BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------
DƯƠNG VĂN NAM
ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN
CHỨNG KHOÁN ĐỂ KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA
RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------
DƯƠNG VĂN NAM
ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN
CHỨNG KHOÁN ĐỂ KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA
RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số :
60.31.12
: Thị trường chứng khoán
NĐT
: Nhà đầu tư
TTLKCK
: Trung tâm lưu ký chứng khoán
SGDCK
: Sở giao dịch chứng khoán
HTTT
: Hệ thống thông tin
OTC
: Thị trường phi tập trung (Over The Counter)
TPCP
: Trái phiếu Chính phủ
CBOE
: Thị trường quyền chọn Chicago (Chicago Board Options Exchange)
: Thị trường chứng khoán Mỹ (American Stock Exchange)
VN INDEX
: Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam
NASDAQ
: Sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ (sàn OTC)
GDP
: Tổng sản phẩm quốc dân (Gross Domestic Product)
ITM
: Tình trạng quyền chọn có lời (In The Money)
ATM
: Tình trạng quyền chọn hòa vốn (At The Money)
OTM
: Tình trạng quyền chọn bị thua lỗ (Out of The Money)
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1 : Lãi (lỗ) chiến lược quyền chọn Bull Spread tỷ lệ…………………………... 22
1.6.2 Điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật……………………………………………... 14
1.6.3 Điều kiện đối với thị trường chứng khoán ………………………………………. 15
1.7 Những mặt tích cực và tiêu cực khi ứng dụng quyền chọn……………………………. 15
1.7.1 Những mặt tích cực…………………………………………………………… 15
1.7.2 Những mặt tiêu cực…………………………………………………………… 15
1.8 Bài học kinh nghiệm ứng dụng quyền chọn trên Sở giao dịch CK TP.HCM…………..16
1.8.1 Thị trường phái sinh ở Thái Lan……………………………………………….16
1.8.2 Thị trường chứng khoán Trung Quốc………………………………………….16
CHƯƠNG 2 :VẬN DỤNG CÁC CHIẾN LƯỢC QUYỀN CHỌN ĐỂ KINH DOANH VÀ
PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA THỊ TRƯỜNG……………...19
2.1 Ứng dụng quyền chọn chứng khoán trong kinh doanh ………………………………...19
2.1.1 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trường hướng lên (Bull Market)....20
2.1.1.1 Mua quyền chọn mua………………………………………………… 20
2.1.1.2 Chiến lược quyền chọn mua Bull Spread……………………………..20
2.1.1.3 Chiến lược quyền chọn bán Bull Spread……………………………... 21
2.2.1.4 Chiến lược quyền chọn Bull Spread tỷ lệ……………………………..21
2.1.2 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trường
hướng xuống (Bear Market)……………………………………………………………….. 22
2.1.2.1 Mua quyền chọn bán…………………………………………………. 22
2.1.2.2 Chiến lược quyền chọn bán Bear Spread……………………………. 23
2.1.2.3 Chiến lược quyền chọn mua Bear Spread……………………………. 23
2.1.2.4 Chiến lược quyền chọn Bear Spread tỷ lệ……………………………. 24
2.1.3 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trường không có sự biến động
nhiều về giá (Neutral Market)………………………………………………………………25
2.1.3.1 Chiến lược quyền chọn Straddle ngắn hạn……………………………25
2.1.3.2 Chiến lược quyền chọn Strangle ngắn hạn……………………………26
2.1.4 Kinh doanh quyền chọn trong điều kiện thị trường có sự biến động mạnh
về giá (Volatile Market)……………………………………………………………………27
3.2.3.2 Vai trò của trung tâm thanh toán.…………………………………….. 47
3.2.4 Yết giá quyền chọn……………………………………………………………. 47
3.2.4.1 Điều kiện niêm yết…………….……………………………………... 47
3.2.4.2 Quy mô hợp đồng……..,…….…………….………………………….48
3.2.4.3 Giá thực hiện…..……………………………………………………... 48
3.2.4.4 Ngày đáo hạn………………………………………………………….48
3.2.5 Các tài liệu cung cấp cho nhà đầu tư trước khi tham gia giao dịch……………50
3.3 Bài học kinh nghiệm triển khai quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM……. 51
3.3.1 Những quy định chi tiết đối với hợp đồng quyền chọn chứng khoán………… 51
3.3.2 Hệ thống niêm yết……………………………………………………………...51
3.3.3 Hệ thống công bố thông tin…………………………………………………… 52
3.3.4 Hệ thống quản lý giám sát……………………………………………………..52
3.3.5 Xây dựng tài liệu về quyền chọn để cung cấp cho các nhà đầu tư….………… 52
3.4 Sự cần thiết ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM……………... 53
3.4.1 Giảm thiểu rủi ro về lợi nhuận của các nhà đầu tư……………………………. 53
3.4.2 Gia tăng lợi nhuận từ việc kinh doanh quyền chọn chứng khoán…………...... 53
3.4.3 Cải thiện tính thanh khoản của thị trường chứng khoán……………................ 54
3.4.4 Tạo ra mục tiêu để các công ty niêm yết phấn đấu…………………………….54
CHƯƠNG 4 : CÁC GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN ĐỂ
KINH DOANH VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
TP.HCM.................................................................................................................................55
4.1 Định hướng phát triển Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM…………………………... 55
4.1.1 Các mục tiêu phát triển SGDCK TP.HCM…………………………………… 55
4.1.2 Các giải pháp phát triển Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM………………... 56
4.2 Các giải pháp ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM…………… 58
4.2.1 Các giải pháp phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn chứng khoán…………...... 58
4.2.1.1 Đối với các nhà môi giới……………………………………………... 58
4.2.1.2 Đối với nhà đầu tư…………………………………………………….58
chọn cũng có rủi ro) – đây chính là hai chức năng kinh tế quan trọng của công cụ quyền
chọn, kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ tháng 7 năm 2000 đến nay, nó đã
trải qua rất nhiều những biến động về giá chứng khoán, gây ra nhiều mất mát cho nhà đầu
tư, vì vậy để phòng ngừa rủi ro và tạo thêm sản phẩm cho thị trường chứng khoán thì công
cụ quyền chọn đóng một vai trò rất quan trọng và hết sức có ý nghĩa trong việc tạo ra sự đa
dạng về sản phẩm, hàng hóa mới cho thị trường và tăng thêm tính hấp dẫn cho các nhà đầu
tư, nhằm giảm thiểu rủi ro và gia tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư từ việc kinh doanh quyền
chọn trên thị trường chứng khoán. Đây chính là lý do khiến tác giả chọn đề tài “Ứng dụng
quyền chọn chứng khoán để kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trên Sở giao dịch chứng
khoán TP.HCM”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của quyền chọn chứng khoán.
- Nghiên cứu các chiến lược quyền chọn chứng khoán trong kinh doanh và phòng
ngừa rủi ro và sự hình thành và phát triển công cụ quyền chọn ở thị trường quyền chọn
chứng khoán Chicago – Mỹ để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai quyền
chọn chứng khoán trên SGDCK TP.HCM.
- Phân tích thực trạng SGDCK TP.HCM, nhận diện các loại rủi ro trên thị trường và
từ đó đề xuất các giải pháp triển khai công cụ quyền chọn chứng khoán trên SGDCK TP.
HCM.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quyền chọn chứng khoán
- Kinh nghiệm triển khai và ứng dụng quyền chọn chứng khoán của thị trường quyền chọn
Chicago – Mỹ đề xuất các giải pháp trong việc ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên
SGDCK TP.HCM.
- Đề tài không đi sâu vào việc định giá quyền chọn.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và kết hợp các phương
pháp so sánh, đối chiếu, liên hệ, tổng hợp để khái quát bản chất của vấn đề nghiên cứu.
thể bán quyền sử dụng các máy ép dầu Olive của mình cho người khác mà nó cho ông lợi
ích lớn hơn). Thales đã sáng tạo ra một hợp đồng quyền chọn đầu tiên. Người bán quyền
cũng rất hạnh phúc vì ông ta có được thu nhập mà không cần quan tâm xem vụ mùa có
thành công hay không. Thales đã chứng minh cho mọi người thấy rằng kiến thức triết học,
thiên văn học và toán học của ông là rất có giá trị và đem lại những giá trị rất lớn cho bản
thân và xã hội.
Và quyền chọn tiếp tục phát triển trong các hợp đồng hoa tulip năm 1636 và hoa
Tulip đầu tiên được nhập vào Châu Âu từ Thổ Nhĩ Kỳ vào những năm của thập niên 1500s.
Và đầu thế kỷ 17, hoa Tulip được xem là biểu tượng của sự phồn thịnh vì vậy mà cầu bắt
đầu vượt cung (Hà Lan được xem là nơi sản xuất hoa Tulip lớn nhất) người Hà Lan bắt đầu
kinh doanh các quyền chọn hoa Tulip với số lượng lớn. Việc sử dụng quyền chọn thì không
đắt đỏ như mua trực tiếp với số lượng lớn. Chiến lược quyền chọn này tỏ ra rất có lời và giá
cả không leo thang nữa.
Vào năm 1872, một nhà tài chính người Mỹ tên Rusell Sage đã phát minh ra các
quyền chọn mua, quyền chọn bán cổ phiếu đầu tiên. Giống như các quyền chọn ngày nay,
quyền chọn của Sage cho người mua quyền chọn quyền được mua hoặc bán một khối lượng
cổ phiếu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định.
Và theo dòng thời gian thì vào những năm đầu của thập niên 1900, một nhóm các
công ty gọi là Hiệp hội các Nhà môi giới và Kinh doanh quyền chọn mua và quyền chọn
bán đã thành lập thị trường các quyền chọn. Nếu một người nào đó muốn mua quyền chọn,
một thành viên của hiệp hội này sẽ tìm một người bán sẵn sang muốn ký hợp đồng bán
quyền chọn. Nếu công ty thành viên không thể tìm được người bán, tự công ty sẽ bán quyền
chọn. Vì vậy, một công ty thành viên có thể vừa là nhà môi giới – người mang người mua
và người bán đến với nhau – hoặc nhà kinh doanh – người thật sự thực hiện vị thế giao dịch.
Mặc dù thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) này có thể tồn tại, nhưng nó cũng có rất
nhiều khiếm khuyết. Thứ nhất, thị trường này không cung cấp cho người nắm giữ quyền
chọn cơ hội bán quyền chọn cho một người khác trước khi quyền chọn đáo hạn. Các quyền
chọn được thiết kế để được nắm giữ cho đến khi đáo hạn, và rồi thì chúng sẽ được thực hiện
Các hàng hóa cơ sở (Underlying assets) : Có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái
phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.
1.2.2 Đặc điểm quyền chọn (Characteristics of options)
- Vị thế mua là người mua quyền chọn có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền, còn
vị thế bán là người phải thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền.
- Ngày thực hiện quyền là do người mua quyền quyết định trong thời hạn của hợp đồng
quyền chọn, nếu quá thời hạn thì quyền chọn mất hiệu lực, đối với quyền chọn kiểu Mỹ thì
người mua quyền có thể thực hiện vào bất cứ ngày nào trong thời hạn của quyền chọn. Đối
với quyền chọn kiểu Châu Âu thì ngày thực hiện quyền là ngày cuối cùng của quyền chọn
(tức là vào ngày đáo hạn của quyền chọn).
- Gía thực hiện – Strike price là giá đã được thỏa thuận đối với mỗi cổ phần theo đó thì
chứng khoán cơ sở có thể được mua hoặc bán bởi người nắm giữ quyền chọn khi họ thực
hiện hợp đồng quyền chọn.
- Người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí – gọi là phí quyền chọn
(option premium).
- Phí quyền chọn có hai yếu tố chính là : Gía trị nội tại (Intrinsic value) và giá trị thời
gian (Time value).
+ Gía trị nội tại của quyền chọn mua – Intrinsic Value (Call options) khi thị giá của
cổ phiếu cở sở cao hơn giá thực hiện thì quyền chọn mua có lời – và số chênh lệch giữa thị
giá và giá thực hiện chính là giá trị nội tại của quyền chọn mua.
+ Gía trị nội tại của quyền chọn bán – Intrinsic Value (Put options) nếu giá thị
trường của chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện thì quyền chọn bán có lời – và số
chênh lệch giữa thị giá và giá thực hiện chính là giá trị nội tại của quyền chọn bán.
+ Gía trị thời gian của quyền chọn – Time Value - trước khi đáo hạn, trong phí quyền
chọn gồm hai phần, phần phí dôi dư ngoài giá trị nội tại của quyền chọn chính là giá trị thời
gian của quyền chọn. Gía trị thời gian của quyền chọn được biết đến như là một lượng giá
trị mà một nhà đầu tư sẵn lòng trả cho một quyền chọn lớn hơn phần giá trị nội tại với hy
vọng rằng vào một lúc nào đó trước khi hết hạn thì giá trị của quyền chọn sẽ tăng lên vì sự
Minh họa : (Trong các trường hợp sau đây thì phải giả định là không có thuế, phí và chi phí
giao dịch).
Khi một nhà đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu XYZ (lúc này nhà
đầu tư đang kỳ vọng về sự tăng giá của cổ phiếu XYZ trong tương lai) với số lượng là 100
cổ phiếu, giá thực hiện là 100USD/cổ phiếu trong vòng 3 tháng tới, vậy nhà đầu tư có thể
bán 100 cổ phiếu này vào ngày bất kỳ trong vòng 3 tháng tới, giả sử người mua phải trả cho
người bán quyền một khoản phí là 2USD/cổ phiếu hay 200USD/hợp đồng. Gỉa sử trong thời
gian tới giá cổ phiếu XYZ tăng lên 120 USD/cổ phiếu thì khi đó nhà đầu tư sẽ thực hiện
quyền chọn là mua 100 cổ phiếu XYZ với giá là 100USD/cổ phiếu rồi sau đó đem bán
ngoài thị trường với giá là 120USD/cổ phiếu. Như vậy lúc này nhà đầu tư đã lời 20USD/cổ
phiếu và được tính như sau :
(120USD x 100) - (100USD x 100) = 2000USD
Trừ đi phí quyền chọn mua là : 2USD x 100 = 200USD
Vậy số tiền lời thực của nhà đầu tư : 1800USD = 2000USD - 200USD
- Quyền chọn bán (Put Option)
Quyền chọn bán cho người mua quyền được bán một số lượng cổ phiếu (thường là
100 cổ phiếu/hợp đồng quyền chọn bán) nhất định trong một thời gian nhất định và người
mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí. Quyền chọn bán ngược lại với
quyền chọn mua (nếu quyền chọn mua áp dụng cho nhà đầu tư kỳ vọng vào sự tăng giá cổ
phiếu trong tương lai thì quyền chọn bán lại được các nhà đầu tư kỳ vọng vào sự sụt giảm
giá trong tương lai của cổ phiếu).
Khi nhà đầu tư mua một hợp đồng quyền chọn bán cổ phiếu XYZ nào đó (có nghĩa là
nhà đầu tư đang kỳ vọng vào sự sụt giá của cổ phiếu XYZ trong tương lai) với số lượng là
100 cổ phiếu với giá là 100USD/cổ phiếu, thời gian là 3 tháng, người mua quyền chọn bán
phải trả một khoản phí là 2USD/cổ phiếu hay 200USD/hợp đồng. Gỉa sử một tháng sau giá
cổ phiếu XYZ trên thị trường giảm xuống còn 80USD/cổ phiếu vậy lúc này nhà đầu tư sẽ
mua 100 cổ phiếu XYZ trên thị trường với giá là 80USD/cổ phiếu và sau đó bán lại theo
hợp đồng quyền chọn bán cũng 100 cổ phiếu XYZ này nhưng với giá là 100USD/cổ phiếu,
lên 21.000đ/cổ phiếu vậy phần chênh lệch giá NĐT được hưởng là 100.000.000đ, trừ phí
40.000.000đ còn lại lãi ròng là 60.000.000đ. Như vậy trong vòng 1 tháng nhà đầu tư đã thu
được khoản lợi nhuận là 60.000.000đ trên khoản đầu tư là 40.000.000đ, tương đương với lãi
suất 150%.
Nếu thay vì sử dụng quyền chọn, nhà đầu tư phải bỏ ra 2 tỷ đồng để mua 100.000 cổ phiếu
Z sau 1 tháng giá tăng lên 21.000đ, nhà đầu tư bán cổ phiếu và thu được tiền lời là
100.000.000đ trên vốn đầu tư là 2 tỷ đồng tương đương mức lợi tức là 5%.
1.3.2 Ứng dụng quyền chọn phòng ngừa rủi ro
Chức năng kinh tế quan trọng nhất của quyền chọn là nhằm cung cấp công cụ giảm
thiểu rủi ro. Một người đang phải chịu rủi ro từ một sự thay đổi giá bất lợi có thể sự dụng
các quyền chọn để loại trừ rủi ro đó. Một quyền chọn mua có thể được xem như là một công
cụ đảm bảo một mức giá mua tốt (nếu giá thị trường của chứng khoán cao hơn mức giá thực
hiện, quyền chọn sẽ giúp nhà đầu tư mua được chứng khoán tại mức giá thực hiện). Một
quyền chọn bán sẽ đảm bảo một mức giá bán tốt (việc thực hiện quyền sẽ giúp cho nhà đầu
tư bán chứng khoán ở mức giá thực hiện trong trường hợp giá thị trường của chứng khoán
thấp hơn giá thực hiện). Như vậy, các quyền chọn có thể được xem như một công cụ phòng
ngừa những sự thay đổi giá bất lợi.
1.4 Lợi nhuận và rủi ro trong hợp đồng quyền chọn
Hầu hết trong các chiến lược mà các nhà đầu tư quyền chọn sử dụng để giới hạn rủi
ro, nhưng đồng thời thì lợi nhuần tiềm năng cũng có giới hạn. Vì lý do này, các chiến lược
quyền chọn không phải là những kế hoạch làm giàu nhanh chóng. Các giao dịch quyền chọn
thường cần vốn ít hơn so với các giao dịch kinh doanh cổ phiếu nhưng lại đem lại tỷ suất
sinh lợi cao hơn so với việc kinh doanh cổ phiếu.
Thậm chí đối với các nhà đầu tư mà sử dụng quyền chọn trong các chiến lược đầu cơ,
như là viết quyền chọn mua (bán quyền chọn mua) thường cũng không nhận được lợi nhuận
cao. Lợi nhuận tiềm năng thì giới hạn trong phí quyền chọn mà họ nhận được từ mỗi hợp
đồng, và lỗ tiềm năng là không giới hạn. Mặc dù vậy thì quyền chọn không phải dành cho
mọi người và chúng là những sự lựa chọn linh hoạt nhất trong các lựa chọn đầu tư. Tùy
quyền chọn, nếu họ chọn cách bán lại quyền chọn cho thị trường hơn là thực hiện quyền đó.
Vì người viết quyền chọn (người bán quyền chọn) thường buộc phải bán hoặc phải mua cổ
phiếu ở mức giá không thuận lợi lắm, loại rủi ro thường gắn với các vị thế bán nhiều hơn.
Hầu hết các chiến lược quyền chọn được thiết kế để giảm thiểu rủi ro bằng cách bảo vệ cho
các danh mục đầu tư. Trong khi các quyền chọn đóng vai trò như là các mạng lưới an toàn
thì bản thân chúng cũng không phải là không có rủi ro. Vì thông thường các giao dịch mở
và đóng trong khoảng thời gian rất ngắn, lợi nhuận được thực hiện cũng rất nhanh chóng.
Điều này có nghĩa là những khoản thua lỗ cũng có thể gia tăng rất nhanh chóng. Điều quan
trọng là phải hiểu được tất cả các loại rủi ro liên quan đến việc nắm giữ, bán hay kinh doanh
quyền chọn trước khi NĐT gộp chúng vào trong danh mục đầu tư của NĐT.
- Đối với vị thế bán :
Người bán hợp đồng quyền chọn được gọi là người viết hợp đồng. Mục tiêu cơ bản
của người bán hợp đồng là kiếm thêm tiền bằng phí quyền chọn do người mua trả. Số lợi
tức này đôi khi có thể được công thêm vào tổng số lợi nhuận trong danh mục đầu tư. Tất cả
người bán hợp đồng quyền chọn có thể mua ngăn chặn (Buy in) hay mua chấm dứt (Closing
purchase), đây là phương thức nhằm chấm dứt trách nhiệm giao hay nhận chứng khoán,
nghĩa là người bán hợp đồng sẽ mua một hợp đồng quyền chọn tương tự như hợp đồng
quyền chọn đã bán (nhưng chỉ có phí quyền chọn và giá điểm là khác nhau). Hợp đồng
quyền chọn thứ hai sẽ bù đắp cho hợp đồng quyền chọn thứ nhất. Người bán sẽ lời hay lỗ
tùy thuộc vào chênh lệch giữa hai phí quyền chọn.
Nói chung, các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai và quyền chọn là các công
cụ bảo hiểm giá chứng khoán rất hữu hiệu.
Tuy nhiên thì nó cũng hàm chứa rủi ro như là khoản phí quyền chọn mà nhà đầu tư
phải bỏ ra để có được quyền, giống như các loại chứng khoán khác – cổ phiếu, trái phiếu và
các chứng chỉ quỹ - thì các quyền chọn cũng không có sự đảm bảo chắc chắn nào, và NĐT
phải nên nhớ rằng họ có thể mất tất cả vốn khi đầu tư vào quyền chọn và thậm chí đôi khi
NĐT còn mất nhiều hơn thế. Đối với người nắm giữ quyền chọn, NĐT có rủi ro đối với
toàn bộ phí quyền chọn mà NĐT đã trả. Nhưng đối với người viết quyền chọn, họ nhận
nhiều rủi ro hơn. Chẳng hạn, nếu NĐT viết (bán) quyền chọn mua không phòng ngừa, NĐT
phiếu chính là điều kiện tốt để triển khai công cụ quyền chọn.
1.5.4 Cổ tức (Dividend)
Cổ tức tiền mặt được trả cho các cổ đông. Do vậy, cổ tức tiền mặt ảnh hưởng đến phí
quyền chọn thông qua sự ảnh hưởng của giá cổ phiếu cơ sở. Bởi vì giá của cổ phiếu cơ sở sẽ
giảm xuống đúng bằng số tiền mặt cổ tức được chi trả, việc chi trả cổ tức tiền mặt càng cao
thì phí quyền chọn mua giảm và phí quyền chọn bán càng tăng.
1.5.5 Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro (Free short term interest rate)
Trong suốt thời hạn của quyền chọn, khi các yếu tố khác không thay đổi, giá của một
quyền chọn mua của một trái phiếu sẽ tăng khi lãi suất ngắn hạn phi rủi ro tăng. Đối với một
quyền chọn bán của trái phiếu thì ngược lại : một sự gia tăng mức lãi suất ngắn hạn phi rủi
ro sẽ làm giảm giá của một quyền chọn bán.
1.5.6 Lãi suất danh nghĩa (Coupon interest rate)
Đối với các quyền chọn của các trái phiếu, lãi suất danh nghĩa sẽ có xu hướng làm
giảm giá của quyền chọn mua bởi vì lãi suất danh nghĩa sẽ làm cho việc nắm giữ trái phiếu
trở nên hấp dẫn hơn so với nắm giữ quyền. Vì vậy các quyền chọn mua của các trái phiếu
sẽ bị định giá thấp hơn so với các quyền chọn mua của các trái phiếu không có lãi suất danh
nghĩa. Ngược lại, lãi suất danh nghĩa có xu hướng làm tăng giá của các quyền chọn bán.
1.6 Những điều kiện cần thiết để ứng dụng quyền chọn
1.6.1 Điều kiện về luật pháp
Để thị trường quyền chọn có thể hoạt động công bằng và hiệu quả thì luật pháp là
không thể thiếu, cần phải xây dựng luật pháp đủ mạnh và có hiệu lực để quản lý, giám sát
và xử phạt đối với các hành vi gian lận thị trường. Mọi hoạt động của các chủ thể tham gia
trên thị trường đều phải tuân theo những qui định của UBCKNN về công bố thông tin và
các hoạt động giao dịch của thị trường. Và cần phải có Đạo luật tư vấn đầu tư và thành lập
công ty bảo vệ nhà đầu tư nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NĐT khi tham gia giao
dịch trên thị trường quyền chọn.
1.6.2 Điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Xây dựng một hệ thống công nghệ thông tin thật sự hiện đại nhằm cung cấp các
1.7.2 Những mặt tiêu cực
- Việc kinh doanh quyền chọn đòi hỏi NĐT phải thật sự am hiểu về lợi ích cũng như
rủi ro của các chiến lược quyền chọn vì việc kinh doanh quyền chọn có thể làm cho NĐT
(người bán quyền chọn) rơi vào rủi ro không giới hạn do sự thay đổi bất lợi của giá cả
chứng khoán buộc họ phải thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền chọn.
- Người viết quyền chọn phải đặt cọc theo yêu cầu của nhà môi giới để hạn chế rủi ro
khi người mua quyền thực hiện quyền chọn và nếu thị trường hoạt động bất lợi cho người
bán quyền thì họ phải đặt cọc bổ sung nếu không nhà môi giới sẽ khóa tài khoản giao dịch
của người viết quyền và người viết quyền phải chịu toàn bộ rủi ro.
- Những điều kiện của thị trường như tính thanh khoản thấp, lỗi do công nghệ giao
dịch… làm tăng rủi ro cho nhà đầu tư khi họ muốn thoát vị thế, hay không thể giao dịch.
1.8 Bài học kinh nghiệm ứng dụng quyền chọn trên Sở giao dịch CKTP.HCM
1.8.1 Thị trường phái sinh ở Thái Lan
Sở giao dịch sản phẩm phái sinh Thái Lan là thị trường giao dịch các sản phẩm phái
sinh nhằm cung cấp thêm các sản phẩm cho thị trường chứng khoán và giúp phòng ngừa rủi
ro cho các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán phái sinh của
Thái Lan được thành lập vào năm 2004 và hoạt động theo luật công cụ phái sinh năm
(2003), cho phép sở giao dịch được phép giao dịch các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn với các loại tài sản cơ sở là chứng khoán, chỉ số chứng khoán, và các loại khoáng sản.
Sở giao dịch sản phẩm phái sinh của Thái Lan được trang bị công nghệ giao dịch tự động,
có trung tâm thanh toán bù trừ (Clearing Center) là công ty trách nhiệm hữu hạn thanh toán
bù trừ – thực hiện thanh toán bù trừ cho tất cả các giao dịch của sở. Công ty này cung cấp
các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh hợp đồng và xử lý các loại rủi ro cho các thành viên. Khối
lượng giao dịch bình quân trên ngày tại sở giao dịch này tăng liên tục từ 3.000 hợp đồng
giao dịch quý I/2007 đến quý IV/2007 đạt bình quân 6.000 hợp đồng/ ngày, tương ứng với
khối lượng giao dịch khoảng 150 triệu USD/ngày. Kết quả này phản ánh xu thế phát triển
tất yếu của thị trường phái sinh ở các nước đang phát triển.
1.8.2 Thị trường chứng khoán Trung Quốc