TỔNG QUAN VỀ DOANH THU VÀ CHI PHÍ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Lý luận chung về doanh thu và chi phí:
1.1.1 Lý luận chung về doanh thu:
1.1.1.1 Khái niệm doanh thu:
Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp muốn tạo ra lợi nhuận cao
buộc các doanh nghiệp không ngừng đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá. Qua tiêu thụ, sản phẩm được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình
thái vật chất và kết thúc một vòng luân chuyển vốn, tạo nên doanh thu của
doanh nghiệp. Có tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có vốn để tiến hành tái
sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Ngoài phần doanh thu do tiêu thụ những sản phẩm doanh nghiệp sản
xuất ra, còn bao gồm những khoản doanh thu do các hoạt động khác mang lại.
Vậy thực chất doanh thu là gì? Chúng ta có thể đưa ra khái niệm về
doanh thu như sau:
“Doanh thu là toàn bộ các khoản tiền thu được từ các hoạt động kinh
doanh và các hoạt động khác mang lại.”
Nguyên tắc chung tính doanh thu: chỉ tính khi người bán hàng thu được
tiền về trên tài khoản hoặc trong ngân quỹ của doanh nghịêp, nhưng ở Việt
Nam doanh thu được tính khi có lời hứa trả tiền. Điều này phụ thuộc vào đặc
tính sản xuất và tình hình sản xuất kinh doanh thực tế ở nước ta. Sở dĩ doanh
nghịêp Việt Nam được tính doanh thu theo nguyên tắc này là do 4 nguyên
nhân sau:
- Do doanh nghiệp mua hàng thiếu tiền mặt
- Do chưa tin vào hàng hoá mình mua
- Do muốn chiếm dụng tiền hàng hoá
- Do nhà sản xuất kinh doanh muốn bán hàng nhanh để thu hồi vốn
Thông thường doanh thu được tính theo phương pháp phân tích, theo
phương pháp này các doanh nghiệp phải phân tích các yếu tố tạo thành doanh
thu trước khi tính.
Ta có công thức xác định doanh thu như sau:
của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng, doanh nghiệp có thể đầu tư vào rất
nhiều lĩnh vực khác nhau. Do vậy, doanh thu mà mỗi doanh nghiệp thu được
cũng đa dạng theo các phương thức đầu tư của doanh nghiệp. Doanh thu của
doanh nghiệp bao gồm có 3 loại doanh thu: doanh thu hoạt động kinh doanh,
doanh thu hoạt động tài chính, doanh thu bất thường.
Doanh thu hoạt động kinh doanh là toàn bộ các khoản doanh thu về tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Đây là bộ phận chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số doanh thu của doanh nghiệp.
Theo sự phân công lao động xã hội, chức năng chủ yếu của doanh nghiệp
thương mại là mua bán, trao đổi hàng hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu
dùng. Vì vậy hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp thương mại là
luân chuyển hàng hoá. Do vậy, đối với doanh nghiệp thương mại, doanh thu
tiêu thụ sản phẩm là bộ phận doanh thu quan trọng nhất, nó biểu hiện bằng
tiền giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp đã thực hiện, đã
cung cấp cho thị trường trong một thời kì nhất định sau khi trừ đi các khoản
giảm trừ như: chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,
hoặc cộng thêm các phần trợ giá của Nhà nước. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm
là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về
công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh
doanh, trang trải số vốn đã ứng ra cho sản xuất kinh doanh, thanh toán tiền
lương, tiền thưởng, tiền công cho người lao động, trích bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn, thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước như
nộp các khoản thuế theo luật định.
Doanh thu về các hoạt động tài chính bao gồm: các khoản thu do hoạt
động tài chính hoặc kinh doanh về vốn mang lại như lãi liên doanh liên kết, lãi
tiền cho vay, nhượng bán ngoại tệ, mua bán chứng khoán, cho thuê hoạt động
tài sản, hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán.
Doanh thu hoạt động bất thường: là những khoản doanh thu không
mang tính chất thường xuyên, như doanh thu về thanh lý, nhượng bán tài sản cố
định, giá trị các vật tư, tài sản thừa trong sản xuất, các khoản nợ vắng chủ, hoặc
doanh nghiệp.
Như vậy nếu nhìn từ góc độ của doanh nghiệp thì ta có thể đưa ra định
nghĩa về chi phí như sau:
“Chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ tất cả các khoản chi phí cho hoạt
động kinh doanh, cho hoạt động khác, và các khoản thuế gián thu mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp trong một thời
kì nhất định.”
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải luôn quan
tâm đến việc quản lí chi phí, vì nếu quản lí chi phí không tốt, không hợp lí sẽ gây
ra những khó khăn trong công tác quản trị doanh nghiệp, làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp. Do đó các nhà quản trị doanh nghiệp cần chú ý công tác kiểm
soát hợp lí các nguồn chi phí và hạn chế đến mức tối đa lãng phí chi phí.
* Nội dung của chi phí
Trong hoạt động kinh doanh thương mại, nội dung chi phí gồm có chi
phí cho hoạt động kinh doanh và chi phí cho các hoạt động khác.
- Chi phí cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên
liệu, vật liệu doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động kinh doanh
+ Chi phí tiền lương: bao gồm toàn bộ tiền lương doanh nghiệp phải trả
cho người lao động tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Các khoản trích nộp theo quy định như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn được trích theo quỹ lương của doanh nghiệp.
+ Khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố
định trích theo quy định đối với toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp ở
trong kì
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là chi phí phải trả cho các cá nhân, tổ chức
ngoài doanh nghiệp về các dịch vụ được thực hiện theo yêu cầu của doanh
nghiệp.
+ Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí khác ngoài các chi phí trên
như thuế sử dụng đất, thuế môn bài…
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp lập được dự toán chi phí sản
xuất theo yếu tố, kiểm tra sự cân đối giữa kế hoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao
động tiền lương, kế hoạch khấu hao TSCĐ, kế hoạch nhu cầu vốn lưu động.
- Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí:
Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có cùng công dụng kinh tế
và địa điểm phát sinh sẽ được xếp vào cùng một loại, gọi là các khoản mục chi
phí. Các khoản mục chi phí đó bao gồm:
+ Chi phí vật liệu trực tiếp: chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ
sản xuất trực tiếp dùng vào quá trình chế tạo sản phẩm hàng hoá, dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: các khoản tiền lương, tiền công, các khoản
phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh
phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp.
+ Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân
xưởng, bộ phận kinh doanh như: tiền lương, phụ cấp lương của nhân viên phân
xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ở bộ phận phân xưởng, bộ phận sản xuất.
+ Chi phí bán hàng (CPBH): bao gồm chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ như chi phí tiền lương phải trả cho nhân viên
bán hàng, chi phí vận chuyển, bảo quản, tiếp thị, các chi phí bằng tiền khác…
+ Chi phí quản lí doanh nghiệp (CPQLDN): là các chi phí chi cho bộ máy
quản lí doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh
nghiệp như khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lí, chi phí công
cụ dụng cụ và các chi phí khác (tiền lương trả cho Ban giám đốc, Hội đồng
quản trị…)phát sinh ở phạm vi toàn doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ phí bảo
hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài, thuộc văn phòng doanh nghiệp…
Cách phân loại này có tác dụng giúp doanh nghiệp tập hợp chi phí và
tính giá thành cho từng loại sản phẩm, quản lí chi phí theo từng địa điểm phát
sinh, nhờ đó doanh nghiệp có thể kiểm soát được việc sử dụng chi phí, khai
thác được khả năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
- Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất
1.1.2.2 Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp:
* Khái niệm giá thành sản phẩm
Nghiên cứu chi phí sản xuất chưa cho ta biết lượng chi phí cần thiết cho
việc hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định. Hơn nữa
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khi quyết định lựa chọn phương án kinh
doanh một loại sản phẩm nào đó doanh nghiệp cần tính đến lượng chi phí bỏ
ra để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đó. Do vậy doanh nghiệp cần xác định chỉ
tiêu giá thành sản phẩm. Vậy giá thành sản phẩm là gì?
“Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ 1 đơn vị sản phẩm hay một loại
sản phẩm nhất định.”
Giá thành sản phẩm biểu hiện chi phí cá biệt của doanh nghiệp để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Qua nghiên cứu ta thấy rằng giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản
xuất có sự giống nhau và khác nhau. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
giống nhau đều là một khoản chi phí của doanh nghiệp, đều là một yếu tố đầu
vào tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên hai chỉ
tiêu này khác nhau về mặt nội dung, ý nghĩa và phương pháp tính toán.
Về mặt nội dung:
Giá thành sản phẩm biểu hiện lượng chi phí để hoàn thành việc sản xuất
và tiêu thụ 1 đơn vị hay một khối lượng sản phẩm nhất định. Còn chi phí sản
xuất biểu hiện toàn bộ những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm trong một thời kì nhất định.