BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------- o0o ----------
ĐỖ NAM
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
.
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------- o0o ----------
ĐỖ NAM
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng.
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đức Thanh
4.4 Kiểm định nhân quả Granger ............................................................................26
5. KẾT LUẬN ...........................................................................................................28
5.1 Tổng kết kết quả thực nghiệm ...........................................................................28
ii
5.2 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.............................................28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................30
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC BẢNG
- Bảng 4.1 Tóm tắt kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (chuỗi gốc)............................. 21
- Bảng 4.2 Tóm tắt kết quả kiểm định nghiệm đơn vị (chuỗi sai phân bậc 1) ............ 22
- Bảng 4.3. Tóm tắt kết quả kiểm định đồng liên kết................................................. 23
- Bảng 4.4 Vector đồng liên kết ................................................................................ 24
- Bảng 4.5 Tóm tắt kết quả của VECM..................................................................... 26
- Bảng 4.6 Nhân quả Granger .................................................................................. 27
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB : Ngân hàng Phát triển châu Á
ADF : Tiêu chuẩn Augmented Dickey- Fuller
AIC
trong nước. Những phát hiện chính của đề tài này cho thấy rằng sự gia tăng đầu tư
trực tiếp nước ngoài đã đưa ra một tác động tốt về tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Cụ
thể, đầu tư trực tiếp nước ngoài gia tăng 1% tạo ra tổng sản phẩm quốc nội của Việt
Nam gia tăng lên 12,196%. Bằng cách sử dụng mối quan hệ nhân quả Granger, đề tài
này đã tìm thấy rằng có nhân quả Granger từ FDI đến GDP và ngược lại.
2
1. GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình tăng trưởng là một đề tài thảo
luận nóng bỏng ở một số nước trong đó có Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là
một thành phần quan trọng trong những nỗ lực toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới.
Sự tăng trưởng của sản xuất quốc tế được thúc đẩy bởi các tác động kinh tế và công
nghệ. Nó cũng thúc đẩy tự do hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài và các chính sách thương
mại. Một trong những đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự lưu thông của dòng
vốn tư nhân trong các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát
triển.
Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1997, mối quan hệ giữa
đầu tư trực tiếp nước ngoài, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã có được tầm quan
trọng và sự chú ý giữa các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. Khái
niệm “đầu tư dẫn dẫn dắt phát triển kinh tế” đã thúc đẩy ý tưởng rằng vị thế dòng đầu
tư trực tiếp nước ngoài chảy vào và chảy ra của một quốc gia được kết nối với phát
triển kinh tế của chính quốc gia đó liên quan với phần còn lại của thế giới.
Mặc dù các mô hình đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thay đổi chút ít theo thời
gian, đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là một công cụ quan trọng để tạo ra tăng trưởng
kinh tế (GDP) trong hầu hết các nước. Năm 2002, Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế
(OECD) báo cáo rằng các nước có nền kinh tế kém hơn, thường hay xem đầu tư trực
tiếp nước ngoài là nguồn duy nhất của sự phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế. Như
4
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và
tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1987, khi nền kinh tế trong
giai đoạn bắt đầu mở cửa cho đến hết năm 2011.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích kinh tế lượng: sử dụng kỹ thuật hồi quy đồng liên kết
để phân tích cân bằng dài hạn và mô hình VECM để phân tích cân bằng ngắn hạn của
FDI và GDP và đồng thời sử dụng kiểm định nhân quả Granger để kiểm định tính hai
chiều giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại.
1.6 Dữ liệu nghiên cứu
Trong đề tài, tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ Ngân hàng Thế giới (WB),
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) công bố trong khoảng thời gian từ 1987 đến 2011.
1.7 Nội dung chính và kết cấu đề tài
Ngoài phần mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, tóm tắt, danh
mục các tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài được chia làm 5 phần:
Phần 1: Giới thiệu
Phần này được trình bày nhằm giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng,
phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài cũng như giới thiệu nội dung chính và
kết cấu của đề tài.
Phần 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây.
Giới thiệu các kết quả nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước
về mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Từ đó, đưa ra
câu hỏi nghiên cứu là liệu có mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1987-2011 hay không?
2. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Mối quan hệ có ý nghĩa giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) đã được chứng minh ở nhiều nước.
Trong các lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế được giải thích thông qua các ngoại tác kiến thức và sự tồn tại của nguồn nhân lực ở
các nước sở tại đang phát triển. Để giải thích vai trò của FDI trong sự phát triển lâu dài
của nước sở tại, Lucas (1988, 1990), Romer (1986, 1987) và Mankiw (1992) sửa đổi
mô hình tăng trưởng tân cổ điển, đặc biệt là các mô hình tăng trưởng Solow, bằng cách
bao gồm các yếu tố điều khiển tăng trưởng của nguồn nhân lực cũng như vốn vật chất
để giải thích sự hiện diện của vốn đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển.
Balasubramanyam et al. (1996) chỉ ra rằng nhiều yếu tố điều khiển tăng trưởng được
xác định bởi các lý thuyết tăng trưởng mới có thể được bắt đầu và nuôi dưỡng để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua FDI. Trong bài nghiên cứu của họ, cho thấy rằng
FDI là một công cụ chính để thúc đẩy tăng trưởng thông qua học tập bằng cách thực
hiện và lan truyền kiến thức. Blomstrom và Kokko (1998) lập luận rằng các công ty
đa quốc gia (MNCs) đưa công nghệ hiện đại vào nước sở tại để cho phép họ cạnh tranh
thành công với các các công ty đa quốc gia khác và doanh nghiệp bản địa. Điều này
buộc doanh nghiệp trong nước phải tìm kiếm cũng như làm theo các công nghệ mới và
công nghệ có hiệu quả hơn. Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy
nguồn nhân lực ở các nước sở tại đang phát triển được hiểu rõ hơn trong lý thuyết tăng
trưởng nội sinh. Theo lý thuyết này, FDI góp phần đáng kể vào nguồn nhân lực như kỹ
năng quản lý và nghiên cứu và phát triển (R & D). Các công ty đa quốc gia có thể có
một tác động tích cực đến nguồn nhân lực ở các nước sở tại thông qua các khóa học
đào tạo mà họ cung cấp cho người lao động địa phương của công ty con của họ. Các
khóa đào tạo ảnh hưởng đến hầu hết các cấp độ nhân viên từ những người có kỹ năng
7
8
Bằng cách sử dụng các dữ liệu bảng cho 18 quốc gia ở châu Mỹ Latinh trong giai đoạn
1970-1999, Bengoa và Sancher-Robles (2003) chỉ ra rằng tác động của FDI vào tăng
trưởng kinh tế là tích cực chỉ khi nước sở tại đã có đủ nguồn nhân lực, ổn định kinh tế,
và tự do hóa thị trường. Tương tự như vậy, bằng cách sử dụng một mẫu của 84 quốc
gia, Wang và Wong (2004) chỉ ra rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chỉ khi nước
sở tại có một mức đầy đủ nguồn nhân lực. Bằng cách sử dụng dữ liệu từ 12 nền kinh tế
châu Á trong giai đoạn 1987-1997, Wang (2003) thấy rằng FDI trong lĩnh vực sản xuất
đã có một tác động đáng kể và tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế sở tại.
Tuy nhiên, dòng vốn FDI trong lĩnh vực phi sản xuất đã không đóng một vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Alfaro et al. (2002), bằng cách sử dụng
bảng dữ liệu chéo cho giai đoạn 1975-1995, cho thấy FDI đóng một vai trò quan trọng
trong việc góp phần tăng trưởng kinh tế, và rằng các quốc gia có thị trường tài chính
phát triển tốt có sự tăng tích cực từ FDI, đồng thời cho thấy rằng các nước có hệ thống
tài chính tốt hơn có thể khai thác FDI hiệu quả hơn. Kết quả là, đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể đóng góp nhiều hơn để tăng trưởng kinh tế ở các nước này. Phát hiện này
được hỗ trợ bởi Hermes và Lensink (2003) bằng cách sử dụng một dữ liệu bảng của
67 nước đang phát triển cho giai đoạn 1970-1995, và Aghion et al. (2006) đã sử dụng
một mẫu của 118 quốc gia trong giai đoạn từ 1960 đến 2000.
Abdus Samad (2008) nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài
và tăng trưởng kinh tế, bao gồm 19 quốc gia đang phát triển của Đông Nam Á và Châu
Mỹ Latinh. Trong kết quả của ông, Châu Mỹ Latinh đã có một mối quan hệ lâu dài
giữa tổng sản phẩm trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Năm nước ở châu Mỹ
Latinh mà có mối quan hệ này như Argentina, Brazil, Chile, Guatemala, và ElSalvador và một quốc gia là Sri Lanka cũng cho thấy mối quan hệ tương tự. Bên cạnh
đó, có mối quan hệ hai mặt giữa tổng sản phẩm trong nước và đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở khu vực Đông và Đông Nam Á là Singapore, Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, và
Pakistan.
10
sử dụng dữ liệu bảng cho 23 nước đang phát triển cho giai đoạn 1978-1996, Basu et al.
(2003) đã chỉ ra mối liên hệ giữa GDP và đầu tư trực tiếp nước ngoài hai chiều. Tuy
nhiên, Ekanayake et al.(2003) sử dụng mô hình tự hồi quy VAR và kỹ thuật sai số
hiệu chỉnh để kiểm định sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ nhân quả giữa sản
lượng tăng trưởng, dòng vốn FDI và xuất khẩu, sử dụng dữ liệu chéo của cả nước phát
triển và đang phát triển trong giai đoạn năm 1960- 2001. Phát hiện của họ hỗ trợ mối
quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, nhưng
mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế đã có những kết quả khác nhau. Tsai
(1994) đã sử dụng một hệ phương trình đồng thời để kiểm tra mối liên hệ hai chiều
giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cho 62 quốc gia trong giai đoạn 1975-1978, và cho 51
quốc gia trong giai đoạn 1983-1986. Ông phát hiện thấy có mối liên hệ giữa hai chiều
tồn tại giữa FDI và tăng trưởng kinh tế trong những năm 1980. Bende-Nabende et al.
(2001) cũng đã nghiên cứu liệu FDI có gây ra sự tăng trưởng kinh tế của 5 nền kinh tế
ASEAN trong giai đoạn 1970-1996, và nếu đó là như vậy, dù vậy tăng trưởng kinh tế
cũng đã có một tác động đáng kể trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với khu
vực. Các kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
một cách hiệu quả nhất thông qua các yếu tố nguồn nhân lực, thông qua tác động học
tập, và lần lượt tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến FDI. Bằng cách sử dụng một dữ liệu
bảng không đầy đủ hàng năm cho 20 quốc gia ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê cho
giai đoạn 1990-2001, Saha (2005) ước lượng một hệ hai phương trình đồng thời để
kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, và thấy rằng FDI và kinh tế tăng
trưởng là yếu tố quyết định quan trọng của nhau trong các quốc gia này.
Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Pradeep Agrawal (2000) về tác động kinh
tế của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Á bằng cách thực hiện phân tích chuỗi thời
gian, phân tích chéo của bảng dữ liệu bao gồm năm quốc gia Nam Á: Ấn Độ, Pakistan,
Bangladesh, Sri Lanka và Nepal, rằng có tồn tại tác động bổ sung, tác động liên kết
giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư quốc gia. Hơn nữa, ông lập luận rằng, tác động của
12
2.2 Các nghiên cứu của tác giả người Việt Nam
Chỉ có một vài nghiên cứu cho thấy tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam trong những năm qua. Nhằm mục đích phân tích các tác động của FDI
đến sự giảm nghèo ở Việt Nam trong những năm 1990, Hoa và Hemmer (2002) đã
trình bày những tác động gián tiếp của dòng vốn FDI vào tăng trưởng kinh tế. Các hệ
số ước lượng của FDI có ý nghĩa dựa trên bảng dữ liệu tập hợp bao gồm 61 tỉnh thành
của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2000. Hơn nữa, FDI có tương tác tích cực với
nguồn nhân lực địa phương trong tác động đến tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh
tế sau đó đã được ước lượng để xem tác động tích cực có ý nghĩa về tầm quan trọng
của kết quả xóa đói giảm nghèo.
Đưa ra cùng một kết luận như nghiên cứu của Hoa và Hemmer (2002), Trần
Trọng Hưng (2005) đã sử dụng phương pháp bình phương thông thường nhỏ nhất
(OLS) để kiểm tra tác động của FDI vào tăng trưởng kinh tế cũng như các tác động của
FDI và tăng trưởng kinh tế đối với tỷ lệ nghèo đói của mỗi tỉnh được khảo sát. Các
nghiên cứu cho thấy rằng FDI có tác động gián tiếp đến xóa đói giảm nghèo thông qua
tăng trưởng kinh tế, trong đó cụ thể là trong việc cải thiện mức sống, tiến bộ công
nghệ, và tăng năng suất.
Nguyễn Phi Lân (2006) đã thử nghiệm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
FDI bằng phương pháp ước lượng GMM. Dựa trên dữ liệu bảng thiết lập cho 61 tỉnh
của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2003, nghiên cứu phản ánh rằng FDI có tác động
tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, xuất khẩu, tăng
trưởng của lao động, quá trình vừa học vừa làm và nguồn nhân lực cũng đã giúp tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Bài nghiên cứu của Vũ, Noy và Gangnes (2006) ước lượng tác động của FDI
đến tăng trưởng bằng cách sử dụng các dữ liệu ngành cho các FDI vào Trung Quốc và
Việt Nam. Kết quả đã chứng minh rằng FDI có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê
đến hoạt động tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp và thông qua hiệu suất lao động ở
trong giai đoạn từ năm 1987 – 2011. Đề tài này áp dụng phân tích thực nghiệm và chỉ
tập trung vào hai biến là đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Mô hình
được tác giả sử dụng tương tự như mô hình của Mohd Shahidan Bin Shaari, Thien Ho
Hong & Siti Norwahida Shukeri (2012) khi nghiên cứu sự tác động hai chiều giữa đầu
tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia. Tổng sản phẩm quốc nội
thực (GDP) được dùng để đại diện cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tất cả các dữ
liệu cần thiết cho hai biến được thu thập từ ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB). Tất cả các giá trị chuỗi dữ liệu đều được về dạng cơ số mũ tự
nhiên để giảm vấn đề của hiệp phương sai không đồng nhất đến mức tối đa có thể.
Sử dụng khoảng thời gian 1987 đến 2011 cho Việt Nam, đề tài này nhằm mục
đích để nghiên cứu các mối quan hệ lâu dài và quan hệ nhân quả năng động giữa mức
độ FDI chảy vào Việt Nam và tăng trưởng kinh tế. Các phương pháp ước lượng được
sử dụng trong nghiên cứu này là đồng liên kết và mô hình vector hiệu chỉnh sai số
VECM và kiểm định nhân quả Granger.
Toàn bộ quy trình ước lượng trong đề tài này bao gồm các bước sau: đầu tiên là
phương trình ước lượng được sử dụng cho đề tài này, thứ hai là kiểm định nghiệm đơn
vị, thứ ba là kiểm định đồng liên kết, thứ tư là ước lượng mô hình VECM và cuối cùng
là kiểm định nhân quả hai chiều Granger.
3.2 Phương trình ước lượng
GDP= f(FDI)
(3.1)
15
Trong đó:
+ GDP là tổng sản phẩm quốc nội.
+ FDI là đầu tư trực tiếp nước ngoài
Kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết, mô hình VECM và kiểm
rYt = δYt-1 + Ut (3.2)
- Phương trình ở mức chỉ có hằng số:
rYt = α + δYt-1 + Ut (3.3)
- Phương trình ở mức có hằng số và xu hướng:
rYt = α + βT + δYt-1 + Ut (3.4)
3.4 Kiểm định đồng liên kết
Kiểm định đồng liên kết được sử dụng trong đề tài này bởi vì nó xem xét mối
quan hệ dài hạn giữa hai biến (đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm quốc nội
thực tế).
Trong kiểm định đồng liên kết , hai phương pháp tiếp cận được sử dụng. Một
mô hình được phát triển bởi Engle và Granger (1987) và một mô hình khác của
Johansen (1988) và Johansen Jesulius (1990).
- Kiểm định Engle và Granger (1987)
Giả thuyết cho kiểm định này:
H0: δ = 0 (không dừng cho μ^t hoặc không đồng liên kết nếu tδ > τ)
H1: δ < 0 (dừng cho μ^t hoặc có đồng liên kết nếu tδ < τ)
Trong đó:
+ μ^ : là số hạng sai số
+ τ : là giá trị phê phán thống kê t
Quá trình kiểm định của Engle và Granger được sử dụng để xem xét tính dừng
của biến ở mức phần dư. Tuy nhiên kiểm định của Engle và Granger không giải quyết
được vấn đề nếu có nhiều biến là đồng liên kết trong khi chúng ta giả định rằng chỉ có
17
một vector là đồng liên kết.Vì vậy, kiểm định Johansen sẽ được sử dụng trong đề tài
này bởi vì nó giải quyết được vấn đề trên.
- Kiểm định Johansen (1988) và Johansen –Juselius (1990)
Phương pháp Johansen –Juselius có hai kiểm định tỷ số hợp lý là kiểm định giá
18
đồng liên kết và α thể hiện vector hệ số hiệu chỉnh sai số. Nó để đo lường tốc độ hội tụ
đến trạng thái ổn định dài hạn.
3.6 Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger
Sau khi áp dụng đồng liên kết, kiểm định nhân quả Granger được sử dụng trong
đề tài này. Điều này là để xác định mối quan hệ nhân quả giữa các biến với nhau. Nhân
quả Granger được dùng để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa FDI và GDP. Quy trình
Granger được lựa chọn bởi vì nó là cách kiểm định quan hệ nhân quả mạnh mẽ và đơn
giản (như theo Granger (1986)).
Mô hình ước lượng theo Granger (1986) :
GDPt = åi =1s i GDPt -1 + åi =1 b j FDI t - j + m1t
(3.8)
FDI t = åi =1 g iGDPt -1 + åi -1 d j FDI t - j + m 2 t
(3.9)
p
p
q
q
Trong đó:
Phương trình (3.8) : GDPt là biến phụ thuộc, FDIt là biến độc lập, μ1t là số hạn
và Johansen Jesulius (1990) để phân tích sự tác động dài hạn của FDI đến GDP; mô
hình hồi quy hai biến VECM để phân tích tác động ngắn hạn giữa hai biến. Cuối cùng,
sử dụng kiểm định nhân quả Granger rất nổi tiếng để kiểm định quan hệ nhân quả hai
chiều từ FDI đến GDP và ngược lại.