xét ảnh hƣởng.
Các kết quả khảo sát dựa trên các hệ số hồi quy và phân tích Pearson cho rằng khả
năng sinh lợi và quy mô công ty có mối quan hệ ngƣợc chiều với chu kỳ chuyển
đổi. Hơn nữa, có một mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô công ty và khả năng
sinh lợi.
Shin và Soenen (1998) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và giá trị tạo ra cho cổ đông. Trong nghiên cứu của mình, hai tác giả này đã sử dụng
chu kỳ thƣơng mại ròng (NTC) làm thƣớc đo đo lƣờng quản trị vốn luân chuyển.
Chu kỳ thƣơng mại ròng về cơ bản cũng giống với chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, là
đại diện cho nhu cầu vốn luân chuyển cần bổ sung (là một hàm của sự tăng trƣởng
doanh số bán hàng dự kiến). Tác giả lựa chọn 58.985 công ty Mỹ trong giai đoạn
1975-1994 để kiểm tra mối quan hệ giữa chu kì thƣơng mại ròng và lợi nhuận công
ty bằng cách sử dụng phân tích tƣơng quan và hồi quy đối với bộ mẫu. Họ đã tìm
thấy một mối quan hệ ngƣợc chiều giữa độ dài của chu kì thƣơng mại ròng và lợi
nhuận của công ty. Từ đó hàm ý đến các nhà quản lý một trong những cách có thể
tạo ra giá trị cổ đông là giảm chu kỳ thƣơng mại của công ty đến một giá trị hợp lý.
Nilsson và cộng sự (2010) cũng có bài viết nghiên cứu tác động của các đặc
trƣng của công ty lên quản trị vốn luân chuyển tại các công ty ở Thụy Điển, trong
đó ông so sánh ảnh hƣởng của những đặc trƣng lên chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, là


12

vòng quay hàng tồn kho và khoản phải thu, khoản phải trả ngắn hơn thì có lợi nhuận
và tạo ra giá trị nhiều hơn. Tuy nhiên, chƣa có bằng chứng cho thấy chu kỳ chuyển
đổi tiền mặt và chu kỳ thƣơng mại ròng có ảnh hƣớng đến lợi nhuận và giá trị thị
trƣờng của các công ty vừa và nhỏ. Biến kiểm soát đòn bẩy tài chính, quy mô công
ty và tăng trƣởng doanh thu có tác động tích cực đến hiệu quả của doanh nghiệp vừa
và nhỏ, nhƣng thanh khoản, có tác động tích cực nhƣng không đáng kể lên hiệu quả.
Ông cũng thấy rằng các công ty có lợi nhuận thấp thƣờng có thời gian thanh toán
khoản phải trả dài hơn.
Bài nghiên cứu của Garcıa-Teruel, Solano (2007) phân tích dữ liệu bảng của
8.872 công ty vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha giai đoạn 1996-2002 bằng các sử dụng mô
hình hiệu ứng ngẫu nhiên, hiệu ứng cố định và phân tích đa biến nhằm cung cấp
bằng chứng thực nghiệm về ảnh hƣởng của quản trị vốn luân chuyển lên lợi nhuận
(ROA). Điểm khác biệt của bài nghiên cứu này so với các nghiên cứu trƣớc đây là
chƣa có nghiên cứu nào trƣớc đó có bằng chứng thực nghiệm cho trƣờng hợp các
công ty vừa và nhỏ mặc dù vai trò của quản trị vốn luân chuyển trong các công ty
này là hết sức quan trọng, thứ hai là kiểm định tính chắc chắn của kết quả đƣợc thực
hiện cho vấn đề nội sinh có thể xảy ra để chắc rằng mối quan hệ tìm đƣợc trong quá
trình phân tích là do tác động của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt lên lợi nhuận chứ
không phải là do ngƣợc lại. Kết quả đƣợc tìm thấy cũng giống nhƣ các nghiên cứu
trƣớc cho các công ty lớn (Jose, 1996; Shin và Soenenm, 1998; Wang, 2002;
Deloof, 2003) tức là tồn tại mối quan hệ ngƣợc chiều có ý nghĩa giữa khả năng sinh
lợi và vòng quay khoản phải thu, hàng tồn kho và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Hàm
ý rằng các công ty vừa và nhỏ có thể tạo ra giá trị bằng cách giảm thời gian tồn kho
và thời gian thu nợ, dẫn đến việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đến giá trị tối
thiểu hợp lý.




Công ty với nguồn lực tài chính nội bộ lớn hơn và khả năng tiếp cận thị trƣờng vốn
tốt hơn thì sử dụng chiến lƣợc quản trị vốn luân chuyển bảo thủ nhiều hơn. Thời
gian thu khoản phải thu dài cũng có thể tăng cƣờng các mối quan hệ với khách hàng
và do đó có thể dẫn đến sự gia tăng doanh thu bán hàng. Deloof (2003) cho thấy
một khoản tiền tƣơng đối lớn các tài sản của các công ty đƣợc dành riêng cho vốn
luân chuyển. Summers và Wilson (2000) cũng thấy rằng hơn 80% các giao dịch
kinh doanh hàng ngày trong các công ty tại Anh là theo dạng trả chậm. Kaushik
(2008) kiểm tra tác động của vốn luân chuyển (bằng tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ
số hàng tồn kho, tỷ số nợ) lên khả năng sinh lợi công ty (EBIT, lợi nhuận trên vốn
cổ phần). Mẫu đƣợc chọn là các công ty ngành dƣợc phẩm ở Ấn Độ giai đoạn 19962008. Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận đƣợc đánh giá bằng
hệ số tƣơng quan. Kết quả tìm ra quản trị tính thanh khoản, hàng tồn kho và tín
dụng có quan hệ cùng chiều cải thiện lợi nhuận công ty.

2.2

Vai trò của chu kỳ kinh tế trong mối quan hệ giữa quản trị vốn
luân chuyển và khả năng sinh lợi
Chu kỳ kinh tế là quá trình biến động của nền kinh tế qua các giai đoạn có tính

lặp. Nhu cầu cho vốn luân chuyển bị ảnh hƣởng bởi các giai đoạn khác nhau của
chu kỳ kinh tế. Khi có sự bùng nổ kinh tế, thông thƣờng nhu cầu hàng hóa sẽ tăng
và từ đó doanh thu sẽ tăng, dẫn tới sự đầu tƣ của công ty vào hàng tồn kho, các
khoản nợ cũng nhƣ tài sản cố định sẽ tăng lên. Công ty sẽ thƣờng xuyên vay các
khoản nợ dài hạn hoặc giữ lại thu nhập. Trái lại, sự suy giảm của kinh tế sẽ làm
giảm doanh thu và công ty sẽ giảm các khoản vay mƣợn và cho vay ngắn hạn.
Có ít tài liệu nghiên cứu về vốn luân chuyển xem xét tác động của chu kỳ kinh
tế lên vốn luân chuyển. Trong nghiên cứu Merville và Tavis (1973) đã kiểm tra mối
quan hệ giữa chính sách quản trị vốn luân chuyển của công ty và chu kỳ kinh tế, họ


16

Yadav (2010) đã kết luận rằng chính sách vốn luân chuyển luôn năng động
theo thời gian vì nó thay đổi theo chu kỳ kinh tế. Trong thời gian có biến động lớn
trong kinh doanh cao, các công ty có xu hƣớng áp dụng phƣơng pháp tiếp cận bảo
thủ. Theo đó, công ty sử dụng nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản cố định và
nhu cầu vốn theo mùa vụ, đây là chính sách quản trị vốn luân chuyển an toàn.
Chính sách tiếp cận tích cực đƣợc áp dụng khi thời kỳ kinh tế ít biến động, khi đó
tài sản ngắn hạn và một phần tài sản cố định đƣợc tài trợ bằng tín dụng ngắn hạn.
Cách tiếp cận này gặp phải rủi ro khi lãi suất tăng, thời hạn khoản vay ngắn. Tuy
nhiên, doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tăng cơ hội kinh doanh có lợi
nhuận cao. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy, khi có biến động nhiều, dòng
tiền mặt tổ chức và đầu tƣ ngắn hạn của công ty sẽ tăng. Vì vậy quản lý và điều
động dòng tiền sẽ có tác động đáng kể về quản trị vốn luân chuyển trong công ty
nhƣ nghiên cứu của Ranjith trên các công ty ở Thái Lan.
Enqvist và cộng sự (2014) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn luân chuyển
và khả năng sinh lợi công ty bằng cách xem xét tác động của chu kì kinh tế lên mối
quan hệ này thông qua việc sử dụng một mẫu các công ty niêm yết trên thị trƣờng
chứng khoán Helsinki và thời gian nghiên cứu trong 18 năm 1990-2008. Các công
ty ở Phần Lan có xu hƣớng phản ứng mạnh mẽ đối với những thay đổi trong chu kì
kinh tế, một đặc điểm có thể quan sát đƣợc từ sự biến động của các chỉ số chứng
khoán Nasdaq OMX Helsinki. Nghiên cứu đã đƣa ra một vài kết quả thú vị. Các
công ty có thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách tăng vốn luân chuyển. Tác giả
cũng thấy rằng quản trị vốn luân chuyển quan trọng hơn ở giai đoạn kinh tế khủng
hoảng hơn là ở giai đoạn kinh tế bùng nổ, điều này nhấn mạnh rằng quản trị vốn
luân chuyển nên đƣợc dự trù trong kế hoạch tài chính của công ty.


17


18

Cách thức quản lý vốn luân chuyển hiệu quả là giảm độ dài của chu kỳ chuyển
đổi tiền mặt đến giá trị tối ƣu, phù hợp với đặc điểm của từng công ty. Chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt càng dài, công ty càng đầu tƣ nhiều vào vốn luân chuyển, do đó
nhu cầu tài chính của các công ty sẽ lớn hơn. Chi phí lãi vay sẽ còn cao hơn, dẫn
đến rủi ro vỡ nợ cao hơn và lợi nhuận thấp hơn. Lợi nhuận và thanh khoản là hai
mục tiêu chính để duy trì hoạt động của một công ty, do đó nhiệm vụ chính của các
nhà quản trị là đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản ở một mức độ tối ƣu nhất
nhằm đem lại hiệu quả cho công ty (Kargar và Blumenthal, 1994). Sự gia tăng chi
phí của việc đầu tƣ nhiều hơn vào vốn luân chuyển liên quan đến lợi ích của tồn kho
nhiều, cấp tín dụng thƣơng mại cho khách hàng lâu hơn, điều này có thể dẫn đến
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nghiên cứu trƣớc đây đều chứng minh rằng
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có mối quan hệ ngƣợc chiều đến lợi nhuận ở cả công ty
lớn (theo Shin và Soenen, 1998; Lazaridis và Tryfonidis, 2006; Deloof, 2003;
Wang, 2002) và công ty nhỏ (Garcia-Teruel, Martinez-Solano, 2007)… Do vậy, với
mục tiêu tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng
sinh lợi hoạt động kinh doanh của công ty, ngƣời viết cũng đề xuất giả thuyết
nghiên cứu sau:
Giả thuyết 1a: Có một mối quan hệ ngƣợc chiều giữa chu kỳ chuyển đổi tiền
mặt và khả năng sinh lợi ở các doanh nghiệp Việt Nam
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có 3 thành phần chính là vòng quay khoản phải
trả, vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho. Công ty có thể giảm chu
kỳ chuyển đổi tiền mặt bằng cách tối ƣu hóa độc lập mỗi thành phần. Hàng tồn kho
lớn và chính sách tín dụng thƣơng mại rộng rãi có thể dẫn đến doanh thu cao. Việc
tồn kho lớn hơn cũng làm giảm nguy cơ của cạn kiệt nguồn hàng cung cấp. Tín
dụng thƣơng mại có thể kích thích bán hàng bởi vì nó cho phép một công ty để tiếp


19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status