BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ----------
NGUYỄN THỊ BÍCH THUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ
SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI LÊN CHÍNH SÁCH
CỔ TỨC TIỀN MẶT CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Tháng 8 Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ---------NGUYỄN THỊ BÍCH THUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ
SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI LÊN CHÍNH SÁCH
CỔ TỨC TIỀN MẶT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.4. Cấu trúc của luận văn ........................................................................... 5
2. Tổng quan về lý thuyết, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm .............. 6
2.1. Lý thuyết chi phí đại diện ..................................................................... 6
2.2. Lý thuyết phân chia nhóm khách hàng ................................................. 8
2.3. Giả thiết sự lựa chọn đối nghịch ........................................................... 9
2.4. Các nghiên cứu thực nghiệm ở các nước trên thế giới ....................... 10
2.5. Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam .......................................... 24
3. Dữ liệu, phương pháp và mô hình nghiên cứu ...................................... 27
3.1. Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................ 27
3.2. Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu .......................................... 27
3.3. Mô hình nghiên cứu ............................................................................ 34
3.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 34
4. Chính sách cổ tức và cơ cấu sở hữu của những công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán việt Nam giai đoạn 2007-2013 ................................. 37
5. Kết quả nghiên cứu ................................................................................... 42
5.1. Kết quả thống kê mô tả ...................................................................... 42
5.2. Kết quả hồi quy................................................................................... 46
5.3. Phân tích độ nhạy .............................................................................. 56
6. Kết luận ...................................................................................................... 60
6.1. Tóm tắt các kết quả chính của luận văn ............................................. 60
6.2. Hạn chế của luận văn .......................................................................... 60
6.3. Hướng nghiên cứu trong tương lai .................................................... 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
ty có sở hữu nhà nước cao (gọi là hiệu ứng “tunneling effect”), điều này có
thể là yếu tố nổi bật tại các thị trường mới nổi. Các nghiên cứu thực nghiệm
của Wei (2003), Gugler (2003), Chen (2009) và Lam (2012) đã minh chứng
cho hiệu ứng trên tồn tại trong thực tiễn chi trả cổ tức của các công ty ở Trung
Quốc. Trong luận văn này tôi sử dụng số liệu từ các công ty niêm yết trên hai
sàn HOSE và HNX trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013, để nghiên
cứu ảnh hưởng của sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài lên chính sách chi
trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam. Kết
quả nghiên cứu của tôi cho thấy sở hữu nhà nước có mối tương quan dương
với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt nhưng lại không có ý nghĩa về mặt thống kê
(nếu đo lường sở hữu nhà nước bằng biến định lượng là tỷ lệ phần trăm sở
hữu cổ phiếu của nhà nước), sở hữu nước ngoài có tương quan âm với tỷ lệ
chi trả cổ tức tiền mặt nhưng lại không có ý nghĩa về mặt thống kê. Ngoài ra
kết quả phân tích độ nhạy còn cho ta thấy các công ty với tỷ lệ sở hữu cổ
phiếu của nhà nước trên 50% chi trả cổ tức cao hơn các công ty có tỷ lệ sở
hữu cổ phiếu của nhà nước thấp hơn 50% ở mức ý nghĩa 1%, quy mô công ty
và tỷ lệ chi trả cổ tức năm t-1 có mối tương quan dương với tỷ lệ chi trả cổ
tức ở năm t. Kết quả này có ý nghĩa đến các nhà nghiên cứu, các nhà đầu tư,
các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Từ khóa: Chính sách cổ tức, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài.
2
1. Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
1.1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Chính sách cổ tức là chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu thị trường vốn và hành vi của công ty trong gần nửa thế kỷ qua. Miler và
là mối quan tâm lớn đối với các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính
sách. Lý thuyết về chính sách cổ tức cho rằng chi trả cổ tức có thể làm giảm
xung đột giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số (Jensen và các cộng sự
(1992)). Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của sở hữu nhà
nước lên chính sách cổ tức ở các nước Trung Quốc, Đức, Jordan đều cho rằng
các công ty với sở hữu nhà nước cao thường thích chi trả cổ tức bằng tiền mặt
cao, hoặc sử dụng cổ tức tiền mặt như công cụ rút tiền từ các công ty có sở
hữu nhà nước cao. Hơn nữa đã có khá nhiều nghiên cứu về tác động của sở
hữu nước ngoài lên chính sách cổ tức ở các nước như nghiên cứu của Kumar
(2003); Wei và cộng sự (2003); Jeona (2011) nhưng kết quả không đồng nhất.
Chẳng hạn kết quả nghiên cứu của Kumar (2003) không tìm thấy mối quan hệ
giữa sở hữu nước ngoài và cổ tức, trong khi nghiên cứu của Wei (2003) tìm
thấy mối tương quan âm giữa sở hữu nước ngoài và cổ tức, nghiên cứu của
Jeona (2011) lại tìm thấy mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê cao
giữa sở hữu nước ngoài với cổ tức.
Mặt khác ở Việt Nam trong những năm gần đây các công ty có sở hữu
nhà nước cao thường chi trả cổ tức rất cao, chẳng hạn DRC, DHG, VNM đã
chi trả cổ tức rất cao lên đến 4.800đ/cp. Từ thực trạng đó và các nghiên cứu ở
thị trường khác như: Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc, Đức, Italia, … phát
sinh vấn đề nghiên cứu liệu ở Việt Nam sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài
có tác động lên chính sách cổ tức hay không. Chính vì các lý do trên mà tôi
quyết định chọn đề tài “Tác động của sở hữu nhà nước và sở hữu nước
4
ngoài lên chính sách cổ tức tiền mặt của các công ty cổ phần niêm yết tại
Việt Nam”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của luận văn là xem xét ảnh hưởng của sở hữu nhà
Mặt khác Wei và các cộng sự (2004), Lee và Xiao (2004), và Lam (2012)
cũng tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa sở hữu nhà nước và tỷ lệ chi
trả cổ tức tiền mặt. Ở Việt Nam phần lớn các công ty cổ phần đều xuất phát từ
doanh nghiệp nhà nước, như trong mẫu dữ liệu của tôi thì số các công ty cổ
phần có sở hữu nhà nước là cổ đông lớn chiếm trên 87% số công ty quan sát.
Vì vậy tôi đề xuất giả thiết về sở hữu nhà nước và cổ tức như sau:
Giả thiết 1: Sở hữu nhà nước có tương quan dương với tỷ lệ chi trả cổ
tức bằng tiền mặt.
Nghiên cứu của Choe và các cộng sự (2005) cho rằng các nhà đầu tư
nước ngoài gặp bất lợi trong việc nắm bắt những thông tin về triển vọng trong
tương lai của công ty địa phương so với các nhà đầu tư trong nước. Và việc
tăng sở hữu nước ngoài có thể dẫn đến nhu cầu tăng áp lực công bố thông tin
bởi các doanh nghiệp địa phương. Mặt khác các nhà đầu tư nước ngoài
thường là những tổ chức quốc tế có nhiều kinh nghiệm trong việc giám sát
hoạt động của công ty. Do đó khả năng giám sát của họ tốt hơn các tổ chức
trong nước. Vì vậy tôi đề xuất giả thiết cho nghiên cứu như sau:
Giả thiết 2: Sở hữu nước ngoài có tương quan dương với tỷ lệ chi trả
cổ tức bằng tiền mặt.
1.4. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn bao gồm
Mục 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Mục 2: Tổng quan về lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
6
Mục 3: Dữ liệu, phương pháp và mô hình nghiên cứu
Mục 4: Thực trạng về chính sách cổ tức và hình thức sở hữu của các
công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam
Mục 5: Kết quả nghiên cứu
cửa, xe cộ để phô trương thân thế của họ để lại chi phí cho cổ đông gánh chịu;
Hay là giám đốc có khuynh hướng đầu tư nhiều cho quảng cáo, tiếp thị với
mục đích mang lại lợi ích trong ngắn hạn và quảng bá cho bản thân giám đốc
hoặc nhận hoa hồng. Trong khi chi phí nghiên cứu phát triển (R&D) ít vì chi
nghiên cứu phát triển là khoản chi lớn ở hiện tại có thể làm giảm tiền thưởng
cho giám đốc, nhưng mang lại lợi ích trong dài hạn có khi giám đốc không
được nhận; Giám đốc thường chi trả cổ tức thấp với mục đích giữ tiền để đáp
ứng chi tiêu và hạn chế sự kiểm soát của chủ nợ khi phải đi vay. Vì thế cổ
đông có thể thành lập thêm ban kiểm soát để kiểm soát hành vi của giám đốc
từ đó làm nảy sinh thêm chi phí.
Đặc biệt trong công ty cổ phần thường thuê giám đốc từ bên ngoài công
ty mà họ thường không sở hữu, sở hữu ít hoặc sở hữu không toàn bộ cổ phần
của công ty nên mâu thuẫn trên luôn tồn tại. Vì vậy việc giải quyết mâu thuẫn
đang là chủ đề mà nhiều học giả quan tâm.
Easterbrook (1984) chỉ ra rằng giải pháp cho việc giải quyết mâu
thuẫn là tăng mức độ tiền thưởng và trả lương phù hợp cho giám đốc, tạo
điều kiện để họ trở thành cổ đông của công ty bằng cách thưởng cổ phiếu,
hay quyền chọn mua cổ phiếu của công ty khi lợi nhuận công ty đạt được
mức nào đó.
Jensen (1986) lập luận rằng chi trả cổ tức làm giảm ngân quỹ khiến
các nhà quản lý không phải đầu tư quá nhiều mà gây lãng phí nguồn lực công
ty, đồng thời khi công ty có cơ hội đầu tư buộc nhà quản lý phải huy động
8
vốn từ bên ngoài. Chính điều này sẽ tạo điều kiện để nhà quản lý được giám
sát chặt chẽ hơn. Do đó, những người ủng lý thuyết đại diện đồng ý rằng chi
trả cổ tức cao có thể xem như là công cụ hiệu quả để giám sát giám đốc, làm
tăng giá trị công ty bằng cách giảm các vấn đề về đầu tư lãng phí quá mức.
có thể phát tín hiệu tốt cho nhà đầu tư tổ chức bằng cổ tức khởi xướng để thu
hút các nhà đầu tư tổ chức – những người có lợi thế về thuế hơn so với nhà
đầu tư cá nhân. Các công ty chất lượng cao hơn có thể phát tín hiệu bằng
cách trả cổ tức để thu hút các nhà đầu tư tổ chức. Ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới, thuế suất đánh trên cổ tức tiền mặt thường cao hơn thuế suất đánh
trên lãi vốn. Đối với khách hàng cá nhân nếu nhận cổ tức bằng tiền mặt cổ
đông phải chịu thêm khoản thuế thu nhập cá nhân đánh trên cổ tức nhận
được từ đầu tư vốn, trong khi các nhà đầu tư tổ chức thì không phải chịu
khoản thuế này. Tóm lại giả thiết phân chia nhóm khách hàng cho rằng các
nhà đầu tư nước ngoài có nhiều khả năng thích đầu tư vào công ty chi trả cổ
tức bằng tiền mặt cao.
2.3. Giả thiết sự lựa chọn đối nghịch “Adverse selection hypothesis”
Trái ngược với giả thiết phân chia nhóm khách hàng, Sự lựa chọn đối
nghịch giả định rằng các nhà đầu tư tổ chức có được những thông tin tốt hơn
so với các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cho nên nhà đầu tư tổ chức thích các công ty
mua lại cổ phiếu hơn là chi trả cổ tức.
Barclay và Smith (1988) cho rằng chương trình mua lại cổ phiếu từ thị
trường mở cung cấp cho các nhà quản lý có cơ hội sử dụng thông tin nội bộ
để trục lợi cho bản thân họ, mà gây ra chi phí cho cổ đông. Brennan và
Thakor (1990) cung cấp một mô hình lý thuyết dựa trên thông tin bất cân
xứng giữa việc nắm bắt và không nắm bắt thông tin của các cổ đông về công
10
ty. Brennan (1990) lập luận rằng các cổ đông sẽ sẵn lòng bỏ ra một khoản
tiền để có được thông tin khi biết công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt lớn hơn
chi phí mà cổ đông đã bỏ ra để có được thông tin về chính sách chi trả cố tức
của công ty. Do đó các cổ đông có ít thông tin thường thích đầu tư vào công
ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt cao.
Cooperation Council) giai đoạn 1999-2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy sở
hữu nhà nước, quy mô công ty, lợi nhuận (ROE) có mối tương quan dương và
đòn bẩy có mối tương quan âm với tỷ lệ chi trả cổ tức.
Amidu và Abor (2006) tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến
chính sách cổ tức của các công ty ở Ghana trong giai đoạn 6 năm. Kết quả
nghiên cứu cho thấy cơ hội đầu tư (giá trị thị trường/giá trị sổ sách), tăng
trưởng doanh thu, lợi nhuận là các nhân tố chính tác động đến tỷ lệ chi trả cổ
tức.
Chen và các cộng sự (2009) nghiên cứu chính sách cổ tức ở Trung
Quốc. Trong bài nghiên cứu này Chen và các cộng sự (2009) sử dụng dữ liệu
từ 1271 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Shanghai and Shenzhen
giai đoạn từ 1990 đến 2004, cuối cùng mẫu dữ liệu của ông gồm 8285 quan
sát. Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả sử dụng các nhóm biến sau: Biến
phụ thuộc – chính sách cổ tức được đo lường bằng cổ tức tiền mặt trên tổng
tài sản; các biến độc lập như GOV- là biến giả nhận giá trị 1 nếu cổ đông lớn
nhất của công ty là nhà nước, nhận giá trị 0 nếu ngược lại; SIZE là quy mô
công ty được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, đòn bẩy tài
chính được đo lường bằng tổng nợ phải trả trên tổng tài sản, M/B – cơ hội đầu
tư được đo lường bằng giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của vốn cổ phần,
StdEarnings – đo lường bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận ròng trên tổng tài
sản ở các năm trước, Stock Div nhận giá trị 1 khi trong năm công ty có chi trả
12
cổ tức bằng cổ phiếu, NI – đo lường bằng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản.
Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy OLS với thống kê Newey– West điều
chỉnh thống kê t để kiểm soát hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương
quan. Kết quả hồi quy cho thấy các công ty có cổ đông lớn nhất là nhà nước
chi trả cổ tức tiền mặt cao hơn các công ty không có cổ đông lớn nhất là nhà
(Tobin’Q) và tính biến động trong thu nhập của công ty. Kết quả hồi quy
bằng phương pháp từng bước cho thấy sở hữu của nhà quản lý, đòn bẩy, quy
mô, dòng tiền và tính biến động trong thu nhập có mối tương quan âm với cổ
tức mỗi cổ phần, trong khi sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức, giá trị công ty
có tương quan dương với cổ tức mỗi cổ phần.
Jensen và cộng sự (1992) phân tích các yếu tố quyết định sự khác biệt
của cổ đông nội bộ, nợ và chính sách cổ tức của các công ty. Kết quả nghiên
cứu cho thấy sở hữu nội bộ, tăng trưởng doanh thu, cơ hội đầu tư có tương
quan âm và lợi nhuận có tương quan dương với tỷ lệ chi trả cổ tức.
Jeona và các cộng sự (2011) sử dụng mô hình dynamic fixed effects
theo năm và ngành để nghiên cứu về tác động của sở hữu nước ngoài lên
chính sách cổ tức ở Hàn Quốc giai đoạn từ 1994 đến 2004. Trong bài nghiên
cứu nhóm tác giả sử dụng các nhóm biến sau: Nhóm biến sở hữu gồm sở hữu
nước ngoài và sở hữu tổ chức trong nước; nhóm biến kiểm soát gồm quy mô
(đo lường bằng logarit tự nhiên của doanh thu), đòn bẩy, ROA, cơ hội đầu tư
(M/B - đo lường bằng giá trị thị trường của vốn cổ phần trên giá trị sổ sách
của vốn cổ phần), dòng tiền (đo lường bằng tỷ số giữa dòng tiền tự do trên giá
trị sổ sách của tổng tài sản), độ tuổi (AGE - đo lường bằng logarit tự nhiên
của số năm công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hàn Quốc), tính thanh
khoản (CASH - đo lường bằng tiền và tương đương tiền chia giá trị của tổng
14
tài sản ở cuối năm tài chính), cơ hội tăng trưởng (đo lường bằng sự thay đổi
của doanh thu thuần); nhóm biến đo lường cổ tức gồm dividend-to-book (đo
lường bằng số tiền dùng để chi trả cổ tức tiền mặt trên giá trị sổ sách của tổng
tài sản), repurchase-to-book (đo lường bằng số tiền dùng để mua lại cổ phần
trên giá trị sổ sách của tổng tài sản). Kết quả mô hình hồi quy sở hữu nước
ngoài (hoặc sở hữu tổ chức trong nước) theo các biến đặc điểm công ty và cổ
bình giá trị vốn hóa thị trường giai đoạn 2005 - 2007, các biến độc lập gồm
rủi ro công ty (RISK) – đo lường bằng độ lệch chuẩn của EBIT giai đoạn từ
2005 – 2007; SIZE – đo lường bằng trung bình giá trị vốn hóa thị trường giai
đoạn 2005 – 2007, đòn bẩy tài chính (LEV) – đo lường bằng trung bình tổng
nợ trên tổng tài sản giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2007, Bank, Financial
institutions, Companies, State authorities, foreign lần lượt là các biến giả nhận
giá trị 1 nếu cổ đông lớn nhất của công ty lần lượt là ngân hàng, các tổ chức
tài chính, công ty, nhà nước, nhà đầu tư nước ngoài, nhận giá trị 0 nếu ngược
lại. Kết quả mô hình hồi quy Tobit cho thấy sở hữu nhà nước, quy mô công ty
và đòn bẩy tài chính có tương quan dương với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt;
trong khi sở hữu ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty đều có tương quan âm
với với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt; sở hữu nước ngoài có tương quan âm với
tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Mancinelli và các cộng sự (2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính
sách cổ tức và cơ cấu sở hữu sử dụng mẫu dữ liệu từ 139 công ty niêm yết ở
Italia. Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy các công ty thực hiện chia cổ
tức thấp khi quyền biểu quyết của các cổ đông lớn nhất tăng.
16
Nathasa Mazna Ramli (2010) sử dụng dữ liệu Bảng để ước tính tác
động của cơ cấu sở hữu lên chính sách cổ tức ở Malaysia giai đoạn 2002 –
2006. Mẫu dữ liệu của ông được thu thập từ 245 công ty phi tài chính niêm
yết trên thị trường chứng khoán Malaysia giai đoạn 2002 – 2006, tức dữ liệu
gồm 1225 quan sát. Trong bài nghiên cứu ông sử dụng các biến sau: Biến phụ
thuộc (DIVE) – đo lường bằng tổng cổ tức chi trả chia thu nhập trước thuế và
lãi vay, Các biến độc lập gồm đòn bẩy tài chính (DEBT) – đo lường bằng
tổng nợ trên tổng tài sản, INV – đo lường bằng giá trị vốn hóa thị trường chia
tổng tài sản, ROA – thu nhập trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản, SIZE –
sách cổ tức-đo lường thông qua ROA, còn chính sách cổ tức-đo lường thông
qua Tobin’Q thì sở hữu nhà nước có mối tương quan dương với cổ tức nhưng
không có ý nghĩa thống kê. Ngoài ra kết quả của họ còn cho ta thấy quy mô
công ty có tương quan dương, đòn bẩy có tương quan âm với chính sách cổ
tức-đo lường thông qua ROA, còn chính sách cổ tức đo lường thông qua
Tobin’Q thì quy mô và đòn bẩy không có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức.
Short và các cộng sự (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu
và chính sách cổ tức cho các công ty ở Anh. Kết quả nghiên cứu cho ta thấy
sở hữu tổ chức và thu nhập có tương quan dương với chính sách trả cổ tức; sở
hữu quản lý có tương quan âm với chính sách trả cổ tức.
Kumar (2003) xem xét mối liên hệ giữa cơ cấu sở hữu, quản trị doanh
nghiệp và chính sách cổ tức của các công ty ở Ấn Độ trong giai đoạn 19942000. Kết quả của Kumar tìm thấy sở hữu tổ chức và sở hữu của ban giám
đốc có mối tương quan dương với cổ tức, trong khi sở hữu nước ngoài không
có mối quan hệ với cổ tức.
Wei và các cộng sự (2003) sử dụng phương pháp hồi quy OLS và logit
để nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách chi trả cổ tức và cơ cấu sở hữu ở
18
Trung Quốc. Trong bài nghiên cứu nhóm tác giả đã sử dụng mẫu dữ liệu từ
các công ty niêm yết trên Shanghai Securities Exchange (SHSE) và Shenzhen
Securities Exchange (SZSE) trong giai đoạn 1995-2001, với các tiêu chí sàn
lọc của ông cuối cùng dữ liệu gồm 3.994 quan sát. Họ đo lường các biến
trong mô hình nghiên cứu như sau: Biến phụ thuộc tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt
và tỷ lệ chi trả cổ tức cổ phần được đo lường thông qua 3 tỷ lệ: cổ tức mỗi cổ
phiếu (DPS); cổ tức mỗi cổ phiếu trên thu nhập mỗi cổ phiếu (DPS/EPS); và
tổng cổ tức chi trả trên doanh thu thuấn; nhóm biến độc lập cấu trúc sở hữu
gồm sở hữu nhà nước (STATE), sở hữu nước ngoài (FOREIGN), sở hữu cá
nhân (PUBLIC), sở hữu tập trung (T10 – được đo lường bằng phần trăm sở
mối tương quan dương với DIV; còn đòn bẩy có mối tương quan âm với DIV.
Bradforda và các cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa chính
sách cổ tức tiền mặt và cấu trúc sở hữu ở Trung Quốc giai đoạn từ 1999-2010.
Sau khi loại bỏ những công ty trong ngành tài chính, những công ty hủy niêm
yết thì mẫu dữ liệu cuối cho hàm hồi quy của tác giả gồm 12.630 quan sát.
Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả đã sử dụng các biến sau: Biến phụ
thuộc chính sách cổ tức tiền mặt được đo lường bằng 2 cách, cách 1: Payout –
đo lường bằng cổ tức tiền mặt chia cho thu nhập mỗi cổ phiếu ở năm hiện
hành, cách 2: Yield – đo lường bằng cổ tức tiền mặt chia giá cổ phiếu; Các
biến độc lập gồm sở hữu nhà nước (STATE) – là biến giả nhận giá trị 1 khi
nhà nước nắm quyền kiểm soát trong công ty, nhận giá trị 0 nếu ngược lại,
tính thanh khoản của công ty (CASH) – đo lường bằng tiền và tương đương
tiền trên tổng tài sản ở cuối năm, GROWTH – tăng trưởng doanh thu so với
năm trước đó, NI – lợi nhuận ròng của cổ đông thường trên tổng vốn cổ phần,
SIZE – đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, LEV – tổng nợ phải