LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍ PHÍ LƯU THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 66

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍ PHÍ LƯU THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
I-/ KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ LƯU THÔNG.
1-/ Khái niệm:
Phí lưu thông thực chất là chi phí lao động xã hội cần thiết bằng tiền
trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá từ nơi mua (nguồn hàng) đến nơi bán.
Chi phí lưu thông là giá của việc lưu thông hàng hoá. Những chi phí này là
giá phát sinh trong quá trình lưu thông, là một tồn tại khách quan như bản
thân quá trình lưu thông và vì quá trình lưu thông.
2-/ Phân loại.
Chi phí lưu thông hàng hoá gắn liền với quá trình mua bán và vận động
của hàng hoá từ nơi mua hàng (nguồn hàng, nơi nhận) đến nơi bán hàng. Điều
này chỉ rõ phí lưu thông là nhằm để đảm bảo các chí phí để thực hiện việc
chuyển đưa hàng hoá từ nơi mua đến nơi bán. Không có chi phí lưu thông, sẽ
không thể thực hiện việc lưu thông hàng hoá. Đó là chi phí cần thiết khách
quan. Tuy nhiên mức phí cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức
quản lý kinh doanh thương mại , sự tính toán hợp lý và các nhân tố chủ quan
của người quản trị điều hành kinh doanh. Vì vậy, tuy là khách quan nhưng nó
gắn chặt với hoạt động chủ quan của các doanh nghiệp thương mại. Do vậy,
chi phí lưu thông là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ
tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp thương mại cho nên phân loại
phí lưu thông là vô cùng cần thiết và quan trọng:
Một là: Phân loại theo nội dung kinh tế:
Phí lưu thông được chia thành phí lưu thông thuần tuý và phí lưu thông
bổ sung.
+ Phí lưu thông thuần tuý: là những khoản chí phí gắn liền với việc mua,
bán hàng hoá, hạch toán hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Đó là những khoản chi
chỉ nhằm chuyển hoá một cách đơn thuần giá trị của hàng hoá (T - H, H - T’).
Chi phí này không làm tăng thêm giá trị của sản phẩm hàng hoá.
+ Phí lưu thông bổ sung: là những khoản chi phí nhằm tiếp tục và hoàn
thành quá trình sản xuất nhưng bị hình thái lưu thông che dấu đi. Nhìn chung

* Khoản mục phí hao hụt hàng hoá.
* Khoản mục phí quản lý hành chính.
BẢNG DANH MỤC PHÍ LƯU THÔNG
I. Phí vận tải, bốc dỡ hàng hoá
1. Tiền cước vận tải.
2. Tiền khuân vác bốc dỡ hàng hoá.
3. Tạp phí vận tải.
II. Phí bảo quản, thu mua, tiêu thụ
4. Tiền lương (tiền công) trực tiếp kinh doanh.
5. Tiền thuê nhà và công cụ.
6. Tiền khấu hao nhà cửa, công cụ.
7. Phí phân loại, chọn lọc, đóng gói, bao bì.
8. Phí bảo quản.
9. Chi phí sửa chữa nhỏ, nhà cửa, công cụ.
10. Chi phí nhiên liệu, điện lực.
11. Chi phí trả lãi vay ngân hàng.
12. Chi phí vệ sinh kho tàng, cửa hàng.
13. Chi phí tuyên truyền quảng cáo.
14. Chi phí đào tạo, huấn luyện.
15. Chi phí khác.
III. Chi phí hao hụt hàng hoá.
16. Chi phí hao hụt hàng hoá trong định mức.
17. Chi phí hao hụt ngoài định mức.
IV. Chi phí quản lý hành chính.
18. Tiền lương bộ máy quản trị kinh doanh.
19. Khấu hao tài sản cố định.
20. Chi phí nhiên liệu động lực.
21. Chi phí nộp lên cấp trên.
22. Chi phí tiếp khách.
23. Chi phí hành chính khác.

+ Sự phát triển của ngành vận tải và những hình thức tiến bộ được áp
dụng cho ngành vận tải thông qua sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công
nghệ mới. Như ta đã biết chi phí vận tải là một khoản chi phí chiếm 80% trong
chi phí lưu thông phụ thuộc nhiều vào chí phí vận tải, giá cước vận tải, tốc độ
phương tiện vận tải liên tục và tính linh hoạt của phương tiện vận tải.
+ Sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ mới trong việc
bảo quản, cân đong, đo hàng. Nhân tố này ảnh hưởng tới sự tăng giảm các
khoản phí như phí qua cầu, phí bảo quản, đóng gói. Nếu cân đong đo hàng
chính xác, nhanh gọn sẽ làm giảm các khoản phí có liên quan.
2-/ Nhân tố bên trong.
Chi phí lưu thông cao hay thấp còn chịu sự chi phối của bản thân doanh
nghiệp cho nên có rất nhiều nhân tố tác động đến chí phí lưu thông bao gồm:
a. Mức lưu chuyển hàng hoá và cơ cấu của mức lưu chuyển hàng hoá:
Khi mức lưu chuyển hàng hoá tăng lên thì doanh nghiệp có thể hạ tương
đối mức của chi phí lưu thông. Bởi vì khi mức lưu chuyển hàng hoá tăng lên thì
số tiền tuyệt đối của khoản chi phí này cũng tăng lên song có thể không tăng
bằng mức tăng của lưu chuyển hàng hoá. Bởi lẽ khi lưu chuyển hàng hoá được
mở rộng sẽ có điều kiện vận chuyển hợp lý hơn, năng suất lao động có điều
kiện nâng cao hơn. Mặt khác trong khi chí phí lưu thông còn có những khoản
bất biến như khấu hao tài sản cố định, chí phí quản lý hành chính, thuế vốn.
Như vậy khi mức lưu chuyển hàng hoá tăng lên thì số tiền tuyệt đối của chí phí
lưu thông có thể tăng lên nhưng mức tăng nhỏ hơn so với mức tăng lưu
chuyển hàng hoá. Điều đó làm cho tỷ suất phí lưu thông giảm xuống.
Mặt khác cơ cấu của mức lưu chuyển hàng hoá cũng ảnh hưởng đến phí
lưu thông. Nếu cơ cấu của mức lưu chuyển hàng hoá gồm những loại hàng hợp
với nhu cầu thì sẽ bán nhanh giảm được phần nào chi phí bảo quản, hao hụt,
lãi vay vốn. Do vậy mức tương đối phí lưu thông hạ thấp, ngược lại sẽ làm mức
phí lưu thông tăng lên.
b. Nhân tố sản xuất:
Khi sản xuất hàng hoá phát triển thì kinh doanh hàng hoá cũng phát triển

Vì dự trữ là cần thiết nhưng phải tính toán lượng dự trữ và cơ cấu dự trữ
cho phù hợp bởi vì dự trữ càng nhiều thì chí phí bảo quản hàng hoá, hao hụt
càng cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status