Ứng dụng quyền chọn chứng khoán để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên cơ sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------

DƢƠNG VĂN NAM

ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN
CHỨNG KHOÁN ĐỂ KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA
RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------

DƢƠNG VĂN NAM

ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN
CHỨNG KHOÁN ĐỂ KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA
RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số :
60.31.12


TTCK

: Thị trƣờng chứng khoán

NĐT

: Nhà đầu tƣ

TTLKCK

: Trung tâm lƣu ký chứng khoán

SGDCK

: Sở giao dịch chứng khoán

HTTT

: Hệ thống thông tin

OTC

: Thị trƣờng phi tập trung (Over The Counter)

TPCP

: Trái phiếu Chính phủ

CBOE


AMEX

: Thị trƣờng chứng khoán Mỹ (American Stock Exchange)

VN INDEX

: Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam

NASDAQ

: Sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ (sàn OTC)

GDP

: Tổng sản phẩm quốc dân (Gross Domestic Product)

ITM

: Tình trạng quyền chọn có lời (In The Money)

ATM

: Tình trạng quyền chọn hòa vốn (At The Money)

OTM

: Tình trạng quyền chọn bị thua lỗ (Out of The Money)


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ

1.6.1 Điều kiện về luật pháp…………………………………………………………… 14
1.6.2 Điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật ……………………………………………... 14
1.6.3 Điều kiện đối với thị trƣờng chứng khoán ………………………………………. 15
1.7 Những mặt tích cực và tiêu cực khi ứng dụng quyền chọn……………………………. 15
1.7.1 Những mặt tích cực …………………………………………………………… 15
1.7.2 Những mặt tiêu cực …………………………………………………………… 15
1.8 Bài học kinh nghiệm ứng dụng quyền chọn trên Sở giao dịch CK TP.HCM………….. 16
1.8.1 Thị trƣờng phái sinh ở Thái Lan………………………………………………. 16
1.8.2 Thị trƣờng chứng khoán Trung Quốc…………………………………………. 16


CHƢƠNG 2 :V N DỤNG C C CHIẾN LƢỢC QUYỀN CHỌN ĐỂ KINH DOANH VÀ
PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG C C ĐIỀU KIỆN CỦA THỊ TRƢỜNG……………...19
2.1 Ứng dụng quyền chọn chứng khoán trong kinh doanh ………………………………... 19
2.1.1 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trƣờng hƣớng lên (Bull Market)....20
2.1.1.1 Mua quyền chọn mua………………………………………………… 20
2.1.1.2 Chiến lƣợc quyền chọn mua Bull Spread…………………………….. 20
2.1.1.3 Chiến lƣợc quyền chọn bán Bull Spread……………………………... 21
2.2.1.4 Chiến lƣợc quyền chọn Bull Spread tỷ lệ…………………………….. 21
2.1.2 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trƣờng
hƣớng xuống (Bear Market)……………………………………………………………….. 22
2.1.2.1 Mua quyền chọn bán…………………………………………………. 22
2.1.2.2 Chiến lƣợc quyền chọn bán Bear Spread……………………………. 23
2.1.2.3 Chiến lƣợc quyền chọn mua Bear Spread……………………………. 23
2.1.2.4 Chiến lƣợc quyền chọn Bear Spread tỷ lệ……………………………. 24
2.1.3 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trƣờng không có sự biến động
nhiều về giá (Neutral Market)………………………………………………………………25
2.1.3.1 Chiến lƣợc quyền chọn Straddle ngắn hạn……………………………25
2.1.3.2 Chiến lƣợc quyền chọn Strangle ngắn hạn……………………………26
2.1.4 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trƣờng có sự biến động mạnh

3.2.3.1 Đặt lệnh mở ..……………………………………………………….... 46
3.2.3.2 Vai trò của trung tâm thanh toán.…………………………………….. 47
3.2.4 Yết giá quyền chọn……………………………………………………………. 47
3.2.4.1 Điều kiện niêm yết…………….……………………………………... 47
3.2.4.2 Quy mô hợp đồng……..,…….…………….…………………………. 48
3.2.4.3 Giá thực hiện…..……………………………………………………... 48
3.2.4.4 Ngày đáo hạn…………………………………………………………. 48
3.2.5 Các tài liệu cung cấp cho nhà đầu tƣ trƣớc khi tham gia giao dịch…………… 50
3.3 Bài học kinh nghiệm triển khai quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM……. 51
3.3.1 Những quy định chi tiết đối với hợp đồng quyền chọn chứng khoán………… 51
3.3.2 Hệ thống niêm yết……………………………………………………………... 51
3.3.3 Hệ thống công bố thông tin…………………………………………………… 52
3.3.4 Hệ thống quản lý giám sát …………………………………………………….. 52
3.3.5 Xây dựng tài liệu về quyền chọn để cung cấp cho các nhà đầu tƣ….………… 52
3.4 Sự cần thiết ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM……………... 53


3.4.1 Giảm thiểu rủi ro về lợi nhuận của các nhà đầu tƣ……………………………. 53
3.4.2 Gia tăng lợi nhuận từ việc kinh doanh quyền chọn chứng khoán…………...... 53
3.4.3 Cải thiện tính thanh khoản của thị trƣờng chứng khoán……………................ 54
3.4.4 Tạo ra mục tiêu để các công ty niêm yết phấn đấu……………………………. 54
CHƢƠNG 4 : C C GIẢI PH P ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHO N ĐỂ
KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHO N
TP.HCM................................................................................................................................. 55
4.1 Định hƣớng phát triển Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM…………………………... 55
4.1.1 Các mục tiêu phát triển SGDCK TP.HCM…………………………………… 55
4.1.2 Các giải pháp phát triển Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM………………... 56
4.2 Các giải pháp ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM…………… 58
4.2.1 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn chứng khoán…………...... 58
4.2.1.1 Đối với các nhà môi giới……………………………………………... 58

chọn cũng có rủi ro) – đây chính là hai chức năng kinh tế quan trọng của công cụ quyền
chọn, kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ tháng 7 năm 2000 đến nay, nó đã
trải qua rất nhiều những biến động về giá chứng khoán, gây ra nhiều mất mát cho nhà đầu
tư, vì vậy để phòng ngừa rủi ro và tạo thêm sản phẩm cho thị trường chứng khoán thì công
cụ quyền chọn đóng một vai trò rất quan trọng và hết sức có ý nghĩa trong việc tạo ra sự đa
dạng về sản phẩm, hàng hóa mới cho thị trường và tăng thêm tính hấp dẫn cho các nhà đầu
tư, nhằm giảm thiểu rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư từ việc kinh doanh quyền
chọn trên thị trường chứng khoán. Đây chính là lý do khiến tác giả chọn đề tài “Ứng dụng
quyền chọn chứng khoán để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên Sở giao dịch chứng
khoán TP.HCM”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của quyền chọn chứng khoán.
- Nghiên cứu các chiến lược quyền chọn chứng khoán trong kinh doanh và phòng
ngừa rủi ro và sự hình thành và phát triển công cụ quyền chọn ở thị trường quyền chọn
chứng khoán Chicago – Mỹ để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai quyền
chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM.

1


- Phân tích thực trạng SGDCK TP.HCM, nhận diện các loại rủi ro trên thị trường và
từ đó đề xuất các giải pháp triển khai công cụ quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.
HCM.
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quyền chọn chứng khoán
- Kinh nghiệm triển khai và ứng dụng quyền chọn chứng khoán của thị trường quyền chọn
Chicago – Mỹ đề xuất các giải pháp trong việc ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên
SGDCK TP.HCM.
- Đề tài không đi sâu vào việc định giá quyền chọn.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu

ông đã cho phép ông tiên đoán được vụ thu hoạch Olive lớn trong năm tới. Tuy nhiên,
Thales không đủ tiền để mua máy ép dầu Olive nên ông đã sử dụng số tiền ít ỏi của mình để
mua quyền sử dụng các máy ép trong mùa thu hoạch chứ không mua các máy ép đó. Sở hữu
cái quyền này đã cho Thales quyền sử dụng các máy ép trong mùa thu hoạch (hoặc ông có
thể bán quyền sử dụng các máy ép dầu Olive của mình cho người khác mà nó cho ông lợi
ích lớn hơn). Thales đã sáng tạo ra một hợp đồng quyền chọn đầu tiên. Người bán quyền
cũng rất hạnh phúc vì ông ta có được thu nhập mà không cần quan tâm xem vụ mùa có
thành công hay không. Thales đã chứng minh cho mọi người thấy rằng kiến thức triết học,
thiên văn học và toán học của ông là rất có giá trị và đem lại những giá trị rất lớn cho bản
thân và xã hội.
Và quyền chọn tiếp tục phát triển trong các hợp đồng hoa tulip năm 1636 và hoa
Tulip đầu tiên được nhập vào Châu Âu từ Thổ Nhĩ Kỳ vào những năm của thập niên 1500s.
Và đầu thế kỷ 17, hoa Tulip được xem là biểu tượng của sự phồn thịnh vì vậy mà cầu bắt
đầu vượt cung (Hà Lan được xem là nơi sản xuất hoa Tulip lớn nhất) người Hà Lan bắt đầu
kinh doanh các quyền chọn hoa Tulip với số lượng lớn. Việc sử dụng quyền chọn thì không
đắt đỏ như mua trực tiếp với số lượng lớn. Chiến lược quyền chọn này tỏ ra rất có lời và giá
cả không leo thang nữa.

3


Vào năm 1872, một nhà tài chính người Mỹ tên Rusell Sage đã phát minh ra các
quyền chọn mua, quyền chọn bán cổ phiếu đầu tiên. Giống như các quyền chọn ngày nay,
quyền chọn của Sage cho người mua quyền chọn quyền được mua hoặc bán một khối lượng
cổ phiếu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định.
Và theo dòng thời gian thì vào những năm đầu của thập niên 1900, một nhóm các
công ty gọi là Hiệp hội các Nhà môi giới và Kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn
bán đã thành lập thị trường các quyền chọn. Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn,
một thành viên của hiệp hội này sẽ tìm một người bán sẵn sang muốn ký hợp đồng bán
quyền chọn. Nếu công ty thành viên không thể tìm được người bán, tự công ty sẽ bán quyền

phí quyền chọn. Thực chất của việc kinh doanh quyền chọn là đánh cược trên sự biến động
giá cả của chứng khoán, nếu sự dự đoán của nhà đầu tư là chính xác thì NĐT có lời và
ngược lại sẽ bị thua lỗ.
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền
chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hóa cơ sở với
một mức giá xác định (hay còn được gọi là giá thực hiện - Strike price) và trong một thời
hạn nhất định.
Các hàng hóa cơ sở (Underlying assets) : Có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.
1.2.2 Đặc điểm quyền chọn (Characteristics of options)
- Vị thế mua là người mua quyền chọn có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền, còn
vị thế bán là người phải thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền.
- Ngày thực hiện quyền là do người mua quyền quyết định trong thời hạn của hợp đồng
quyền chọn, nếu quá thời hạn thì quyền chọn mất hiệu lực, đối với quyền chọn kiểu Mỹ thì
người mua quyền có thể thực hiện vào bất cứ ngày nào trong thời hạn của quyền chọn. Đối
với quyền chọn kiểu Châu Âu thì ngày thực hiện quyền là ngày cuối cùng của quyền chọn
(tức là vào ngày đáo hạn của quyền chọn).
- Gía thực hiện – Strike price là giá đã được thỏa thuận đối với mỗi cổ phần theo đó thì
chứng khoán cơ sở có thể được mua hoặc bán bởi người nắm giữ quyền chọn khi họ thực
hiện hợp đồng quyền chọn.
- Người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí – gọi là phí quyền chọn
(option premium).
5


- Phí quyền chọn có hai yếu tố chính là : Gía trị nội tại (Intrinsic value) và giá trị thời
gian (Time value).
+ Gía trị nội tại của quyền chọn mua – Intrinsic Value (Call options) khi thị giá của
cổ phiếu cở sở cao hơn giá thực hiện thì quyền chọn mua có lời – và số chênh lệch giữa thị
giá và giá thực hiện chính là giá trị nội tại của quyền chọn mua.

- Quyền chọn mua (Call Option)
7


Quyền chọn mua cho người mua quyền được mua một số lượng cổ phiếu nhất định
(thường một hợp đồng quyền chọn mua có số lượng là 100 cổ phiếu) trong một thời gian
xác định – thời gian này có thể là 3,6, 9 tháng. Người mua quyền chọn trả cho người bán
quyền chọn một khoản phí, và được gọi là phí quyền chọn. Người mua quyền có thể thực
hiện quyền vào bất kỳ ngày nào trong thời hạn của quyền chọn (nếu là quyền chọn kiểu Mỹ)
nếu quá thời hạn của quyền chọn mà người mua không thực hiện quyền thì quyền chọn trở
lên vô hiệu.
Minh họa : (Trong các trường hợp sau đây thì phải giả định là không có thuế, phí và chi phí
giao dịch).
Khi một nhà đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu XYZ (lúc này nhà
đầu tư đang kỳ vọng về sự tăng giá của cổ phiếu XYZ trong tương lai) với số lượng là 100
cổ phiếu, giá thực hiện là 100USD/cổ phiếu trong vòng 3 tháng tới, vậy nhà đầu tư có thể
bán 100 cổ phiếu này vào ngày bất kỳ trong vòng 3 tháng tới, giả sử người mua phải trả cho
người bán quyền một khoản phí là 2USD/cổ phiếu hay 200USD/hợp đồng. Gỉa sử trong thời
gian tới giá cổ phiếu XYZ tăng lên 120 USD/cổ phiếu thì khi đó nhà đầu tư sẽ thực hiện
quyền chọn là mua 100 cổ phiếu XYZ với giá là 100USD/cổ phiếu rồi sau đó đem bán
ngoài thị trường với giá là 120USD/cổ phiếu. Như vậy lúc này nhà đầu tư đã lời 20USD/cổ
phiếu và được tính như sau :
(120USD x 100) - (100USD x 100) = 2000USD
Trừ đi phí quyền chọn mua là : 2USD x 100 = 200USD
Vậy số tiền lời thực của nhà đầu tư : 1800USD = 2000USD - 200USD
- Quyền chọn bán (Put Option)
Quyền chọn bán cho người mua quyền được bán một số lượng cổ phiếu (thường là
100 cổ phiếu/hợp đồng quyền chọn bán) nhất định trong một thời gian nhất định và người
mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí. Quyền chọn bán ngược lại với
quyền chọn mua (nếu quyền chọn mua áp dụng cho nhà đầu tư kỳ vọng vào sự tăng giá cổ

mới có lời, còn nếu biên độ dao động hẹp hoặc không có sự biến động giá thì số tiền kiếm
được sẽ không đủ bù đắp chi phí và sẽ bị thua lỗ.
1.3 Chức năng kinh tế của quyền chọn
1.3.1 Ứng dụng quyền chọn trong kinh doanh
Cổ phiếu của công ty Z hiện đang giao dịch trên thị trường với mức giá 20.000đ/cổ
phần. Nhà đầu tư dự đoán mức giá này sẽ tăng lên trong vòng 1 tháng tới. Gỉa sử quyền lựa
chọn được niêm yết để giao dịch đối với cổ phiếu Z, nhà đầu tư có thể mua một quyền chọn
mua cổ phiếu Z ở mức giá 20.000đ, với số lượng 100.000 cổ phiếu. Gỉa sử phí của quyền
chọn là 2% giá trị hợp đồng tương đương với :
20.000đ x 100.000CP x 2% = 40.000.000đ

9


Nhà đầu tư bỏ ra 40 triệu đồng để mua quyền chọn mua này. Sau một tháng cổ phiếu Z tăng
lên 21.000đ/cổ phiếu vậy phần chênh lệch giá NĐT được hưởng là 100.000.000đ, trừ phí
40.000.000đ còn lại lãi ròng là 60.000.000đ. Như vậy trong vòng 1 tháng nhà đầu tư đã thu
được khoản lợi nhuận là 60.000.000đ trên khoản đầu tư là 40.000.000đ, tương đương với lãi
suất 150%.
Nếu thay vì sử dụng quyền chọn, nhà đầu tư phải bỏ ra 2 tỷ đồng để mua 100.000 cổ phiếu
Z sau 1 tháng giá tăng lên 21.000đ, nhà đầu tư bán cổ phiếu và thu được tiền lời là
100.000.000đ trên vốn đầu tư là 2 tỷ đồng tương đương mức lợi tức là 5%.
1.3.2 Ứng dụng quyền chọn phòng ngừa rủi ro
Chức năng kinh tế quan trọng nhất của quyền chọn là nhằm cung cấp công cụ giảm
thiểu rủi ro. Một người đang phải chịu rủi ro từ một sự thay đổi giá bất lợi có thể sự dụng
các quyền chọn để loại trừ rủi ro đó. Một quyền chọn mua có thể được xem như là một công
cụ đảm bảo một mức giá mua tốt (nếu giá thị trường của chứng khoán cao hơn mức giá thực
hiện, quyền chọn sẽ giúp nhà đầu tư mua được chứng khoán tại mức giá thực hiện). Một
quyền chọn bán sẽ đảm bảo một mức giá bán tốt (việc thực hiện quyền sẽ giúp cho nhà đầu
tư bán chứng khoán ở mức giá thực hiện trong trường hợp giá thị trường của chứng khoán

gia vào bất cứ trường hợp biến chuyển giá chứng khoán mà không phải mua chính chứng
khoán đó, nên không phải bỏ một số tiền lớn để đầu tư. Ngoài ra, người mua quyền chọn
biết rằng sự thua lỗ tối đa chỉ bằng tổng số phí mua quyền chọn.
Đối với hầu hết các nhà đầu tư, quyền chọn là các công cụ quản lý rủi ro rất hữu ích,
quyền chọn đóng vai trò như là các chính sách bảo hiểm chống lại sự sụt giá của cổ phiếu
trên thị trường. Nếu một nhà đầu tư đang lo lắng về sự sụt giá cổ phiếu của công ty A chẳng
hạn, NĐT có thể mua quyền chọn bán và quyền chọn bán này cho người mua quyền bán cổ
phiếu ở mức giá thực hiện mà không cần quan tâm đến sự sụt giá của cổ phiếu công ty A
trên thị trường. Việc thực hiện quyền chọn này được xem như là một sự bảo hộ. Sự bảo hộ
của quyền chọn giúp quản lý rủi ro, các nhà đầu tư cần nhớ rằng tất cả các khoản đầu tư đều
ẩn chứa rủi ro và lợi luận thì không bao giờ được đảm bảo chắc chắn. Các nhà đầu tư sử
dụng quyền chọn để quản lý rủi ro và cũng là để giảm thiểu các khoản lỗ tiềm năng. Họ có
thể lựa chọn mua các loại quyền chọn, vì sự thua lỗ được giới hạn trong khoản phí quyền
chọn. Đổi lại, họ có được quyền để mua hoặc bán cổ phiếu ở một mức giá có thể chấp nhận
được đối với họ. Họ cũng có thể nhận được lợi nhuận từ sự gia tăng trong giá trị của phí
11


quyền chọn, nếu họ chọn cách bán lại quyền chọn cho thị trường hơn là thực hiện quyền đó.
Vì người viết quyền chọn (người bán quyền chọn) thường buộc phải bán hoặc phải mua cổ
phiếu ở mức giá không thuận lợi lắm, loại rủi ro thường gắn với các vị thế bán nhiều hơn.
Hầu hết các chiến lược quyền chọn được thiết kế để giảm thiểu rủi ro bằng cách bảo vệ cho
các danh mục đầu tư. Trong khi các quyền chọn đóng vai trò như là các mạng lưới an toàn
thì bản thân chúng cũng không phải là không có rủi ro. Vì thông thường các giao dịch mở
và đóng trong khoảng thời gian rất ngắn, lợi nhuận được thực hiện cũng rất nhanh chóng.
Điều này có nghĩa là những khoản thua lỗ cũng có thể gia tăng rất nhanh chóng. Điều quan
trọng là phải hiểu được tất cả các loại rủi ro liên quan đến việc nắm giữ, bán hay kinh doanh
quyền chọn trước khi NĐT gộp chúng vào trong danh mục đầu tư của NĐT.
- Đối với vị thế bán :
Người bán hợp đồng quyền chọn được gọi là người viết hợp đồng. Mục tiêu cơ bản

Giá trị của quyền chọn phụ thuộc rất lớn vào giá của chứng khoán cơ sở. Như đã
được giải thích ở phần trên, nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá thực hiện của cổ
phiếu (đối với quyền chọn mua) thì quyền chọn có lời – In the money. Ngược lại, nếu giá
thị trường của cổ phiếu nhỏ hơn giá thực hiện của cổ phiếu (đối với người mua quyền chọn
bán) thì quyền chọn bán có lời – In the money. Sự chênh lệch giữa giá thực hiện và giá thị
trường của cổ phiếu cơ sở được biết đến như là giá trị nội tại của quyền chọn. Chỉ các quyền
chọn có lời mới có giá trị nội tại.
1.5.2 Thời gian cho đến khi đáo hạn (Time remaining until expiration)
Đối với các quyền chọn kiểu Mỹ (kể cả quyền chọn mua và quyền chọn bán) tất cả
các yếu tố khác giữ nguyên, thời gian cho đến khi hết hạn càng dài thì giá của quyền chọn
càng cao, vì giá của cổ phiếu cơ sở càng có khả năng biến động để cho quyền chọn trở
thành có lãi và đem lại lợi nhuận. Đối với quyền chọn kiểu Châu Âu, ảnh hưởng của thời
gian cho đến khi hết hạn phụ thuộc vào việc quyền chọn là quyền chọn mua hay bán). Gía
trị thời gian sẽ giảm xuống nhanh chóng trong một vài tuần cuối cùng trong vòng đời của
quyền chọn.
1.5.3 Độ bất ổn trong giá của cổ phiếu cơ sở (Volatility)
Độ bất ổn của giá cổ phiếu cơ sở càng cao thì phí quyền chọn càng cao bởi sự biến
động giá của cổ phiếu rất có thể làm chọn quyền chọn trở lên có lời hơn. Độ bất ổn giá cổ
phiếu chính là điều kiện tốt để triển khai công cụ quyền chọn.
13


1.5.4 Cổ tức (Dividend)
Cổ tức tiền mặt được trả cho các cổ đông. Do vậy, cổ tức tiền mặt ảnh hưởng đến phí
quyền chọn thông qua sự ảnh hưởng của giá cổ phiếu cơ sở. Bởi vì giá của cổ phiếu cơ sở sẽ
giảm xuống đúng bằng số tiền mặt cổ tức được chi trả, việc chi trả cổ tức tiền mặt càng cao
thì phí quyền chọn mua giảm và phí quyền chọn bán càng tăng.
1.5.5 Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro (Free short term interest rate)
Trong suốt thời hạn của quyền chọn, khi các yếu tố khác không thay đổi, giá của một
quyền chọn mua của một trái phiếu sẽ tăng khi lãi suất ngắn hạn phi rủi ro tăng. Đối với một

chứng khoán, do vậy thị trường chứng khoán phải luôn đảm bảo được tính thanh khoản cao,
nếu thiếu tính thanh khoản của thị trường chứng khoán thì không thể triển khai ứng dụng
quyền chọn. Hạn chế tối đa các hình thức gian lận trên thị trường chứng khoán, tránh tình
trạng làm mất niềm tin của NĐT đối với thị trường và gây tác động xấu đến tính thanh
khoản của thị trường. Thu hút các NĐT nước ngoài tham gia giao dịch trên thị trường bằng
việc mở thêm room cho họ và nâng cao chất lượng của các công ty niêm yết.
Thứ hai, bảo vệ tính trong sáng và minh bạch của thị trường bằng cách tăng cường
công tác quản lý, giám sát của UBCKNN nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý thật nghiêm
minh các trường hợp gian lận gây tác động xấu cho thị trường, làm mất niềm tin của NĐT
đối với thị trường. Thị trường chứng khoán hoạt động tốt là điều kiện tiên quyết để triển
khai thành công thị trường quyền chọn chứng khoán.
1.7 Những mặt tích cực và tiêu cực khi ứng dụng quyền chọn
1.7.1 Những mặt tích cực
- Giúp các NĐT có thêm sản phẩm mới giao dịch trên thị trường, NĐT có thể kinh
doanh quyền chọn chứng khoán để kiếm lời với chi phí bỏ ra ít mà tỷ suất sinh lợi lại cao
(đòn bẩy), tỷ suất sinh lợi cao hơn so với việc kinh doanh chứng khoán và việc kinh doanh
quyền chọn của NĐT còn làm gia tăng tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán.
- Hạn chế tối đa những rủi ro khi có sự biến động bất lợi về giá cả của chứng khoán
mà NĐT đang nắm giữ và giới hạn rủi ro trong phí quyền chọn. Đây là chức năng quan
trọng nhất của quyền chọn.
1.7.2 Những mặt tiêu cực
- Việc kinh doanh quyền chọn đòi hỏi NĐT phải thật sự am hiểu về lợi ích cũng như
rủi ro của các chiến lược quyền chọn vì việc kinh doanh quyền chọn có thể làm cho NĐT
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status