NHU CẦU VÀ THOẢ MÃN NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI
3.1. Thoả mãn nhu cầu về lương thực và thực phẩm của loài người
- Nhu cầu lương thực và sản xuất lương thực trên thế giới.
- Nhu cầu dinh dưỡng của con người.
- Tại sao con người vẫn đói? Làm gì để khắc phục?
- Thoả mãn nhu cầu lương thực và vấn đề môi trường
3.1.1. Những lương thực và thực phẩm chủ yếu
Có khoảng 45 hợp chất và nguyên tố có trong các loại lương thực và thực phẩm
được coi là các chất dinh dưỡng quan trọng, cần thiết cho cuộc sống và sức khoẻ của con
người. Các chất dinh dưỡng này nằm trong 5 nhóm là glucit, lipid, protein, viatmin và muối
khoáng. Mỗi chất dinh dưỡng này có thể được tìm thấy trong các loại lương thực và thực
phẩm khác nhau, tuy nhiên không có loại thức ăn nào có thể chứa đầy đủ các hợp chất cần
thiết. Mỗi một loại thức ăn có một chức phận hay các chức phận khác nhau trong cơ thể,
như cung cấp năng lượng, xây dựng các mô hay duy trì các quá trình sinh lý cơ bản của cơ
thể.
Cho đến nay, loài người đa thuần hóa đến nay chừng 80 loại cây lương thực, thực
phẩm chủ yếu và trên 20 loại động vật.
Về lương thực chủ yếu có 3 loài: lúa, lúa mì và ngô với quá nửa diện tích đất đai
trồng trọt của Trái đất. Chỉ riêng lúa và lúa mì đa cung cấp chừng 40% năng lượng dạng
thức ăn cho loài người.
1. Lúa.
Là cây lương thực quan trọng hơn cả và nó cũng đa thích ứng với các điều kiện khí hậu
sinh thái rất khác nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, khô, vùng thấp, trũng,... Diện tích trồng
lúa trên thế giới khoảng 140 triệu hecta chủ yếu ở Châu Á (90% diện tích),
năng suất trung bình 25 tạ/hecta một vụ với sản lượng tổng cộng khoảng 344 triệu tấn.
2. Mì (lúa mì) Đứng hàng thứ hai sau lúa về cây lương thực chủ yếu. Mì thích nghi với khí
hậu ôn đới. Năng suất trung bình 20 tạ/ha trên diện tích 210 triệu ha và tổng sản lượng thế
giới khoảng 355 triệu tấn.
3. Ngô
Là loại ngũ cốc đứng thứ ba, sản lương ngô trên thế giới khoảng 322 triệu tấn.
Chừng 40 % tập trung ở Bắc và Trung Mỹ. Về giá trị năng lượng thì lúa thua ngô: lúa cho
Để tính nhu cầu về lương thực và thực phẩm cho một đầu người dân, người ta thường qui
về số kcal cần cho một ngày đêm.
Bảng 3.3 : Mức Calori cần thiết hàng ngày và sự thiếu dinh dưỡng ở các nước nghèo
Bảng 3:
Nhu cầu năng lượng cần cho mỗi người phụ thuộc vào mức độ lao động, lứa tuổi, giới tính
và nơi sinh sống. Nhu cầu năng lượng cần cho một người ở Châu Âu là 2400 Kcal/ngày
cho nam; 1600Kcal/ngày cho nữ. Người Việt Nam có nhu cầu thấp hơn, tương ứng là 2100
kcal/ngày và 1400 kcal/ngày. Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày, không phải chỉ tính ở số
Kcal mà còn cả ở thành phần chất dinh dưỡng, đặc biệt là protein. Nếu thiếu protein động
vật thì phải bù bằng protein thực vật. Sự thiếu protein trong khẩu phần thức ăn ở các nước
kém phát triển, có khi còn nghiêm trọng hơn cả thiếu Calo, nhất là đối với phụ nữ có thai,
phụ nữ đang nuôi con và trẻ em.
+ Hiện tượng suy dinh dưỡng và bội dinh dưỡng:
- Suy dinh dưỡng:
Xảy ra khi khẩu phần ăn không bảo đảm về lượng và chất dẫn đến thiếu khả năng thực hiện
các hoạt động cần thiết , không bảo đảm sự phát triển bình thường của cơ thể. Hiện nay
trên thế giới có đến 3 tỷ người - nghĩa là ½ dân số thế giới thiếu ăn, trong đó 800 triệu
người ăn đói thường xuyên. Phần lớn tập trung ở các nước kém phát triển.
- Bội dinh dưỡng:
Là hậu quả của việc dùng quá nhiều thức ăn giầu năng lượng, thiếu vận động trong nếp
sống dẫn đến béo phì. Khoảng 15% dân số ở các nước phát triển đang mắc căn bệnh này, ở
Mỹ là gần 50%, trong đó 25% trong tình trạng cấp báo. Bệnh béo phì dẫn đến mắc các bệnh
tim mạch, tiểu đường, gan nhiễm mỡ…
Ở các nước có thu nhập cao : Trong khẩu phần ăn có quá nhiều thịt, muối, chất béo, thiếu
chất xơ. Thực phẩm qua chế biến công nghiệp có thể thiếu muối khoáng và các vitamin.
Ở các nước có thu nhập thấp: Trong khẩu phần ăn thiếu protid, vitamin và thiếu lượng
calori cần thiết
Ở nước ta, theo điều tra của Viện Dinh dưỡng thì tình hình dinh dưỡng của nhân dân ta
trong 3 năm 1987-1989 cũng rất kém, bình quân số Kcal cung cấp cho một người mỗi ngày
mới chỉ đạt 1950 kcal, so với yêu cầu thì còn thiếu. Để bảo đảm nhu cầu năng lượng và
• Nhu cầu về lãnh thổ - diện tích canh tác:
- Cân đối diện tích giữa các loại cây trồng;
- Cân đối diện tích giữa nông nghiệp với:
. Công nghiệp;
. Phát triển đô thị;
. Giao thông;
. Nghỉ ngơi, giải trí.
- Đối phó với biến đổi khí hậu – khi nước biển dâng lên.
• Nhu cầu về năng lượng cho sức kéo, thuỷ lợi và sản xuất phân hoá học.
• Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên cho bảo đảm lương thực, thực phẩm:
- Sản xuất phân bón:
. Phân đạm;
. Phân lân;
. Kali.
- Sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, bao bì;
- Chế biến lương thực, thực phẩm;
- Chăn nuôi.
• Ô nhiễm môi trường:
Trực tiếp trong quá trình sử dụng năng lượng hoá thạch, phân hoá học, thuốc bảo
vệ thực vật;
Gián tiếp khi sử dụng năng lượng, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật;
3.2. Nhu cầu về năng lượng
3.2.1. Khái niệm.
Năng lượng là một dạng vật chất, xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là năng lượng Mặt trời và
năng lượng lòng đất.
+ Năng lượng Mặt Trời : Bức xạ Mặt trời, năng lượng sinh học dưới dạng sinh khối động
thực vật, năng lượng chuyển động của khí quyển và thuỷ quyển, năng lượng hoá thạch.
+ Năng lượng lòng đất: nguồn nước nóng, núi lửa và năng lượng phóng xạ của các mỏ
U,Th, Po.
Nhu cầu năng lượng của con người gia tăng nhanh chóng trong quá trình phát triển: