Nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế của Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------oOo----------

TRẦN LÊ THANH HẢI

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI
LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------oOo---------

TRẦN LÊ THANH HẢI

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI
LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM.

Chuyên ngành:

Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã ngành:

60340201


DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT .............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN VÀ
CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.............................................................................. 2
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN CÁC
NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .............................................................................. 4
2.1 Khung lý thuyết và các quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới
về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế:..................... 4
2.1.1 Nợ nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: ............................................ 5
2.1.2 Nợ nước ngoài kìm hãm tăng trưởng kinh tế: ........................................... 5
2.1.3 Nợ nước ngoài vừa thúc đẩy vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế:................ 6
2.1.4 Nợ nước ngoài không tác động đến tăng trưởng kinh tế: ........................ 11
2.2 Các nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới về tác động của nợ
nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế. ............................................................ 11
2.2.1 Nghiên cứu của Maureen Were (2001) “Tác động của nợ nước ngoài đối
với tăng trưởng kinh tế ở Kenya”. ................................................................... 11
2.2.2 Nghiên cứu của Frimpong, J.M.and Oteng-Abayi,E.F. (2006), “Tác động
của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Ghana. Một nghiên cứu thực
nghiệm” .......................................................................................................... 14


2.2.3 Nghiên cứu của Shahnawaz

Malik, Muhammad Khizar Hayat và

Muhammad Umer Hayat (2010) “Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu thực nghiệm từ Pakistan” ........................................................... 16
2.2.4 Nghiên cứu của Sulaiman, L.A và Azeez, B.A (2012) "Tác động của nợ
nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria" ................................................ 17
2.2.5 Nghiên cứu của Okonkwa, C.S & Odularu, G.O. (2013): "Mối quan hệ

Total external debt as a percentage
EXDY of GDP
Foreign direct investment as a
FDIY percentage of GDP
Gross domestic investment as a
GDIY percentage of GDP
GDP
Gross domestic product
IMF
International Monetary Fund
HIPC
ODA

Highly Indebted Poor Country
Office Development Assistance

OLS

Ordinary Least Square

RYPC

Real GDP per capita
Total debt service as a percentage
of exports

TDSE
VND
USD
WB

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen theo thống kê Trace
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen theo thống kê Max-Eigen
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy ước lượng vector sai số ngẫu nhiên VECM
Bảng 4.6: Hồi quy đồng liên kết
Bảng 4.7 Kiểm định phần dư để kiểm tra đồng liên kết
Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả phần dư có phân phối chuẩn
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.10 Hồi quy mô hình ECM hai bước trễ
Bảng 4.11 Hồi quy mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Histogram - Normality mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.14 Kiểm định Wald mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.15 Bảng kết quả kiểm định tự tương quan


DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Đường cong Laffer nợ
Hình 1.2 Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trưởng.
Hình 4.1 Kết quả kiểm định Histogram – Normality của phần dư
Hình 4.2 Kết quả kiểm định Histogram - Normality mô hình ECM một bước trễ


1

TÓM TẮT
Nghiên cứu này thực hiện nhằm kiểm tra sự tác động của nợ nước ngoài
đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn bằng cách sử
dụng số liệu chuỗi thời gian từ năm 1986 đến năm 2012. Trong bài nghiên cứu
này các yếu tố sau được coi là yếu tố chính tác động lên tăng trưởng kinh tế:
đầu tư trực tiếp nước ngoài trên GDP, nợ nước ngoài trên GDP, đầu tư trong

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn vốn vay nợ luôn đóng vai
trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, thị trường vốn ngày càng phát triển đã
tạo điều kiện cho hoạt động vay nợ diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn từ đó góp phần
gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia trong quá trình phát triển.
Theo Tokunbo và cộng sự (2006), các nghiên cứu ban đầu của các nhà kinh
tế trong những thập niên 50 và 60 đã tìm thấy một lý thuyết chung về nợ nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế. Tất cả họ đều chia sẻ quan điểm chung rằng việc
chuyển giao các nguồn lực nước ngoài (thông qua các khoản vay, viện trợ và tài
trợ) tại các nước kém phát triển là cần thiết, nó bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong
nước. Với nguồn vốn được bổ sung sẽ giúp các nước chuyển đổi nền kinh tế để
tạo ra mức tăng trưởng cao hơn.
Trong những năm qua, Việt Nam liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao, đó không chỉ dựa vào yếu tố nội sinh mà còn có sự tác động của yếu tố bên
ngoài. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện vốn trong nước còn hạn
chế, các nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều
cách khác nhau, trong đó vay nợ là một phương thức phổ biến.
Tuy nhiên, nợ nước ngoài cũng có mặt bất lợi khi nó được tích lũy vượt quá
một giới hạn nhất định. Nếu nguồn vốn vay này không được phân bổ hiệu quả sẽ
không tạo được nguồn để trả nợ. Theo Nakatani và Herara (2007) vấn đề nợ nước
ngoài nhìn chung sẽ dẫn đến "nợ dư thừa" (debt overhang) và tạo ra "hiệu ứng chèn
lấn" (crowding out effect) trong đầu tư công tại các quốc gia khác nhau. Việc tích
lũy nợ lớn của các quốc gia đang phát triển sẽ cản trở quá trình tăng trưởng và lợi
nhuận đạt được từ tăng trưởng sẽ bị kìm hãm bởi các khoản nợ phải thanh toán,
nguồn dự trữ ngoại tệ giảm do được sử dụng để trả nợ sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán làm giảm khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính bên ngoài từ đó có
những tác động bất lợi đến đến đầu tư.


3


trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã lượng hoá tác động của các nguồn lực tăng


5

trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình
tái sản xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I. Lênin, mô hình các
giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow,...hoặc hàm sản xuất Cob
Douglas.
Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng
trưởng kinh tế nội sinh, tăng trưởng kinh tế ngoại sinh hoặc sự kết hợp của cả hai
mô hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia. Như vậy,
tăng trưởng kinh tế là quá trình tích luỹ giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các
nguồn lực trong và ngoài nước và nó phải được thúc đẩy bằng những động lực đủ
mạnh của chính sách hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế.
Nợ gia tăng là do Chính Phủ cần bù đắp cho thâm hụt ngân sách, khi nguồn
thu không đủ tài trợ cho nhu cầu đầu tư và chi tiêu công, do đó nợ tăng cũng không
ngoài mục tiêu nhằm ổn định và tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế nợ nước ngoài gia
tăng luôn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hay không là một câu hỏi còn gây rất nhiều
tranh cãi. Đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm xoay quoanh mối quan
hệ này, dưới đây tác giả trích dẫn một số quan điểm nổi bật của các nhà kinh tế học
trên thế giới về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế xoay quoanh
bốn trường phái: Nợ thúc đẩy tăng trưởng, Nợ kìm hãm tăng trưởng, Nợ vừa thúc
đẩy lại vừa kìm hãm tăng trưởng (tùy theo quy mô nợ), Nợ không tác động đến tăng
trưởng kinh tế.
2.1.1 Nợ nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Các nghiên cứu lý thuyết về tác động của nợ trong ngắn hạn hầu hết đều cho
thấy mối quan hệ cùng chiều giữa nợ và tăng trưởng.
Elmendorf & Mankiw (1999), Frimpong et al (2006) cho rằng, trong ngắn

Chính phủ. Chính phủ có ít động lực để tiến hành những chính sách thúc đẩy sự
hình thành nguồn vốn trong nước hoặc làm giảm tiêu dùng hiện tại để nền kinh tế
tăng trưởng cao trong tương lai và có thể trả nợ cao hơn.
2.1.3 Nợ nước ngoài vừa thúc đẩy vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế:
Các nhà kinh tế học vẫn còn tranh luận về tác động thuận chiều hoặc nghịch
chiều của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Mặc dù, có thể thấy đa số đều kết
luận rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng, tuy nhiên


7

ở một mức độ nào đó, rõ ràng không thể phủ nhận vai trò của nợ trong việc bổ sung
nguồn vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế cũng như bù đắp thiếu hụt trong chi
tiêu Chính phủ, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nghĩa là nợ nước ngoài
góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Vậy phải chăng giữa nợ nước ngoài đã không
chỉ dừng lại ở mối quan hệ tuyến tính. với lập luận này, nhiều nhà nghiên cứu cũng
đã tìm kiếm và phát hiện ra bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa nợ nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Các lý thuyết kinh tế cho rằng mức vay nợ hợp lý ở các nước đang phát triển
sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia ở giai đoạn phát triển đầu với dung
lượng vốn nhỏ hơn sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với
các nền kinh tế phát triển, mức nợ tích lũy cao quá mức hợp lý có thể dẫn tới tăng
trưởng kinh tế thấp hơn.
Một số nghiên cứu khác đã xem xét tác động của nợ nước ngoài đến tăng
trưởng kinh tế tại các nước phát triển. Hầu hết các nghiên cứu này đã được thúc đẩy
bởi giả thuyết "nợ dư thừa" - một tình huống mà khi gánh nặng nợ quốc gia trở nên
quá lớn, sẽ có một phần lớn sản lượng chỉ để dành chi trả cho các chủ nợ nước
ngoài và do đó tạo ra tác động không khuyến khích đầu tư. Pattillo và cộng sự
(2002) đã nghiên cứu trên một bộ dữ liệu của 93 nước đang phát triển trong giai
đoạn 1969 - 1998 và nhận thấy rằng ảnh hưởng của nợ nước ngoài lên tăng trưởng



9

lực trả nợ nước ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan
ngại lớn ở các nước có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để
duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nợ nước ngoài sẽ tác động cùng chiều
đến tăng trưởng cho đến một ngưỡng nợ nhất định, gọi là “threshold level”. Tuy
nhiên, khi vượt qua ngưỡng này, nợ bắt đầu tác động ngược chiều đến tăng trưởng.
Theo Cohen (1993), mối quan hệ giữa giá trị của nợ và đầu tư có thể được mô tả
tương tự với đường cong Laffer: Khi tổng nợ tăng cao hơn mức “threshold level”,
các khoản chi trả thực tế cho nợ nước ngoài sẽ giảm. Điều này hàm ý rằng sự tăng
lên trong giá trị của nợ sẽ làm cho số tiền chi trả cho nợ tăng lên đến mức
“threshold level”, tức là ở phía bên trái đường cong Laffer. Ngược lại, giá trị nợ
tăng lên thì số tiền thực dùng cho việc trả nợ của quốc gia đó giảm đi tương đối.
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra đó chính là mối liên hệ “threshold level” giữa
mức nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, nợ nước ngoài có mối liên hệ
hình chữ U ngược với tăng trưởng kinh tế (hình 1.2). Khi các nước bắt đầu vay nợ,
các khoản nợ này có xu hướng thúc đẩy tăng trưởng (chuyển từ mức nợ 0 đến điểm
A trong hình 1.2). Khi tỷ lệ nợ tăng lên quá điểm A, việc vay nợ gia tăng sẽ cản trở
tăng trưởng mặc dù nợ đóng góp dương trong tăng trưởng. Do đó, điểm A được coi
là điểm biểu diễn "mức nợ tối đa hóa tăng trưởng". Khi nợ tiến đến điểm B, nợ bắt
đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng, tình hình của nền kinh tế lúc này sẽ tồi
tệ hơn trước khi nước đó vay nợ.


10

Đóng góp của nợ vào tăng trưởng

Trong cơ cấu nợ nước ngoài của Kenya, những năm 1970, chủ yếu là nợ
song phương. Từ đầu năm 1980 trở đi, chủ yếu là nợ dài hạn khu vực công, nợ
đa phương chính thức. Kể từ đầu những năm 1990, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GNP
rất cao 39% (1970-1980), 67% (1981-1990) và 89% (1991-1999). Tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế bình quân 5,1% (1970-1980), 4.2% (1981-1990) và 2.3% (1991-1999). Tỷ lệ
nợ nước ngoài trên xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ bình quân 121% (1970-1980),
260% (1981-1990) và 268% (1991-1999).
Để đo lường các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, tác giả đã sử
dụng phương pháp Dickey-Fuller (DF) và Augmented Dickey-Fuller (ADF) để
kiểm định tính dừng và không dừng (unit roots or non- stationary tests) của các
chuỗi thời gian sử dụng trong mô hình, và tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích
đồng tích hợp (Cointegration) của Engle - Granger (1987) để đo lường các mối
quan hệ trong dài hạn giữa các biến (quan hệ đồng liên kết). Cuối cùng, tác giả sử
dụng mô hình điều chỉnh sai số ECM (Error Correction Model) để thực hiện khảo
sát mối quan hệ trong ngắn hạn giữa các biến vĩ mô. Từ đó, rút ra kết luận, nhận xét
và đề xuất.
Mô hình nghiên cứu:
. GRATE = a0 + a1DEDGDP + a2DDSR +

a3FFDC + a4PINV +

a5DTOT + a6SER + a7INFL + a8GPUIV + a9DRER + u1t
. PINV = b0 + b1DEDGDP + b2DDSR + b3FFDC + b 4DTOT + b5DINT +
b 6SER + b7DRER + b8INFL + b9GRATE + b10GPUIV + u2t
Trong đó :
+ GRATE là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực
+ Biến INT là tỷ lệ lãi suất
+ Biến EDGDP là tỷ lệ của nợ nước ngoài trên GDP
+ Biến DSR nợ phải trả trên giá trị xuất khẩu
+ Biến FFDC là tài trợ nước ngoài ròng bù đắp thâm hụt

nghiên cứu hỗ trợ cho lập luận nợ nước ngoài vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế thậm chí nếu đầu tư không bị những tác động bất lợi.
Những nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài đã không có kết
quả. Kenya đã không thể đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa


14

vào năm 2020 mà không có sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài. Kết quả này là sự hỗ
trợ cần thiết cho Kenya để được xem xét các biện pháp giảm nợ toàn diện. Việc đạt
được đồng thời nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế bền vững thật sự khó đạt được
nếu các biện pháp khả thi không được thực hiện. Chính phủ có thể đóng vai trò
quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế nếu các nguồn lực thu được từ các
khoản giảm nợ được chú trọng vào đầu tư công một cách hiệu quả thông qua việc
Chính phủ mở rộng khu vực sản xuất tư nhân không những không gây ra sự chèn
lấn cho đầu tư tư nhân mà còn có tác dụng kích thích hiệu ứng đầu tư cùng chiều.
2.2.2 Nghiên cứu của Frimpong, J.M.and Oteng-Abayi,E.F. (2006), “Tác
động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Ghana. Một nghiên cứu
thực nghiệm”
Trọng tâm của nghiên cứu này là đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến
tăng trưởng kinh tế của Ghana. Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu thời gian từ năm
1970-1999, để tiến hành các bước thực nghiệm.
Những năm của thập niên 80, Ghana phải đối mặt với một vấn đề nợ rất
nghiêm trọng, các khoản thanh toán nợ nước ngoài là 577.000.000 USD (114%
GDP) vào cuối năm 1982. Cuộc khủng hoảng nợ này là do sự tăng vọt giá dầu trên
thị trường quốc tế, và việc tăng lãi suất cho vay ở các nước phương Tây, trong bối
cảnh các chính sách kinh tế và quản lý kinh tế trong nước yếu kém. Vào cuối năm
2000, nợ của Chính phủ Ghana và nợ bảo lãnh đã lên đến 6 tỷ USD, chiếm khoảng
571% của doanh thu tài chính, 157% xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ và 78% của
GDP.

sự gia tăng nợ phải thanh toán làm giảm tăng trưởng kinh tế và có bằng chứng cho
thấy có sự tồn tại của “hiệu ứng lấn át” ở Ghana. Bên cạnh đó, vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) tác động cùng chiều và có ý nghĩa đối với tăng trưởng GDP.
Trong khi đó, đầu tư trong nước ở mức thấp không thể thúc đẩy được tăng trưởng
kinh tế. Kết quả thực nghiệm của mô hình VECM cũng cho thấy, trong ngắn hạn
vẫn tồn tại vấn đề “nợ dư thừa” ở Ghana thông qua biến đầu tư trong nước cho thấy
nó có ý nghĩa thống kê và ngược chiều với tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng GDP
giảm khi nợ phải trả tăng.


16

2.2.3 Nghiên cứu của Shahnawaz Malik, Muhammad Khizar Hayat và
Muhammad Umer Hayat (2010) “Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu thực nghiệm từ Pakistan”
Trọng tâm của nghiên cứu này là khám phá mối quan hệ giữa nợ nước ngoài
và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan cho giai đoạn năm 1972 đến năm 2005, từ đó
đưa ra những nhận xét và khuyến nghị về nợ nước ngoài của Pakistan.
Mặc dù, tình hình chính trị thường xuyên bất ổn nhưng Pakistan có tốc độ
tăng trưởng kinh tế rất cao. Tuy nhiên, Pakistan lại thường xuyên phải đối mặt với
vấn đề nghiêm trọng trong cán cân thanh toán do thâm hụt ngân sách. Để giải
quyết thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia họ đã dựa vào nợ nước ngoài. Do quá
phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài và không kiểm soát được nguồn vốn vay,
Ngân hàng Thế giới đã phân loại Pakistan là quốc gia mắc nợ nghiêm trọng của
Nam Á vào năm 2001. Nợ nước ngoài của Pakistan bình quân trên 50% GDP.
Pakistan đã được sắp xếp lại nợ nước ngoài hai lần giữa năm 1998 và 2001 bởi vì
nước này không thể trả nợ nước ngoài. Trong đó nợ nước ngoài năm 1972-1973 là
4.385 triệu USD đã tăng lên 29.630 triệu USD (năm 2005-2006) cho thấy một sự
gia tăng liên tục nợ nước ngoài. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình như
sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status