BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------
LÊ THỊ THANH UYÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
THẺ THANH TOÁN TẠI
VIETCOMBANK CHI NHÁNH
HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
TP. Hoà Chí Minh - Năm 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn Thạc sĩ kinh tế “Giải pháp phát triển thẻ thanh
toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí
Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu được sử dụng
là trung thực. Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào từ trước đến nay.
TpHCM, ngày 06/05/2011
Lê Thị Thanh Uyên
1.1.2.1. Khái niệm về thẻ thanh toán
4
1.1.2.2. Đặc điểm của thẻ thanh toán
5
1.1.3. Phân loại và cấu tạo của thẻ thanh toán
5
1.1.3.1. Phân loại thẻ thanh toán
5
1.1.3.2. Cấu tạo của thẻ thanh toán
9
1.1.4. Lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán
11
1.1.4.1. Đối với chủ thẻ
11
1.1.4.2.Đối với ngân hàng
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thẻ thanh toán
20
1.2.1. Sự cần thiết của việc phát triển thẻ thanh toán
20
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển thẻ thanh toán
21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THẺ TẠI NGÂN HÀNG
TMCP NGOẠI THƯƠNG VN – CN. HỒ CHÍ MINH
1.
Tổng quan về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VN – CN.Hồ Chí Minh
25
2.2. Xu thế phát triển thẻ ở Việt Nam
1.
Thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại Vietcombank HCM
1.
29
31
47
2.3.4.3. Từ phía môi trường kinh doanh
48
CHƯƠNG 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THẺ THANH
TOÁN TẠI VIETCOMBANK HỒ CHÍ MINH
3.1. Định hướng phát triển thẻ thanh toán của Vietcombank HCM
50
3.1.1. Đối với nghiệp vụ phát hành thẻ
50
3.1.2. Đối với nghiệp vụ thanh toán thẻ
50
3.1.3. Về nhân lực
51
3.1.4. Về công nghệ, kỹ thuật
51
55
3.2.8. Nâng cao tiện ích thanh toán của thẻ
55
3.2.9 Tiếp tục duy trì chính sách khách hàng như hiện nay đối với các ĐVCNT,
phát triển thêm mạng lưới ĐVCNT
55
3.2.10. Tăng cường phòng chống tội phạm
55
3.2.11. Tăng cường việc quản trị rủi ro
56
3.3. Đối với Vietcombank
58
3.3.1. Hoàn thiện và đơn giản hóa quy trình phát hành thẻ
58
3.3.2. Hợp lý hoá chi phí sử dụng thẻ
3.4.4. Đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm về thẻ
61
3.5. Đối với ngân hàng nhà nước
62
3.5.1. Tuyên truyền phổ bíến kiến thức về thanh toán không dùng tiền mặt
61
3.5.2. Có chính sách khuyến khích phát triển mở rộng mạng lưới kinh doanh thẻ
của các ngân hàng thương mại
61
3.5.3. Gấp rút hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán thẻ ở Việt
Nam, cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam
62
3.5.4. Ngân hàng nhà nước và Hiệp hội các ngân hàng thanh toán thẻ cần phải duy
trì mối quan hệ chặt chẽ với nhau
63
KẾT LUẬN
63
Bảng 2.6: mức phí thanh toán thẻ áp dụng cho các ĐVCNT
tr47
Hình 2.1: Biểu đồ số lượng thẻ ghi nợ do Vietcombank HCM phát hành giai đoạn 20052009
tr31
Hình 2.2: Thị phần thẻ ghi nợ của một số ngân hàng trên địa bàn TP.HCM năm 2009
tr32
Hình 2.3: Biểu đồ doanh số thanh toán thẻ ghi nợ của Vietcombank HCM
tr33
Hình 2.4: Biểu đồ số lượng thẻ tín dụng quốc tế do Vietcombank HCM phát hành
từ năm 2005-2009
tr34
Hình 2.5: Biểu đồ số lượng thẻ tín dụng được phát hành của một số ngân hàng lớn
trên địa bàn TP.HCM năm 2009
tr35
Hình 2.6: Biểu đồ doanh số thanh toán thẻ tín dụng của Vietcombank HCM tr36
Hình 2.7: Các sản phẩm dịch vụ thẻ hiện có của Vietcombank
tr37
Nam.
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hồ Chí
Minh (gọi tắt là VCB HCM) là một trong những chi nhánh lớn hoạt động có hiệu
quả, đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong hệ thống VCB. Do vậy, dựa vào tài liệu
và thực tế hoạt động của VCB HCM trong thời gian qua, tôi mạnh dạn kiến nghị
những giải pháp thích hợp để tăng tính cạnh tranh của VCB nói chung và VCB
HCM nói riêng trong hoạt động thanh toán thẻ hiện nay trong chuyên đề : “Giải
pháp phát triển thẻ thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam –
chi nhánh Hồ Chí Minh” .
2.
Mục đích nghiên cứu:
●
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thẻ thanh toán; sự cần thiết và các nhân
tố ảnh hưởng đến việc phát triển thẻ thanh toán cũng như lợi ích và rủi ro
khi sử dụng thẻ thanh toán.
●
Phân tích, nhận định tình hình phát triển thẻ thanh toán tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh từ năm 2005 – 2010 để
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thẻ thanh toán tại Ngân hàng
TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh trong giai đoạn
kinh tế hội nhập hiện nay.
3.
Dựa vào kết quả phân tích, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm thực tế để
đưa ra các nhận định, đánh giá về tình hình phát triển thẻ thanh toán tại Ngân
hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh
5.
Kết cấu của luận văn: Luận văn này gồm có 3 chương:
●
Chương 1: Tổng quan về thẻ thanh toán
●
Chương 2: Thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại ngân hàng TMCP Ngoại
Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh.
●
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển thẻ thanh toán tại ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, do trình độ còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên mặc dù đã
cố gắng hoàn thiện nhưng chắc chắn chuyên đề này của tôi còn nhiều thiếu sót,
khiếm khuyết trong nhận định và các giải pháp được đề xuất, vì vậy sự chỉ bảo và
góp ý của thầy cô sẽ là nguồn động viên lớn và giúp tôi hoàn thiện chuyên đề này
hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH
chiếc thẻ gỗ của những thương nhân người Tallymen ở thế kỷ 18. Họ bán trang
phục cho khách hàng bằng cách trả góp hàng tuần. Hồ sơ trả tiền của khách được
lưu giữ và tính toán trên một miếng gỗ: tiền nợ được ghi trên một đầu và tiền trả
hàng tuần được khắc trên đầu bên kia.
Đến đầu thế kỷ 20 thì thẻ thanh toán mới ra đời, khi một công ty của Mỹ là
Western Union đã cung cấp một dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của khách hàng.
Công ty phát hành một tấm thẻ bằng kim loại với một số thông tin được in nổi
lên trên để đảm bảo hai chức năng cơ bản: nhận dạng khách hàng, lưu giữ thông
tin được in nổi trên tấm kim loại. Và năm 1924, tổng công ty xăng dầu California
(ngày nay là công ty Mobil) khi thấy được sự tiện lợi từ tấm thẻ của Western
Union cũng đã phát hành thẻ xăng dầu cho nhân viên và một số khách hàng của
mình cho phép họ có thể mua xăng dầu của công ty trên nước Mỹ với mục đích
chính là khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo một dự
phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Sau đó các hệ thống cửa hàng bán lẻ tiếp
tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng này thông qua việc phát hành thẻ theo
hình thức tiêu trước trả tiền sau cho các khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn
thẩm định của họ để khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh thu. Thực sự thì hình
thức này cũng đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, việc phát hành
thẻ (các phiếu bán hàng) có nhiều hạn chế: khả năng tài trợ có hạn, chi phí quản
lý cao, thẻ của mỗi hệ thống chỉ sử dụng được trong hệ thống đó nên tính tiện lợi
của thẻ không cao, nhiều đại lý nhỏ không đủ điều kiện và khả năng cung cấp
tín dụng cho khách hàng của họ. Do đó, người ta sử dụng khá phổ biến các loại
thẻ để mua hàng, mua xăng nhưng tiền mặt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các giao
dịch. Tuy nhiên, ta có thể nói đây là nền tảng cho việc ra đời những tấm thẻ nhựa
sau này.
Tấm thẻ nhựa đầu tiên ra đời vào năm 1949 do ông Frank Mc.Namara, một
doanh nhân người Mỹ, là người sáng lập ra công ty Dinner Club, sáng chế sau một
lần dùng bữa tối tại một nhà hàng ở New York, ông bỗng phát hiện mình không
người tiêu dùng. Đến năm 1977, thẻ Bank Americard đã được thực sự chấp nhận
trên toàn cầu nhưng với tên là thẻ VISA, cũng với màu đặc trưng là xanh lam,
trắng, vàng.
Cũng vào năm 1966, ba nhóm ngân hàng lớn nhất phía Đông nước Mỹ quyết
định hợp tác với nhau thành lập một tập đoàn kinh doanh tín dụng có tên là
Interbank Card Association (ICA). Sau đó ICA liên kết với một số ngân hàng ở
nước ngoài. Và năm 1979, ICA trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn với thẻ Master
Card.
Thẻ ngày nay đã được sử dụng phổ biến rộng rãi, các công ty và các ngân hàng
liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực nhiều lợi nhuận này. Thẻ dần dần được
xem như là một phương tiện thanh toán văn minh, thuận lợi trong các giao dịch
mua bán. Bên cạnh các loại thẻ Visa, Master, thẻ Amex ra đời năm 1958, JCB
xuất phát từ Nhật Bản cũng vươn lên mạnh mẽ và được sử dụng trên toàn cầu.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại, thẻ ngân
hàng ngày càng thu hút sự chú ý và nghiên cứu ứng dụng của nhiều nước, kể cả
những nước đang phát triển.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của thẻ thanh toán:
1.1.2.1. Khái niệm về thẻ thanh toán:
Thẻ thanh toán (hay còn gọi là ví tiền điện tử) là phương tiện thanh toán hiện
đại và tiên tiến nhất trên thế giới. Thẻ thanh toán ra đời và phát triển gắn liền với
sự phát triển và ứng dụng công nghệ tin học của ngân hàng.
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng
phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động (ATM) hay tại các ngân hàng đại
lý trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết
giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Hóa đơn thanh toán thẻ chính là giấy ghi
nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung
ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng phát hành thẻ và
trộm. Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết
nối trực tuyến từ cơ sở cấp nhận thẻ, hay điểm rút tiền mặt, tới ngân hàng thanh
toán, đơn vị phát hành thẻ, tổ chức thẻ quốc tế nên việc ghi nợ, ghi có cho các chủ
thể tham gia quá trình thanh toán được thực hiện một cách tự động, dẫn tới quá
trình thanh toán diễn ra rất dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng.
Chính vì vậy, thẻ đã được xem như là phương tiện thanh toán tốt nhất trong
tất cả các phương tiện thanh toán phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong xã hội hiện đại
và văn minh.
1.1.3. Phân loại và cấu tạo của thẻ thanh toán:
1.1.3.1. Phân loại thẻ thanh toán:
●
Phân loại theo lãnh thổ:
●
Thẻ trong nước: là loại thẻ được sử dụng trong phạm vi một quốc gia,
do vậy đồng tiền được sử dụng để giao dịch là đồng bản tệ. Hoạt động của loại
thẻ này đơn giản, bởi nó chỉ do một tổ chức hay một ngân hàng điều hành, từ việc
phát hành cho đến xử lý trung gian thanh toán.
Ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng của mình và thương lượng với những
đơn vị cung ứng dịch vụ, hàng hoá ở địa phương chấp nhận loại thẻ này. Nếu
những đơn vị “chấp nhận thanh toán thẻ” bán hàng cho khách sử dụng loại thẻ
này, họ sẽ phải gửi giấy đòi tiền đến ngân hàng (trên giấy này có chữ ký xác nhận
của chủ thẻ). Ngân hàng sẽ ghi có vào tài khoản của đơn vị “chấp nhận thanh toán
thẻ” sau khi đã trừ bớt chiết khấu.
Thẻ trong nước cũng có thẻ được sử dụng để rút tiền mặt. Nói chung, nó có
công dụng như mọi loại thẻ khác. Tuy nhiên, thẻ trong nước cũng có nhược điểm
Thẻ khắc chữ nổi: Đây là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ
nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết của chủ thẻ và đơn vị
sản xuất thẻ. Vì vậy hiện nay người ta không sử dụng nữa, vì kỹ thuật sản xuất
quá thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả.
●
Thẻ băng từ: Thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai
băng từ chứa thông tin được mã hoá ở mặt sau của thẻ. Và thẻ này đã được sử
dụng phổ biến trong vòng 20 năm qua, tuy nhiên loại thẻ này cũng bộc lộ nhược
điểm :
●
Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không mã hóa được,
người ta có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính. Dễ bị nhiễu
thông tin khi tiếp xúc với môi trường từ tính như : máy vi tính, điện thoại, nam
châm…
●
Thẻ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp nên không
áp dụng được các kỹ thuật mã đảm bảo an toàn.
●
Thẻ thông minh: Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán. Thẻ thông minh
dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học. Trên mỗi thẻ có gắn một con “chip” điện tử có
cho phép người sử dụng chi tiêu trước trả tiền sau. Chủ thẻ được sử dụng một
hạn mức tín dụng tuần hoàn không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại
những cơ sở kinh doanh: cửa hàng, khách sạn, sân bay… chấp nhận loại thẻ này.
Thẻ tín dụng được xem như là thẻ ngân hàng vì chúng thường được phát hành
bởi các ngân hàng. Các ngân hàng sẽ qui định một hạn mức tín dụng nhất định
cho từng chủ thẻ (hay nói cách khác là chủ thẻ chỉ được chi tiêu trong hạn mức
đã cho). Nếu chủ thẻ trả hết tiền nợ vào cuối tháng hay là ngày ngân hàng ấn
định (theo các hoá đơn được gửi đến từ các cơ sở chấp nhận thanh toán) cho ngân
hàng thì họ không phải trả lãi cho số tiền đã sử dụng trong tháng. Còn nếu chủ
thẻ không thanh toán được hết nợ thì phải trả lãi cho số tiền còn nợ lại theo mức
lãi suất ấn định trước. Mức lãi suất này thường được xác định tuỳ theo ngân hàng
phát hành thẻ.
Như vậy, chủ thẻ hoàn toàn chủ động trong việc sử dụng vốn của ngân hàng.
Mặt khác, chủ thẻ còn có thể thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào trên
thế giới. Tuy nhiên, phí rút tiền mặt của thẻ này khá cao và chủ thẻ phải trả phí
thường niên.
●
Thẻ ghi nợ (Debit Card): Đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp gắn liền
với tài khoản tiền gửi. Loại thẻ này khi mua hàng hoá, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ
được trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử
đặt tại các đơn vị chấp nhận thẻ (cửa hàng, khách sạn…) và đồng thời ghi có ngay
vào tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ đó. Thẻ ghi nợ còn được sử dụng để rút
tiền mặt tại các máy ATM.
Thường thì thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư
hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được chi tiêu trên số dư tiền gửi
thực tế mình có. Với tính chất như vậy, thẻ ghi nợ thường được cấp cho khách
Mặt trước của thẻ phải ghi:
●
Tên và biểu tượng của đơn vị phát hành: mỗi loại thẻ có một biểu tượng
riêng logo mang tính đặc trưng của đơn vị phát hành thẻ. Đây được xem như là
một đặc an ninh nhằm chống giả mạo. Ví dụ như:
●
Thẻ Visa: Biểu tượng là hình chữ nhật 3 màu (xanh, trắng, vàng) có chữ
Visa chạy ngang giữa màu trắng, trên hình chữ nhật 3 màu là hình chim bồ câu
đang bay in chìm.
●
Thẻ MasterCard: Biểu tượng là 2 hình tròn lồng vào nhau ở góc dưới bên
phải của thẻ (một hình màu cam, một hình màu đỏ) và dòng chữ Mastercard màu
trắng chạy ở giữa, trên 2 hình tròn lồng vào nhau là 2 nửa quả cầu lồng vào nhau
in chìm.
●
Thẻ JCB: Biểu tượng có 3 màu xanh công nhân, xanh lá cây và đỏ, có
chữ JCB chạy ngang giữa.
●
Thẻ Amex: Biểu tượng là hình đầu người chiến binh.
●
Số thẻ.
●
Tên chủ thẻ.
●
Thời hạn hiệu lực.
●
Bản lí lịch ngân hàng.
●
Mã số bí mật.
●
Ngày giao dịch cuối cùng.
●
Mức rút tối đa và số dư.
phải đến ngân hàng làm thủ tục mua séc, đồng thời trả cho ngân hàng một khoản
phí mặc dù thực tế khách hàng chưa hề sử dụng séc này. Khi trở về, nếu sử dụng
không hết số tiền trên séc, khách hàng lại phải đến ngân hàng làm thủ tục đổi
séc ra tiền mặt hoặc chấp nhận rủi ro về tỷ giá nếu giữ séc lại cho lần sau. Như
vậy, người sử dụng thẻ không những tiết kiệm được thời gian thanh toán, mà còn
không phải mất thời gian đến giao dịch tại ngân hàng.
●
Linh hoạt: Chủ thẻ được cấp tín dụng tự động tức thời khi họ sử dụng
thẻ tín dụng tuần hoàn. Thường thì ai cũng có tâm lý ngại đến ngân hàng làm thủ
tục xin vay, và họ sẽ đánh giá cao, xem thẻ như là một khoản tín dụng ngắn hạn,
thủ tục phát hành đơn giản (thậm chí có thẻ còn được phát hành qua đường bưu
điện). Hơn thế nữa, chủ thẻ chỉ phải thanh toán một phần nhỏ (hiện nay là 10%)
khi đến hạn thanh toán (thường là một tháng), số còn lại chủ thẻ có thể trả sau với
lãi suất tín dụng tiêu dùng hiện hành. Và khi sử dụng thẻ tín dụng, khách hàng có
thể điều chỉnh các khoản chi tiêu một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất
định với một hạn mức tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu dùng, sinh hoạt,
cũng như trong sản xuất.
●
Kiểm soát được chi tiêu: với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến, chủ
thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính
toán được phí và lãi trả cho mỗi giao dịch.
●
Bảo vệ người tiêu dùng: ở các nước phát triển có Luật tín dụng (ví dụ: