BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHU NGUYỄN MỘNG NGỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2005
1
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh chung của công cuộc xã hội hoá giáo dục của đất nước,
xuất hiện ngày càng nhiều loại hình trường ở cấp đào tạo đạo học ngoài hệ công
lập như tư thục, bán công, dân lập bên cạnh không ít cơ sở đào tạo đại học của
các nước khác đang tích cực thu hút học sinh - sinh viên trong nước ta đi du học
với nhiều hình thức, các tổ chức đào tạo này đang cạnh tranh với nhau và với hệ
thống đại học công lập trong việc thu hút khách hàng sinh viên sử dụng dòch vụ
đào tạo đại học; thêm nữa là sắp tới đây khi Việt Nam đã chính thức gia nhập
WTO, lúc đó nhiều nước sẽ có quyền tham gia đào tạo đại học tại Việt Nam với
hình thức 100% vốn nước ngoài thì Giáo dục đại học tại Việt Nam sẽ mở ra một
thò trường cạnh tranh thực sự. Tình hình chung đó đã đặt tất cả các trường đại
học công lập của Việt Nam vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong hiện tại và sẽ
trở nên ngày càng khốc liệt trong tương lai rất gần mà nếu không nhanh chóng
có kế hoạch ứng phó thì nguy cơ thất bại ngay trên sân nhà là không thể tránh
khỏi.
Để nâng cao thế và lực cạnh tranh nhằm giành chiến thắng, một trong
những biện pháp cần thiết là các trường đại học công lập trong nước cần lắng
nghe tiếng nói của sinh viên, khảo sát sự cảm nhận của sinh viên về dòch vụ đào
tạo cũng được xem là khách hàng, do đó những nghiên cứu nhắm vào việc nâng
cao giá trò cảm nhận của khách hàng hay nhắm đến mục tiêu hoàn thiện đối đa
dòch vụ vì khách hàng được tiến hành trong lónh vực này là cần thiết là hợp lý.
Nhất là trong khung cảnh cạnh tranh trong đào tạo đại học vừa mô tả ở trên.
3
Từ đó mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm nhận đònh những khía cạnh
mà sinh viên đại học công lập sử dụng khi họ đánh giá giá trò dòch vụ đào tạo
nhận được từ tổ chức cung cấp dòch vụ, ngoài việc nhận diện các khía cạnh
chung của giá trò cảm nhận, cuộc ngiên cứu còn điều tra tính tình huống của giá
trò cảm nhận qua việc khảo sát những sự khác biệt trong lối đánh giá của sinh
viên khác nhau về ngành học và thời gian vào trường về giá trò dòch vụ; sau đó
nghiên cứu còn nhằm xác đònh tầm quan trọng tương đối giữa giá trò cảm nhận và
sự hài lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy đối với sự đánh giá toàn diện
của họ về dòch vụ đào tạo của tổ chức. Từ đó đưa ra những gợi ý về cách thiết kế
các chiến lược củng cố giá trò cảm nhận cho sinh viên.
Một khi sinh viên đã được xác đònh là khách hàng của quá trình cung cấp
dòch vụ đào tạo trong môi trường đạo học thì các khảo sát về chất lượng hay giá
trò của loại hình dòch vụ này đều cần đứng vào vò trí của sinh viên để chọn được
góc nhìn chính xác, để bảo đảm cho các kết quả đánh giá là có tính thiết thực và
có giá trò sử dụng cao. Do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện vì đây là đề
tài nghiên cứu cá nhân nên mục tiêu khảo sát giá trò cảm nhận về dòch vụ đào
tạo của sinh viên các đại học công lập được tác giả Luận văn khoanh vùng thực
hiện tại Khoa Kinh tế của trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang là nơi tác giả
đang công tác. Các kết quả nghiên cứu phát hiện được trên sinh viên Khoa Kinh
tế sẽ là cơ sở ban đầu để tác giả có những nhận đònh về cách thức sinh viên các
đại học công lập cảm nhận về giá trò dòch vụ nhà trường đang cung cấp cho họ,
từ đó hình thành thang đo giá trò cảm nhận sử dụng cho những nghiên cứu mở
Cuối cùng là các kết luận chung của nghiên cứu.
5
Đề tài nghiên cứu đã đạt được những mục đích sau: xác đònh rằng giá trò
chức năng liên quan đến tính thiết thực của bằng cấp ĐH, giá trò chức năng thể
hiện qua đánh giá của sinh viên về mối quan hệ học phí – chất lượng, giá trò xã
hội, giá trò cảm xúc, giá trò hình ảnh và giá trò hiểu biết là những chỉ dẫn quan
trọng về giá trò cảm nhận của sinh viên đại học công lập; bên cạnh đó sự đánh giá
toàn diện của họ về dòch vụ đào tạo của tổ chức chòu tác động quan trọng của sự
hài lòng về chất lượng giảng dạy mà tổ chức cung cấp; ngoài ra các phán xét về
giá trò được chứng minh là có tính tình huống theo ngành học và thời gian học tập;
và sự đánh giá cao hay thấp của sinh viên về dòch vụ đào tạo của tổ chức có liên
quan với việc họ có tiếp tục sử dụng lại dòch vụ đào tạo đó để hoàn thành các bậc
học cao hơn.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Giá trò cảm nhận
Từ thập kỷ cuối của thế kỷ 20 khái niệm “giá trò cảm nhận” đã được giới
nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến, nó nổi lên như một bộ phận cấu trúc
đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn của nhiều tổ chức. Tầm quan trọng
của giá trò cảm nhận về dòch vụ thể hiện ở chỗ nó được xem như một hình thức
chính của sự đánh giá của khách hàng về dòch vụ, và mặc dù được giới nghiên
Tuy nhiên, cho đến nay để tìm kiếm một đònh nghóa chính xác về giá trò
vẫn là một việc rất khó khăn đối với các nhà nghiên cứu vì giá trò được xem như
là kết quả cơ bản của quá trình tiêu dùng dòch vụ và cấu trúc của giá trò cảm
nhận của khách hàng có thể thay đổi theo bối cảnh thực tế được quan sát trong
cuộc nghiên cứu. Trong các nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu Doyle
(1984); Hauser và Urban (1986) đã mô tả sự đánh giá của khách hàng về giá trò
như là một hàm số của các chi phí tiền bạc và chi phí phi tiền bạc (chi phí phi
tiền bạc chẳng hạn như những hao phí về công sức và thời gian liên quan tới
việc sử dụng dòch vụ đánh đổi với các lợi ích nhận lại được). Trong bối cảnh mà
nghiên cứu của họ mô tả thì giá trò vừa có tính tình huống vừa có tính cá nhân vì
mỗi cá nhân có thể có những chấp nhận khác nhau về sự đánh đổi và tuỳ theo
những tình huống khác nhau của quá trình tiêu dùng dòch vụ mà giá trò có thể
được đònh nghóa khác nhau.
Quan điểm trên cũng được Kotler và Dubois chia sẻ trong nghiên cứu của
họ năm 1993, Kotler và Dubois đã đề ra một khuôn khổ khái niệm cơ bản để
8
nhận diện một vài yếu tố xác đònh có thể có của giá trò dòch vụ chẳng hạn như
chi phí tiền bạc, những yêu cầu đối với dòch vụ, yêu cầu đối với hình ảnh của tổ
chức, và những nỗ lực về tinh thần và thể chất của khách hàng nhằm có được
dòch vụ.
Nếu tìm kiếm rộng hơn những nghiên cứu đã có, có thể thấy rằng nhiều
nhà nghiên cứu lại đònh nghóa bộ phận giá trò khách hàng dưới dạng mối quan
tâm của khách hàng về chất lượng họ nhận được so với cái giá họ đã trả cho sản
phẩm hay dòch vụ. Ví dụ nghiên cứu của Babin cùng các đồng sự của ông năm
1994 về giá trò của thú vui đi mua sắm lập luận rằng: giá trò đại diện cho sự đánh
đổi giữa chi phí với lợi ích và nó phát sinh từ cả hai yếu tố chất lượng và giá cả
dòch vụ. Rust và Oliver chỉ ra trong nghiên cứu của họ về giá trò dòch vụ năm
ích gắn kết với việc sở hữu được sản phẩm - dòch vụ được khách hàng đánh giá
trên một chuỗi những thuộc tính nổi bật như giá cả, sự đáng tin cậy, tính lâu bền.
Điều đáng chú ý là trong nhiều nghiên cứu khác, những vấn đề này được nhận
diện như những nhân tố xác đònh chất lượng.
- Giá trò xã hội liên quan đến những lợi ích nhận được từ sự gắn kết của
khách hàng với những nhóm xã hội cụ thể như bạn bè và những nhóm có liên
quan, Sheth đánh giá rằng giá trò xã hội đóng một vai trò quan trọng trong sự
đánh giá của khách hàng về sản phẩm - dòch vụ.
- Giá trò cảm xúc được Sheth mô tả như khả năng của sản phẩm, dòch vụ
gợi lên những cảm xúc hoặc trạng thái tình cảm và nó được đo lường theo một
ấn tượng chung về cảm xúc của khách hàng đối với đối tượng.
10
- Giá trò về hiểu biết được đònh nghóa trong nghiên cứu của Sheth và các
đồng sự của ông như khả năng của sản phẩm – dòch vụ cung cấp sự mới lạ hoặc
sự thoả mãn về hiểu biết. Giá trò về hiểu biết được xem xét như một chức năng
cơ bản của giá trò và có thể ảnh hưởng đến dự đònh hành vi và điều chỉnh hành vi
của khách hàng.
- Cuối cùng, giá trò điều kiện được mô tả như một tập những tình huống
mà khách hàng đối mặt khi lựa chọn sản phẩm – dòch vụ theo nghóa: là những
biến hoàn cảnh được xem như có tác động vào sự đánh giá của khách hàng về
lợi ích của sản phẩm – dòch vụ
1.2 Giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo
1.2.1 Mô hình giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo đã hình thành qua các
nghiên cứu của nước ngoài
Tìm kiếm sâu hơn các nghiên cứu thực tế về giá trò cảm nhận đã được
thực hiện trong lónh vực đào tạo Đại học (ĐH) của các nhà nghiên cứu thế giới
nhằm vào mục đích khảo sát khái niệm giá trò dòch vụ đào tạo theo đánh giá của
- Yếu tố 5 cũng được xác đònh là “giá trò chức năng” nhưng dưới dạng mối
quan hệ học phí-chất lượng bao gồm những mục hỏi liên quan đến những thứ
sinh viên tin rằng họ đang đạt được so với những cái họ bỏ ra; nó liên quan đến
lý thuyết con người kinh tế và liên quan đến mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và
chất lượng khi họ xem xét giá trò
- Yếu tố 6 là “giá trò xã hội” cấu thành từ những lợi ích mà sinh viên nhận
được từ việc có bạn bè trong lớp cũng như trong các nhóm và các hoạt động XH
làm tăng thêm giá trò cho những kinh nghiệm học tập của họ.
12
Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng giá trò chức năng dưới dạng nhận thức
của sinh viên về mối liên hệ giữa học phí và chất lượng; các kiến thức đạt được;
giá trò chức năng thể hiện qua tính thiết thực kinh tế (trong việc tìm kiếm việc
làm và đạt được mục tiêu nghề nghiệp) của bằng cấp; hình ảnh của trường; cũng
như giá trò xã hội và giá trò cảm xúc là những chỉ dẫn quan trọng về giá trò cảm
nhận trong đào tạo ĐH. Như vậy cuộc nghiên cứu của Nha Nguyên và Gaston
LeBlanc đặt nền tảng trên mô hình 5 yếu tố giá trò của Sheth đã hình thành một
mô hình lý thuyết mới có thể sử dụng cho việc khảo sát giá trò cảm nhận trong lónh
vực cung cấp dòch vụ giáo dục ĐH cho sinh viên ngành Kinh tế với 6 khía cạnh cơ
bản, trong đó có một khía cạnh được khám phá thêm so với mô hình của Sheth là
giá trò hình ảnh của tổ chức do lónh vực đào tạo ĐH có đặc thù là phần lớn các
khách hàng (tức là sinh viên) sử dụng dòch vụ này mong muốn tích luỹ khả năng
trở thành một người làm thuê thành công, do đó hình ảnh của tổ chức cung cấp
dòch vụ tác động không nhỏ đến sự khởi đầu của họ.
Tuy nhiên báo cáo của nghiên cứu cho thấy rằng kết quả nghiên cứu không
nhận diện được bộ phận giá trò điều kiện trong tình huống khảo sát giá trò cảm
nhận về dòch vụ đào tạo ĐH; và giá trò chức năng theo lý thuyết của Sheth thì
được tách thành hai bộ phận riêng biệt là giá trò chức năng thoả mãn ước muốn và
học của Tiến só Hoàng Thò Phương Thảo và Thạïc só Hoàng Trọng hiện đang
được thực hiện tại trường ĐH Kinh tế. Đề tài nghiên cứu Khoa học này cũng áp
dụng bộ thang đo của Nha Nguyên và Gaston LeBlanc tuy nhiên điểm khác biệt
với nghiên cứu tại ĐH Thủy sản Nha Trang là ở chỗ hai nhà nghiên cứu của ĐH
Kinh tế vận dụng triệt để bộ thang đo đó, ngoài ra nghiên cứu của họ còn mở
rộng đến cả việc khảo sát chất lượng dòch vụ đào tạo theo cảm nhận của sinh
14
viên, sau đó họ sử dụng mô hình SEM để đo lường xem giá trò cảm nhận về dòch
vụ đào tạo hay chất lượng cảm nhận tác động mạnh hơn đến sự hài lòng của sinh
viên. Đề tài này vẫn trong quá trình thực hiện chứ chưa nghiệm thu nên tác giả
không có điều kiện tham khảo để phát triển thêm nghiên cứu của mình, tuy
nhiên vận dụng những kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập và thừa
kế các nghiên cứu của thế giới, tác giả Luận văn vẫn mạnh dạn thực hiện trên
cơ sở có những điều chỉnh phù hợp với thực tế về khả năng tư duy và quan điểm
của sinh viên Việt Nam. Tác giả cố gắng để nhận diện các thành phần tham gia
vào quá trình sinh viên thực hiện xét đoán giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo
và phát triển sâu hơn một số hiểu biết khác như khác biệt giữa khóa học, ngành
học đến sự xét đoán giá trò. Quan hệ giữa sự hài lòng đối với chất lượng hoạt
động giảng dạy và cảm nhận về giá trò dòch vụ đến đánh giá toàn diện về dòch
vụ đào tạo. Tìm kiến mối liên hệ giữa sự đánh giá toàn diện của sinh viên đối với
dòch vụ đào tạo và dự đònh học tập tiếp của họ tại Khoa Kinh tế ở bậc học sau đại
học. Từ các kết luận rút ra, tác giả đề xuất những kiến nghò về các biện pháp cải
cách đem lại cho sinh viên nhiều giá trò hơn.
1.3 Thực trạng của Giáo dục ĐH Việt Nam
1.3.1 Giáo dục ĐH Việt Nam hiện nay
Nền giáo dục Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đã có những
đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước, từ hơn 95%
việc và khả năng tìm việc làm sau khi ra trường, quá nặng về lý thuyết mà nhẹ
về thực hành, thực tiễn. Do vậy sinh viên học tập vất vả, chòu nhiều áp lực mà
16
sau khi tốt nghiệp lại khó tìm việc làm và khó thích nghi với thực tế, không làm
được việc.
- Phương pháp giảng dạy theo lối truyền thụ một chiều thụ động Thầy
nói- trò ghi (mà kiến thức của thầy cũng thường là kiến thức sách vở, thiếu kinh
ngiệm thực tế do thầy ít có điều kiện thực hiện nghiên cứu khoa học), hầu như
không sử dụng phương tiện tin học hỗ trợ giảng dạy. Cách dạy áp đặt ấy cùng
với khối lượng kiến thức bò nhồi nhét làm cho sinh viên không được phát huy
tính độc lập trong suy nghó, thiếu khả năng sáng tạo, thiếu sự say mê tìm tòi
khám phá trong học tập mà chỉ học để đối phó.
- Nền giáo dục ĐH của ta kém tính liên thông ngay trong nước chứ chưa
kể ngoài nước, nên mọi người không được tạo điều kiện để vừa học vừa làm hay
làm rồi lại học nên không đáp ứng được nhu cầu muốn học tập suốt đời để thích
ứng với môi trường sống luôn biến động.
- Tình hình giáo dục ĐH hiện nay còn gây nhiều suy ngẫm làm xuất hiện yêu
cầu muốn chấn hưng nền giáo dục là do khoảng từ năm 1985 Bộ Giáo dục và Đào
tạo bắt đầu tăng quy mô đào tạo đại học, đa dạng hoá các loại hình đào tạo để đáp
ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân. Các trường đại học đều tăng chỉ
tiêu tuyển sinh, mở thêm các lớp đào tạo không chính quy; các trường đại học bán
công, dân lập, tư thục lần lượt ra đời. Nhưng chúng ta đã không chuẩn bò tốt cho việc
phát triển quy mô đào tạo ấy, số lượng sinh viên tăng lên nhiều lần trong khi đội
ngũ giảng viên, thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất kỹ thuật không được tăng
cường phù hợp nên chất lượng đào tạo đại học đã bò ảnh hưởng đáng kể .
- Bên cạnh đó là những hiện tượng như chương trình học quá tải, tổ chức
thi cử không hợp lý, tiêu cực trong thi tuyển sinh đại học, tình trạng mua bán
18
mạnh và đủ các thiết bò hỗ trợ tiên tiến, nằm liền kề hệ thống văn phòng của các
Bộï môn và các tổ chức đoàn thể của Khoa, cách không xa khu giảng đường
chính. Lực lượng giảng viên trẻ được bổ sung từ nhiều nguồn tạo sự mở mang và
giao thoa tri thức. Trình độ của giảng viên không ngừng được củng cố qua các
lớp đào tạo ngắn ngày và các lớp học sau đại học trong cũng như ngoài nước.
Năm 2004 Khoa mở thêm cấp đào tạo sau đại học chuyên ngành Kinh tế thuỷ
sản, hiện nay đang đào tạo khoá thứ 2.
Tuy nhiên do quy mô đào tạo khá lớn với nhiều hệ lại phân tán tại nhiều
đòa phương trên toàn quốc, do nguồn lực chưa đủ mạnh nên sự thiếu hụt và
không bảo đảm chất lượng phục vụ hoàn hảo là khó tránh được. Thực tế này đã
làm giảm sút sự hài lòng trong sinh viên, tạo ra những phàn nàn dù Khoa đã
luôn cố gắng hết mình. Cùng với những khó khăn do điều kiện đòa lý bất lợi gây
ra, do thâm niên đào tạo còn ngắn ngủi và hình ảnh chưa đậm nét, Khoa Kinh tế
thực sự đang đứng trước những thách thức lớn trong cuộc cạnh tranh giáo dục ĐH
ngày càng gay gắt.
Tóm lại, hiện trạng của Khoa Kinh tế – ĐH Thuỷ sản cũng nằm trong bối
cảnh chung của hệ thống ĐH công lập của Việt Nam với hàng loạt khó khăn
phải đối mặt trong tiến trình hội nhập, cộng với hàng loạt hạn chế đã hình thành
qua quá trình phát triển, tất cả đều đòi hỏi cần có những đổi thay tích cực và cơ
bản. Tuy nhiên nên bắt đầu từ đâu? Từ tư duy, quy mô đào tạo hay chương trình,
đội ngũ giảng viên…? Trong khi một láng giềng gần gũi của chúng ta là đảo quốc
Singapore đang trên đường xây dựng thành một trung tâm đào tạo chất lượng
cao của toàn khu vực mà chúng ta vẫn còn đang loay hoay tìm vò trí để đặt đòn
bẩy cho nền giáo dục ĐH của chúng ta không chừng sẽ quá trễ. Tác giả không
lạm bàn thêm về quan điểm mà chỉ nghó rằng trong khi chờ đợi các nhà hoạch
cấu trúc giá trò cảm nhận của sinh viên Việt Nam đối với dòch vụ đào tạo đại học
cụ thể hoá trong khung cảnh của khoa Kinh tế - ĐH Thủy sản tuy có 6 bộ phận
tương đồng với mô hình giá trò cảm nhận của sinh viên ĐH nước ngoài nhưng
vẫn sẽ có nét khác biệt do đặc điểm riêng của đối tượng:
- Thứ nhất, quan điểm trọng bằng cấp bắt rễ lâu đời trong nhận thức của xã
hội Việt Nam cùng với việc đánh giá cao tuyệt đối giá trò của tấm bằng ĐH như
một tấm giấy thông hành để bước vào đời mặc dù hiện vẫn gây nhiều tranh cãi
chưa đến hồi phân đúng sai nhưng sự tồn tại không thể phủ nhận của nó có khả
năng sẽ làm cho một số thành phần giá trò sinh viên nhận được trong quá trình học
tập ĐH sẽ có nét đặc biệt hơn sinh viên Canada như một đặc thù cho khung cảnh
nghiên cứu giá trò dòch vụ trong đào tạo đại học tại một trường ĐH của Việt Nam.
Từ nhận đònh này, tác giả quyết đònh hiệu chỉnh bộ thang đo của Nha
Nguyên và Gaston LeBlanc theo hướng nhấn mạnh hơn đến giá trò cảm xúc khi
xây dựng thêm mục hỏi thể hiện trạng thái tự tin khi được bước chân vào đời qua
con đường ĐH
21
- Thứ hai, tác giả còn muốn phát triển thêm việc đo lường cả mức độ hài
lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy của Khoa (chất lượng giảng dạy
cũng là một khái niệm có độ biến động rộng nhưng được cho rằng có liên quan
trực tiếp tới cơ sở hạ tầng phục vụ học tậïp, chất lượng giảng viên, phương pháp
dạy học…), với chủ ý xác đònh xem giữa các yếu tố cấu thành nên giá trò cảm
nhận về dòch vụ đào tạo và sự hài lòng về chất lượng giảng dạy thì thành phần
nào đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình đònh hình sự đánh giá toàn diện
của sinh viên về dòch vụ đào tạo mà tổ chức đang cung cấp. Ý đònh này xuất
phát từ thực tế khi tác giả phỏng vấn sâu 15 em sinh viên của Khoa Kinh tế ở cả
hai giới tính được chọn ngẫu nhiên từ 4 chuyên ngành của 3 khóa học, tất cả các
em đều thể hiện quan điểm rằng "Nói gì thì nói, đối với sinh viên, chất lượng
23
Còn sự đánh giá toàn diện của sinh viên về dòch vụ đào tạo không chỉ do
giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo chi phối mà còn chòu tác động của mức độ
sinh viên hài lòng về chất lượng giảng dạy họ nhận từ tổ chức.
Tác giả sẽ dùng phương pháp phân tích nhân tố để trích rút ra các bộ phận
giá trò cơ bản (trong phân tích nhân tố người ta gọi là các bộ phận là nhân tố) ẩn
dưới những dữ liệu được thu thập từ sinh viên khoa Kinh tế qua bản câu hỏi, sau
đó dùng hệ số Cronbach Alpha kiểm tra lại từng nhân tố một xem dữ liệu thu
thập từ sinh viên khoa Kinh tế ĐH Thuỷ sản có ủng hộ cho giả thuyết về 6 bộ
phận cấu thành giá trò cảm nhận mà tác giả đặt ra hay không.
Phương pháp phân tích nhân tố kết hợp với hệ số Cronbach Alpha nói trên
cũng đồng thời kiểm tra độ tin cậy và độ giá trò cho thang đo giá trò cảm nhận
mà tác giả thiết kế cho nghiên cứu cuả mình. Cụ thể là nếu toàn bộ các bộ phận
giá trò được rút trích giải thích được khoảng trên 50% biến động thực tế của giá
trò cảm nhận trong sinh viên thì thang đo xem như có một độ giá trò dùng được;
và hệ số Cronbach Alpha từ 0,7 trở lên thể hiện một độ tin cậy đáng kể của
thang đo. Vấn đề này sẽ được bàn luận cụ thể hơn ở phần Phân tích dữ liệu.
Sau đó phương pháp hồi quy tuyến tính bội được dùng đến với biến phụ
thuộc là điểm đánh giá toàn diện về dòch vụ đào tạo mà sinh viên cho Khoa
Kinh tế trên thang điểm 5; các biến giải thích có tiềm năng là các nhân số đại
diện cho các bộ phận cấu thành giá trò mà phân tích nhân tố đã tính ra và biến
đánh giá về mức độ hài lòng đối với chất lượng đào tạo của Khoa. Kết quả của
hồi quy bội sẽ giúp tác giả củng cố hay bác bỏ giả thuyết đã phát triển thêm về
việc có sự tác động của cả mức độ hài lòng về chất lượng giảng dạy và giá trò
dòch vụ theo cảm nhận đến sự đánh giá toàn diện về dòch vụ đào tạo của tổ chức
cung cấp dòch vụ.
24