ĐỘNG LỰ C 3.0
− 4 −
ĐÂU LÀ ĐỘNG LỰC
VÀ NHU CẦU CỦA CON
NGƯỜI?
rong quản trị học hiện đại, việc xác định được động cơ,
động lực của con người trong công việc giữ vai trò quan
trọng và là bài toán then chốt của quản trị nhân sự.
Hơn một
thế kỷ qua, các nhà khoa học đã rất nỗ lực đưa ra nhiều lý
thuyết, giải thích về động lực của con người.
Trước tiên có thể kể đến Sigmund Freud − người tìm ra
nhu cầu, động lực và phân tích hành vi của con người với
lý thuyết “X”. Ông cho rằng bản chất con người là lười
biếng. Con người ghét lao động và bởi vậy luôn tìm
cách
trốn tránh làm việc. Con người không có tham vọng, không
đưa ra bất kỳ sáng kiến nào và tìm cách né tránh mọi trách
nhiệm. Tất cả những gì con người muốn là sự an toàn
cho
bản thân và không phải làm bất cứ điều gì. Do vậy, con
người cần được thưởng, cần bị ép buộc, cần bị cảnh cáo và
bị phạt. Đây chính là triết lý “cây gậy
và củ cà rốt” trong
quản lý. Nếu lý thuyết này có giá trị thì nhà quản lý sẽ phải
liên tục quản thúc chặt chẽ nhân viên của mình − những
người mà họ không thể tin tưở
ng và cộng tác. Trong bầu
T
tài ba của nhóm có thể “biến mất” trong các cuộc họp của
nhóm và những thành viên còn lại có thể thảo luận thoải
mái về các vấn đề, qua đó, giúp họ chọn lọc
và “chuẩn bị”
cho sự xuất hiện một lãnh đạo mới. Người lãnh đạo không
còn thèm muốn quyền lực nữa. Từng thành viên được tự
do phát triển, và thậm chí thích thú quan sát quá
trình phát
ĐỘNG LỰ C 3.0
− 6 −
triển và hiện thực hoá các ý tưởng cá nhân khác trong
nhóm như thể của chính họ. Kết quả là tất cả mọi người, và
tất cả các tổ chức, đều được hưởng lợi.
Tuy nhiên,
ngày nay, lý thuyết đang chiếm ưu thế trong
quản trị học là Lý thuyết “Z” của Abraham Maslow (1908‐
1970) − được thế giới biết đến qua mô hình nổi tiếng Tháp
nhu cầu và được coi là cha đẻ
của tâm lý học nhân văn. Tháp
nhu cầu của Maslow được đưa ra vào năm 1943 trong bài
viết
A Theory of Human Motivation
và là một trong những lý
thuyết quan trọng nhất của quản trị kinh doanh; đặc biệt là
các ứng dụng cụ thể trong quản trị nhân sự và quản trị
marketing.
Đây là một thay đổi hoàn
toàn mới kể từ lý thuyết “X”
của Freud. Maslow bác bỏ hoàn toàn các cơ sở tăm tối và
xám xịt của Freud. Ông mang đến một không khí trong
đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Những nhu cầu
cơ bản này đều không th
ể thiếu vì nếu con người không
được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại
được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc
sống hàng ngày. Các nhu cầu
cơ bản của con người xếp
theo trật tự từ thấp đến cao, theo Maslow gồm: nhu cầu
vật lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được yêu thương, nhu
cầu được kính trọng, nhu cầu
tự hoàn thiện.
Hành vi của con người chịu sự chi phối của các nhu
cầu chưa được thoả mãn và con người luôn đòi hỏi nhiều
hơn. Khi một nhu cầu được thoả mãn, con
người lại khát
khao nhu cầu cao hơn. Do đó, đây là một chuỗi các hoạt
động liên tục trong đó, con người miệt mài hoàn thiện qua
quá trình tự phát triển.
Giai đoạn cao nhấ
t của quá trình tự hoàn thiện được
đặc trưng bởi tính chính trực, tinh thần trách nhiệm, tính
khoan dung, tính giản dị và tự nhiên. Các cá nhân trong
quá trình tự hoàn thiện tập trung vào các
vấn đề ngoại lai
với chính bản thân họ. Sứ mệnh của anh ta để bảo vệ nhân
loại rất đơn giản nhưng không dễ thực hiện: “Lao động
ĐỘNG LỰ C 3.0
− 8 −
chăm chỉ và cam kết thực hiện tốt nhất công việc mà số
phận kêu gọi bạn thực hiện, hoặc bất kỳ nhiệm vụ quan
bên ngoài, vốn là “miếng mồi” nhử hoạt động. Trong khi
đó, Động lực 3.0 – tức sự cách tân cần thiết giúp bôi trơn
hoạt động kinh doanh trong thế kỷ
XXI – lại phụ thuộc vào
và nuôi dưỡng hành vi Loại I. Hành vi Loại I ít chú trọng
tới các phần thưởng bên ngoài mà một hoạt động mang lại,