ĐỀ TÀI:
1. Anh/chị hãy nêu hướng vận dụng tri thức về nhu cầu của con người
vào công tác quản lý.
2. Hãy mô tả một trường hợp xung đột trong đơn vị của anh/chị và nêu
cách giải quyết trường hợp xung đột đó.
Phần I: Hướng vận dụng tri thức về nhu cầu của con người vào công tác
quản lý.
NỘI DUNG
1. Khái niệm nhu cầu:
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, hợp quy luật, đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng con người. Con người không thể tồn
tại mà thiếu nhu cầu, trước hết là những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn, mặc,
ở, sinh hoạt, học tập, làm việc , nhu cầu tinh thần như công việc làm đảm bảo,
được mọi người tôn trọng, đảm bảo an toàn cuộc sống, giao tiếp, hoạt động xã
hội Sự thỏa mãn nhu cầu là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân và
tập thể. Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn ý nghĩa, tình cảm và ý chí của con
người.
Theo A.G.Kôvaliôp: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các
nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát
triển”.
2. Vai trò và đặc điểm của nhu cầu:
2.1. Vai trò của nhu cầu: Nhu cầu là nguồn gốc, động lực thúc đẩy hoạt
động.
2.2. Đặc điểm của nhu cầu:
- Tính đối tượng: Được sản xuất ra trong hợp tác lao động.
- Bản chất xã hội: Phương thức thỏa mãn.
- Tính chu kỳ.
- Tập hợp thành xu hướng nhân cách: Tính thứ bậc
1
3. Học thuyết về thứ bậc nhu cầu của A. Maslow (1908 – 1966):
Học thuyết về thứ bậc của nhu cầu được A. Maslow đưa ra năm 1943
Với tư cách là nhà quản lý, chúng ta phải biết vận dụng tri thức về nhu
cầu của con người để tổ chức các hoạt động nhằm thõa mãn nhu cầu con người
trong tập thể như sau:
4.1. Phương diện nhu cầu:
Thực tiễn của hoạt động quản lý cho thấy, khi nhà quản lý nắm vững các
nội dung nhu cầu, độ rộng, cường độ, tính bền vững và tính hiện thực của nhu
cầu thì họ đã nắm được chìa khóa mở ra những tìm năng mới trong việc nâng
cao năng suất và chất lượng lao động. Khi nhà quản lý coi nhẹ những hiểu biết
đó sẽ dẫn đến chổ thiếu tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mọi người, việc tổ
chức triển khai công việc sinh động thay bằng những biện pháp mệnh lệnh hành
chính.
4.2. Các mức độ nhu cầu của con người:
Khi tìm hiểu nhu cầu của những người thực hiện công việc, nhà quản lý
cần phải biết được các mức độ của nhu cầu con người. Ở mỗi cá nhân, mỗi
nhóm có những mức độ nhu cầu khác nhau và trong những thời điểm cụ thể thì
nhà quản lý cần thỏa mãn những loại nhu cầu nhất định. Nhà quản lý chỉ thúc
đẩy được những người dưới quyền thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giao
khi nhà quản lý làm thỏa mãn được những nhu cầu mà người dưới quyền mong
muốn. Công việc sẽ không hiệu quả cao khi nhà quản lý không đáp ứng được
nhu cầu của người dưới quyền.
Nhu cầu được phân loại thành: Những nhu cầu ở mức độ thấp – Nhu cầu
vật chất và những nhu cầu ở mức độ cao – Nhu cầu tinh thần.
3
Các nhu cầu vật chất là những nhu cầu có trước và là nền tảng cho hoạt
động sống của con người. Các nhu cầu vật chất cơ bản nhất là ăn, mặc, ở
Các nhu cầu tinh thần cơ bản của con người bao gồm mong muốn có
được công việc làm đảm bảo, có được địa vị trong xã hội, được mọi người chú
ý, tôn trọng, được đảm bảo an ninh, an toàn, có cơ hội thăng tiến, nhu cầu nhận
thức, giao tiếp, hoạt động xã hội . v.v
Khi phân chia các thứ bậc của nhu cầu con người, A. Maslow đã xem xét
hơn.
4.4. Các quy luật cơ bản của nhu cầu:
Khi sự thõa mãn nhu cầu tồn tại được bão hòa, chúng sẽ bị hạ thấp tới
mức chỉ còn là những điều kiện sống và điều kiện sống càng quen thuộc thì con
người càng ít chú ý tới.
Khi tìm hiểu nhu cầu của người lao động, nhà quản lý cần nắm được quy
luật tác động của nó. Theo W.H. Newman, quy luật tác động của nhu cầu là:
a. Khi một nhu cầu nào đó được thỏa mãn thì nó không còn là động lực
thúc đẩy hoạt động của con người nữa.
b. Ở hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu. Khi nhu cầu này
được thỏa mãn thì nhu cầu khác trở nên bức thiết hơn. Con người không bao
giờ thỏa mãn đầy đủ cả. Sự mong muốn của con người là vô tận.
Nhà quản lý cần hiểu và nắm được quy luật vận động của nhu cầu để sử
dụng chúng phục vụ cho hoạt động quản lý tổ chức của mình. Điều này thể hiện
ở hai phạm vi:
- Ở phạm vi tổ chức do mình quản lý, nhà quản lý cần biết được ở mỗi cá
nhân và mỗi nhóm trong tổ chức, ở mỗi thời điểm có thể có nhiều nhu cầu cần
được thỏa mãn. Nhưng trong số các nhu cầu đó có một nhu cầu trở nên bức
thiết hơn mà chúng ta gọi là nhu cầu nỗi trội, việc thõa mãn nhu cầu này sẽ tạo
ra sự phấn khởi, an tâm và hứng thú trong hoạt động của những người dưới
quyền. Hiệu quả, chất lượng công việc của họ sẽ được nâng cao.
Để hiểu được các nhu cầu của những người dưới quyền, đặc biệt là nhu
cầu nỗi trội của họ thì nhà quản lý cần phải sâu sát, lắng nghe ý kiến, tâm tư
nguyện vọng của các thành viên trong tổ chức.
5
- Ở phạm vi xã hội, nhà quản lý nghiên cứu và nắm được nhu cầu của
người tiêu dùng sẽ biết được trong thời điểm hiện tại và trong thời gian đến cần
kinh doanh mặt hàng gì thì có thể tiêu thụ nhanh và có lãi trên thị trường tức là
biết được những nhu cầu nào đã và sắp bão hòa, nhu cầu nào mới xuất hiện và
chúng cần được thõa mãn.
ông là cha của cô gái đã bị sinh viên nhà trường dụ dỗ như lời người đàn ông
yêu cầu giải quyết.
Lãnh đạo nhà trường, giáo viên, cán bộ công chức trong trường lo lắng,
xôn xao.
c. Phân tích về xung đột: Đây là loại xung đột có thể là thực, có hành vi
phi đạo đức, vi phạm pháp luật của sinh viên nếu sự thực đúng như yêu cầu của
người đàn ông nọ.
3. Cách giải quyết trường hợp xung đột:
3.1. Nguyên tắc giải quyết:
Công tác giáo dục và quản lý học sinh sinh viên (HSSV) trong trường là
chức năng, nhiệm vụ của Phòng Công tác HSSV. Được thông báo của Ban
giám hiệu, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV đến Phòng Đào tạo mời người đàn
ông đó về Phòng Công tác HSSV để giải quyết.
3.2. Hướng giải quyết:
a. Tìm hiểu nguyên nhân:
Để tìm hiểu nguyên nhân, trước hết lãnh đạo Phòng Công tác HSSV mời
người đàn ông đó về Phòng Công tác HSSV, tìm hiểu ông ta tên gì, ở đâu, con
gái ông ta tên gì, chưa đến tuổi vị thành niên nhưng còn đi học phổ thông hay
làm gì, nếu còn học, học lớp mấy, trường nào, quen với thanh niên dẫn đi làm
sao biết thanh niên đó là sinh viên nhà trường, nếu là sinh viên nhà trường thì
tên gì, học lớp nào và đề nghị ông ta bình tĩnh trình bày cụ thể vấn đề, sự việc
diễn ra như thế nào, cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của lãnh đạo Phòng
Công tác HSSV (lãnh đạo Phòng Công tác HSSV ghi chép từng chi tiết của vấn
đề cụ thể).
7
Người đàn ông đó trình bày với lãnh đạo Phòng Công tác HSSV như sau:
“Ông ta tên là Kiều Văn A, hiện ở tại số nhà 113 đường Cửa Đại, Phường Cẩm
Châu, Thành phố Hội An, con gái tên là Kiều Thị B, hiện đang theo học lớp
11/3 Trường Trung học Phổ thông Bán công Nguyễn Trãi, Thành Phố Hội An.
Con gái ông ta có quen với một sinh viên của trường tên là Nguyễn Văn B, học
+ Sau khi Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV kiểm tra thông tin cá nhân
sinh viên Nguyễn Văn C đúng tên và lớp như người đàn ông cung cấp; Nguyễn
Văn C là sinh viên năm cuối có kết quả học tập: Trung bình khá; kết quả rèn
luyện: khá; không có nợ đơn vị học trình trong khóa học; hiện nay đang về nhà
để chuẩn bị tuần sau thực tập sản xuất tại Điện lực Tam kỳ, Tỉnh Quảng Nam
(khả năng về từ thứ bảy là đúng vì thi xong học kỳ là thứ năm); lãnh đạo Phòng
Công tác HSSV thông báo ngay cho ông ta biết về kết quả học tập, rèn luyện
của sinh viên Nguyễn Văn C như vậy và tạm đưa ra kết luận chủ quan theo
bệnh nghề nghiệp:
“Với kết quả học tập, rèn luyện của em sinh viên Nguyễn Văn C như vậy,
khả năng dụ dỗ của em sinh viên này với con gái bác là khó có thể xảy ra”;
đồng thời Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng nêu ngay câu hỏi đặt từng vấn
đề như đã nêu trên:
+ Câu hỏi của vấn đề 1:
“Tại sao bác biết là em sinh viên Nguyễn Văn C dụ dỗ dẫn con gái bác
đi?, liệu bác có biết dẫn đi đâu không ?”.
Người đàn ông đó trả lời ngay “Thầy không tin hả, không tin thì tôi điện
thoại hỏi con gái tôi là biết ngay”.
Nói xong, người đàn ông đó rút điện thoại di động ra bấm.
Lãnh đạo Phòng Công tác HSSV không nêu tiếp vấn đề 2, 3 nữa mà nhạy
bén chuyển sang yêu cầu khác theo tình huống thay đổi bất ngờ:
“Bác bảo con gái bác chuyển điện thoại cho em Nguyễn Văn C có thầy
giáo cần gặp gấp”.
Người đàn ông thực hiện theo yêu cầu và Lãnh đạo Phòng Công tác
HSSV giải quyết tình huống bằng biện pháp quyền lực hành chính của mình
9
ngay sau khi người đàn ông giao điện thoại qua và bật loa điện thoại di động lên
cho người cha cùng nghe:
“Thầy là đây, có phải Em là Nguyễn Văn C, sinh viên lớp K21Cn1
không?”
với trách nhiệm, nghĩa vụ của một người cha trong gia đình cần phải giáo dục
đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, ý thức cộng đồng cho con
cái trong nhà một cách mềm dẽo nhưng nghiêm khắc, không nuông chiều thái
quá, không dễ dãi buông lỏng bằng tình bạn, tình anh em kết nghĩa để rồi dẫn
đến hư hỏng, khổ cả đời con lẫn nỗi buồn không bao giờ vơi của người làm cha
mẹ khi con cái trót dại lầm lỡ; gia đình phải có trách nhiệm cùng với nhà trường
giáo dục con cái, có trách nhiệm và tạo điều kiện cho con cái thực hiện ước mơ
lành mạnh, ước mơ học tập đến nơi đến chốn để xây dựng tương lai thoát
nghèo, thoát khổ và có nhiều biện pháp ngăn ngừa những thói hư, tật xấu như
hành động của con ông ta xảy ra vừa rồi.
Thực hiện lời hứa với ông Kiều văn A, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV
đã liên lạc với phụ huynh của em C qua số điện nhà (Thông tin trong hồ sơ sinh
viên), trao đổi sự việc xảy ra cùng phụ huynh em C, yêu cầu phụ huynh em C
liên lạc với em C, B và bảo em C chở em B về gấp trong chiều hôm nay cũng
như em C phải có mặt tại Phòng Công tác HSSV để tường thuật, kiểm điểm sự
việc xảy ra đã ảnh hưởng đến uy tín nhà trường, nếu không thực hiện nghiêm
túc, nhà trường tạm đình chỉ thực tập để làm rõ.
Tiếp tục sau đó, lãnh đạo Phòng Công tác HSSV cũng kịp thời báo cáo
kết quả giải quyết sự việc với Ban giám hiệu và thông báo cho Phòng Đào tạo,
giáo viên, cán bộ công chức biết để tránh dư luận xôn xao, tam sao thất bản xảy
ra, ảnh hưởng chung môi trường sư phạm nhà trường.
Bằng các biện pháp giáo dục và bằng quyền lực hành chính, lãnh đạo
Phòng Công tác HSSV đã giải quyết thỏa mãn mâu thuẩn, không để xung đột
xảy ra.
(Ghi chú: Câu chuyện về trường hợp xung đột trên là có thực tế tại
trường, chỉ không ghi rõ họ tên thật của các đối tượng)
11
NỘI DUNG
1. Thân thế Lê Quý Đôn:
Lê Quý Đôn (1726 – 1781) Nhà văn hóa lớn Việt Nam dưới thời Hậu Lê.
năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ Đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được
đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong
tước Nghĩa Phái Hầu. Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.
3. Tác phẩm:
Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho
hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn,
chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn: “Làm thơ có 3 điểm chính: một là
tình, hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu ở trong lòng mà động
vào máy tình; thị giác tiếp xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng
kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần đại để không ngoài ba điểm
ấy”.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm
quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có
thể kể ra như sau: Lịch sử-địa lý: Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử
(gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng
loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao
quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu
mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội
Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763. Kiến văn tiểu lục (12
quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam
từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các
13
vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục
tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ
văn, sách vở Bách khoa thư: Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm
với điều kiện phải ứng khẩu một bài thơ tạ tội. Cậu xin quan Thượng ra đầu đề.
Quan Thượng nói: Phụ thân cậu đã bảo cậu "rắn đầu rắn cổ", cậu cứ lấy đó làm
đề bài. Cậu ngẫm nghĩ một chốc rồi đọc:
Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà!
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.
Từ nay Châu Lỗ xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!
Đề bài là do quan Thượng đặt ra, ý nói cậu bé cứng đầu, lười học. Vậy
mà Lê Quý Đôn đã tài tình sử dụng từ “rắn” để ghép vào trong nội dung các câu
thơ của mình: rắn liu điu, rắn đầu, rắn hổ lửa, rắn mai gầm, rắn ráo, rắn thằn
lằn, rắn hổ trâu, rắn hổ mang và ví mình như Khổng Tử - Mạnh Tử (từ nay Trâu
Lỗ xin siêng học). Quan Thượng hết sức thán phục.
Tam xuyên (三三) tứ mục (四目)
Nhà Lê Quý Đôn ở gần ngã ba sông Hồng và sông Trà Lý. Một hôm, một
vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ. Vị quan có nghe tiếng cậu bé
con quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài. Nể tình, ông Lê Trọng
Thứ cho gọi Lê Quý Đôn tới. Khoanh tay, kính cẩn chào khách xong, Lê Quý
Đôn đứng nép bên cha, chờ đợi. Ông khách nói:
Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ. Vây ta ra vế đối, cháu đối lại nhé!
Lê Quý Đôn lễ phép: Dạ, xin Bác ra đề ạ!. Nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra
vế đối là tam xuyên (大大)! - Ông khách nói. Vế đối giản dị mà hắc búa, chữ
tam (大) có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữ
15
xuyên (大). “Tam xuyên” (大大) có nghĩa “ba con sông”. Lê Quý Đôn chưa đáp
ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính. Ông khách rất vui vì
tìm được vế đối rất hiểm. Thần đồng ư? khó thế này sức mấy mà đối nổi! Sao,
Thánh Tôn – Thân nhân trung đã phát biểu cách ba thế kỷ trước đó:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
Nguyên khí mạnh thì thế nước cường
Nguyên khí suy thì thế nước tàn”
Lê Quý Đôn viết về ngũ qui như sau:
Qui nông tất ổn
Qui công tất phú
Qui thương tất hoạt
Qui trí tất hưng
Qui pháp tất bình
Dịch:
Lo lắng trù tính cho nông nghiệp thì mang lại sự ổn định;
Lo lắng trù tính cho công nghiệp thì mang lại sự giàu có;
Lo lắng trù tính cho thương nghiệp thì mang lại sự năng động của nền
kinh tế;
Lo lắng trù tính cho việc giáo dục, phải coi trọng trí thức, coi trọng việc
giáo dục thì đất nước mới phát triển, mới hưng thịnh ;
Lo lắng trù tính cho công tác pháp luật thì đất nước mới thanh bình.
Những mệnh đề mà Lê Quý Đôn nêu ra rất ngắn gọn mà sinh động.
Chúng chứng tỏ một tầm nhìn rộng, một sự suy nghĩ sâu về chiến lược phát
triển đất nước khi gắn bó cả năm nhiệm vụ lớn về phát triển nông nghiệp, công
nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, pháp luật. Giáo dục theo quan điểm của Lê
Quý Đôn sẽ tạo ra sự hưng thịnh cho đất nước.
Tứ tôn và ngũ qui kết hợp với nhau vẫn còn giữ nguyên giá trị thời sự
cho đất nước ta đang cần hoạch định một chính sách giáo dục hiện thực và khả
thi phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội nói chung.
Phân tích mệnh đề “Qui trí tất hưng”:
17
Đó là một nguyên lý đang mang tính hiện thực để định vị vai trò của
người trí thức trong sự phát triển của xã hội. Nó là đoạn kết trong một chuỗi
giờ theo tiêu chí bằng cấp. Dù nền giáo dục của đất nước còn nhiều bất cập
nhưng mỗi năm nó cũng tạo ra một lượng ngày càng lớn những con người được
định danh bởi những học hàm, học vị: cử nhân, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, phó
giáo sư, giáo sư hay những danh vị nghề nghiệp khác như bác sĩ, kỹ sư,
chuyên viên cộng thêm một số lượng không hạn chế những người hoạt động
trên các lĩnh Mọi người đang chờ đợi một sự định vị đối với trí thức trong thang
bậc giá trị của xã hội được thể hiện qua những chính sách đãi ngộ có thể định
lượng được như lương bổng, nhà cửa, định mức đầu tư cho các hoạt động của
trí thức (như kinh phí hay điều kiện tác nghiệp ). Đó là điều đã được thể hiện
trong nhiều chính sách, đặc biệt của các địa phương nhằm “đào tạo và thu hút
nhân tài”, nhưng phải thừa nhận rằng chưa mấy hiệu quả vực văn hoá, nghệ
thuật
Dường như định lượng luôn là tiêu chí dễ lựa chọn đối với người quản lý
hơn là sự định tính. Đây cũng là thời điểm diễn ra những diễn đàn trao đổi
quanh câu hỏi “trí thức là ai ?”, hay “thế nào là trí trức ?”. Đọc trên các phương
tiện truyền thông được biết đến nhiều tiêu chí khác nhau quy vào những phẩm
chất thật khó định lượng như “có học vấn cao và có ý thức trách nhiệm sâu sắc
đối với sự tiến bộ của xã hội mà mình đang sống” và ví trí thức như kẻ sĩ thời
xưa tựa như cụ Nguyễn Công Trứ vừa mang khí tiết “có thể chết chứ không
chịu nhục” (sĩ khả lục bất khả nhục) lại vừa “xem công việc của trời đất thiên
hạ như trách nhiệm của mình” (vũ trụ giai ngô phận sự) vì thế khó mà đào tạo
hay cấp bằng cho trí thức.
Lại có người cắt nghĩa sự giống và khác trong các khái niệm hay thuật
ngữ thường liên hệ với trí thức như “intelligentsia”, ”intellectuel” hay
“intelligent” của thiên hạ để vận vào những mẫu hình Việt Nam qua các thời,
từ xa xưa đến hiện đại, để nhấn mạnh rằng “trí thức là người có tri thức, biết
suy nghĩ khác biệt và độc lập” v.v
Nhưng dễ hiểu nhất vẫn là một cách viết giản dị của một vị giáo sư nhân
phân tích những mẫu hình người trí thức thời hiện đại tiêu biểu của thế giới
19
người”, giáo dục đạo đức giúp đào tạo ra thế hệ vừa “hồng” vừa “chuyên” nhằm
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xác định đạo đức là “gốc” của con người thì không chỉ là nền tảng nhân
cách trong sự thống nhất với tri thức mà còn là điều kiện tiên quyết để trau dồi tri
thức nói chung, nâng cao trình độ lý luận nói riêng. Có thể thấy, đạo đức trong
sáng của sinh viên là một trong những điều kiện, là tiền đề để trau dồi lý luận.
Không những thế, lý luận ở đây cũng không chỉ là tri thức, là học vấn nói chung
mà là lý luận cách mạng, đó là lý luận không chỉ giải thích thế giới mà cốt lõi là
để cải tạo thế giới. Vì vậy, nếu sinh viên học tập không nhằm mục đích thực tiễn,
phục vụ nhân dân thì không thể lĩnh hội được tinh thần thực chất của lý luận.
2. Vai trò, lý tưởng, nhiệm vụ của sinh viên:
Sinh viên có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước. Họ có
những phẩm chất quý báu như trẻ, khỏe, có học thức, ham học, năng động, dám
nghĩ và dám làm theo cái mới Họ thật sự là đại biểu cho sức sống của thanh
niên, sức mạnh của dân tộc. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, để những tiềm
năng đó trở thành hiện thực, trở thành động lực trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước, họ cần phải được định hướng một cách toàn diện, đặc biệt
là lý tưởng đạo đức trong sáng.
Lý tưởng là những khát khao, nguyện vọng, những tư tưởng về tương lai
tốt đẹp mà con người hằng mong ước vươn tới. Lý tưởng có vai trò to lớn đối
với hoạt động của con người. Người có lý tưởng cao đẹp, thì không những sẽ có
yêu cầu cao đối với chính bản thân mình mà còn thể hiện tinh thần trách nhiệm
đối với những công việc của người khác. Quá trình hiện thực hóa lý tưởng được
bắt đầu từ việc xác định, củng cố niềm tin, rồi sau đó niềm tin sẽ trở thành một
động lực quan trọng đối với hoạt động của con người.
21
Là một bộ phận của lý tưởng xã hội, lý tưởng đạo đức cũng mang những
nội dung, đặc điểm và ý nghĩa chung của lý tưởng xã hội. Tuy nhiên, lý tưởng
đạo đức cũng có đặc thù riêng do tính chất của các quan hệ đạo đức quy định.
Lý tưởng đạo đức phản ánh những hoài bão, những xu hướng, những nội dung
quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục nói chung, giáo dục lý luận nói
riêng. Việc coi trọng giáo dục đạo đức, xây dựng đạo đức trong giáo dục lý luận
cho sinh viên không chỉ là đòi hỏi cho nhiệm vụ xây dựng đất nước, mà còn là
đòi hỏi bức thiết của bản thân công tác giáo dục lý luận đạo đức.
Công tác giáo dục lý luận coi giáo dục đạo đức không những là tiền đề
của việc nâng cao trình độ lý luận, đồng thời là nhiệm vụ của mình. Lê-nin đòi
hỏi phải làm cho toàn bộ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thanh niên trở thành nhiệm
vụ giáo dục đạo đức, cộng sản. Nói về mục đích học tập lý luận của người cán
bộ, Bác Hồ đòi hỏi trước hết phải là “học để làm việc, làm người” rồi mới
“làm cán bộ”. Do đó, nếu có tình trạng suy thoái, xuống cấp về phẩm chất đạo
đức của sinh viên trong Trường Cao đẳng, Đại học có ảnh hưởng tiêu cực đến
giáo dục lý luận thì không phải là giáo dục lý luận vô can đến tình trạng đó.
Bên cạnh trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh cho sinh viên làm tiền đề cho việc giáo dục đạo đức, nhà trường còn
phải trang bị cho người học những hiểu biết về các giá trị như: Hiểu biết về
pháp luật thường thức; hiểu biết về tình hình chính trị thế giới, những tổ chức
quốc tế và các dân tộc khác; tri thức về vốn sống trong giao tiếp ứng xử, trong
học tập, lao động và các hoạt động xã hội là điều kiện để hoàn thiện nhân cách
nói chung, rèn luyện, trau dồi đạo đức nói riêng cho sinh viên.
Quá trình giáo dục lý tưởng, đạo đức cho sinh viên có vai trò to lớn đối
với sự hình thành nhân cách của họ. Nội dung lý tưởng đạo đức đặt ra những
đòi hỏi, những yêu cầu mà sinh viên phải phấn đấu rèn luyện trong quá trình
hiện thực hóa lý tưởng đó. Từ những nỗ lực phấn đấu vươn lên, sinh viên tự
khẳng định mình và góp phần vào sự phát triển xã hội.
Ngày nay, khi mà những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác động
mạnh cả vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung thì công tác giáo dục lý luận
càng phải quan tâm tới việc xây dựng, giáo dục đạo đức cho sinh viên. Một
23
mặt, giáo dục lý luận góp phần giải đáp những vấn đề về đạo đức của sinh viên,
học sinh. Mặt khác, phải phát huy vai trò của đạo đức với tính cách là tiền đề để
Với vai trò quan trọng của đạo đức, từ thực trạng đạo đức xã hội nói
chung, đạo đức thanh niên nói riêng, trong những năm gần đây, Đảng ta luôn
coi trọng công tác xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh
trong xã hội, đặc biệt quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức cho thế hệ trẻ luôn
được Đảng ta coi trọng.
3.2. Giáo dục để hình thành ở sinh viên thái độ đứng đắn, tình cảm,
niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp
cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh:
Đây là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức
đối với sinh viên. Bởi vì, thái độ, tình cảm, niềm tin đạo đức đối với bản thân và
các hiện tượng xã hội sẽ tạo ra động lực bên trong điều chỉnh nhận thức và hành
vi của con người. Để thực hiện mục tiêu, nhà trường cần phải:
- Nhà trường có trách nhiệm phải xây dựng tình cảm và củng cố niềm tin
của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ và hiện thực ngày càng tốt
đẹp của công cuộc đổi mới đất nước. Khi sinh viên đã có niềm tin vững chắc thì
sẽ quyết định khuynh hướng, mục đích và hiệu quả hoạt động của mình và sẽ
hoạt động hăng say, tích cực trong học tập, công tác, đóng góp thiết thực cho
đất nước, xã hội.
- Nhà trường phải tăng cường giáo dục cho sinh viên tình cảm yêu nước
nồng nàn. Yêu nước tức là yêu độc lập của đất nước; yêu chủ nghĩa xã hội; là
phải làm giàu cho gia đình và đất nước, muốn làm giàu thì phải học tập; phải
trung với Đảng, với nước, hiếu với nhân dân. Trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường và giao lưu quốc tế hiện nay thì “trung” và “hiếu” phải được coi là
giá trị nổi bật để sinh viên không dễ sa vào cạm bẫy của kẻ thù. Nhà trường
phải giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội giữ vai trò quyết
định, là nền tảng điều chỉnh mọi hành vi của sinh viên, xác định thái độ lựa
chọn và ứng xử trước những biến động to lớn do cơ chế thị trường đặt ra. Có
thể nói giáo dục tình cảm yêu nước là nội lực quan trọng để tạo cho sinh viên,
25