Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM
------------------------

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN
DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM
------------------------

NGUYỄN THỊ MINH NGỌC

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN
DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013

4.1.2.Kiểm định độ trễ tối ưu .............................................................................32
4.1.3.Kiểm định tính ổn định mô hình ...............................................................34
4.2.Phân tích phản ứng xung .................................................................................34
4.3.Phân rã phương sai...........................................................................................39
4.4.Kiểm định robustness ......................................................................................42
5.Kết luận .................................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................49
PHỤ LỤC .................................................................................................................55


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADF

: Augmented Dickey – Fuller

AIC

: Akaike Information Criterion

CPI

: Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)

ERPT

: Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange Rate Pass Through)

GSO



OECD

: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic
Cooperation and Development)

OLS

: Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (Ordinary Least Squares)

PP

: Phillips – Perron

PPI

: Chỉ số giá sản xuất (Production Price Index)

REER

: Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực đa phương (Real Effective Exchange Rate)

SC

: Schowarz Information Criterion

SVAR

: Mô hình véc tơ tự hồi quy cấu trúc (Structural Vector Autoregressive
Model)

Bảng 4.4: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% thay đổi
trong phần dư phương trình hồi quy NEER ở giai đoạn trước (1/2001 – 10/2007) .34
Bảng 4.5: Kết quả hàm phản ứng xung của các chỉ số giá với cú sốc 1% thay đổi
trong phần dư phương trình hồi quy NEER ở giai đoạn sau (11/2007 – 12/2012)...35
Bảng 4.6: Tầm quan trọng của cú sốc tỷ giá hối đoái trong việc giải thích biến động
của chỉ số giá tiêu dùng – ở giai đoạn trước và giai đoạn sau ..................................42

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Các kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái............................................................5
Hình 3.1: Diễn biến lạm phát của Việt Nam từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2012....26
Hình 4.1: Kết quả kiểm định AR Roots ....................................................................34
Hình 4.2: Phản ứng của chỉ số giá nhập khẩu IMP với cú sốc 1% thay đổi trong
phần dư phương trình hồi quy NEER .......................................................................35
Hình 4.3: Phản ứng của chỉ số giá sản xuất PPI với cú sốc 1% thay đổi trong phần
dư phương trình hồi quy NEER ................................................................................37
Hình 4.4: Phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng CPI với cú sốc 1% thay đổi trong phần
dư phương trình hồi quy NEER ................................................................................37


Hình 4.5: Tổng hợp phản ứng của các chỉ số giá với cú sốc 1% thay đổi trong phần
dư phương trình hồi quy NEER ................................................................................38
Hình 4.6: Kết quả phân rã phương sai biến chỉ số giá tiêu dùng – giai đoạn trước
(1/2001 – 10/2007) ....................................................................................................40
Hình 4.7: Kết quả phân rã phương sai biến chỉ số giá tiêu dùng – giai đoạn sau
(11/2007 – 12/2012) ..................................................................................................40
Hình 4.8: Tổng hợp phản ứng của các chỉ số giá với cú sốc 1% thay đổi trong phần
dư phương trình hồi quy NEER – Thứ tự Cholesky thay thế 1 ................................43
Hình 4.9: Tổng hợp phản ứng của các chỉ số giá với cú sốc 1% thay đổi trong phần
dư phương trình hồi quy NEER – Thứ tự Cholesky thay thế 2 ................................44
Hình 4.10: Kết quả phân rã phương sai biến chỉ số giá tiêu dùng – giai đoạn trước

sốc tỷ giá hối đoái đối với giá cả trong nước, gọi chung là truyền dẫn tỷ giá hối
đoái. Cho đến nay, đã có một số lượng lớn các công trình lý thuyết cũng như thực
nghiệm về vấn đề này ở các quốc gia và các ngành công nghiệp khác nhau, với các
biến số và chuỗi thời gian khác nhau.
Trong số lượng lớn các công trình đó, nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ
giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và chính sách tiền tệ. Taylor (2000) nhận thấy những
thay đổi trong hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái có thể là do những thay đổi trong
chính sách tiền tệ. Cụ thể hơn, tác giả khẳng định một chính sách tiền tệ càng tập
trung vào ổn định lạm phát, với mức độ lạm phát thấp sẽ làm giảm đáng kể hiệu
ứng truyền dẫn tỷ giá. Lý thuyết này đã nhận được sự đồng tình của đông đảo các
nhà nghiên cứu sau này, như: Choudhri và Hakura (2001), Gagnon và Ihrig (2004),
Zorzi, Hahn và Sanchez (2007), Mishkin (2008), và gần đây nhất là Coulibaly và
Kempf (2010).
Tại Việt Nam, quá trình tự do hóa và hội nhập đa phương diễn ra mạnh mẽ trong
những năm gần đây. Bên cạnh những tác động tích cực như quy mô thương mại
tăng nhanh, đầu tư từ nước ngoài ngày càng nhiều,… thì tiến trình tự do hóa và hội
nhập đa phương cũng làm tăng tính bất ổn của nền kinh tế, lạm phát tăng cao. Từ đó
vấn đề về độ nhạy cảm của lạm phát trong nước đối với các cú sốc, trong đó có cú
sốc tỷ giá hối đoái ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính
sách và các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu về chủ đề này ở
Việt Nam vẫn còn ít, ví dụ như Võ Văn Minh (2009), Bạch Thị Phương Thảo
(2011), Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2012), Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn
Cường (2012), đặc biệt, vẫn chưa có nghiên cứu nào về mối quan hệ giữa hiệu ứng
truyền dẫn tỷ giá hối đoái và điều hành chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát ở Việt
Nam.


3

Luận văn này nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá

giá trị về khía cạnh này. Tiếp đến, trình bày những nghiên cứu về mối quan hệ giữa
ERPT và chính sách tiền tệ. Phần cuối là những bài nghiên cứu cùng chủ đề ở Việt
Nam thời gian gần đây.
2.1.Truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá cả trong nước
Có ít nhất hai kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá cả trong nước, đó là
kênh trực tiếp và kênh gián tiếp:
Kênh trực tiếp: Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái được truyền dẫn vào giá tiêu
dùng thông qua những thay đổi trong giá nhập khẩu của hàng hóa trung gian và
hàng hóa cuối cùng. Khi nội tệ giảm giá, giá của hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội
tệ sẽ tăng lên. Trong trường hợp hàng hóa trung gian được nhập khẩu, giá tăng sẽ
làm tăng chi phí sản xuất biên, từ đó dẫn đến giá cả hàng hóa tiêu dùng trong nước
tăng.
Kênh gián tiếp: sự giảm giá của đồng nội tệ ảnh hưởng đến xuất khẩu vì hàng hóa
trong nước sẽ trở nên rẻ hơn trên thị trường nước ngoài, làm tăng nhu cầu nước


5

ngoài đối với hàng hóa trong nước, dẫn đến áp lực làm tăng giá cả trong nước (hiện
tượng này gọi là sự thay thế bên ngoài). Sự giảm giá của đồng nội tệ làm giá nhập
khẩu của hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian tính bằng nội tệ tăng lên, làm
tăng nhu cầu của hàng hóa thay thế trong nước, gây ra áp lực tăng giá của hàng hóa
thay thế trong nước (hiện tượng này gọi là sự thay thế bên trong).
Hai kênh truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá cả trong nước được trình bày ở sơ
đồ sau đây:

Sụt giảm tỷ giá

Kênh gián tiếp


6

Các bài nghiên cứu, cả lý thuyết và thực nghiệm, về truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên
chỉ số giá cả được thực hiện cho nhiều quốc gia khác nhau, các ngành công nghiệp
khác nhau, dữ liệu khác nhau, mốc thời gian khác nhau, và cả những mô hình
nghiên cứu khác nhau. Nếu lấy yếu tố mô hình nghiên cứu làm tiêu chí để phân
chia, có thể thấy rõ hai xu hướng: gồm các bài nghiên cứu dùng mô hình hồi quy
đơn phương trình, và các bài nghiên cứu với mô hình hồi quy đa phương trình.
Hồi quy đơn phương trình
Từ năm 1989 đã có bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đơn phương trình
để giải thích phản ứng của chỉ số giá nội địa trước những thay đổi trong tỷ giá (của
Feenstra (1989)). Tiếp đó, năm 2001, Choudhri và Hakura tiếp tục nghiên cứu vấn
đề này. Hai tác giả thực hiện hồi quy bằng phương pháp ước lượng bình phương bé
nhất (OLS) và phương pháp bình phương bé nhất có trọng số (WLS)1. Đóng góp
đáng kể của bài nghiên cứu là quy mô nghiên cứu rộng lớn (cho đến thời điểm bấy
giờ), với dữ liệu thời gian dài (từ 1979 đến 2000) và mẫu gồm nhiều nước (71
nước) bao gồm cả các nước công nghiệp và các nước đang phát triển. Kết quả cho
thấy có mối quan hệ thuận chiều và có ý nghĩa giữa hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá và tỷ
lệ lạm phát, mối quan hệ này càng chắc chắn khi các biến vĩ mô khác trong mô hình
được kiểm soát.
Xây dựng phương trình hồi quy khác với Choudhri và Hakura (2001), Olivei
(2002), khi nghiên cứu mức độ truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu ở Mỹ cho giai
đoạn 1981 – 1999, đã chạy OLS2 cho kết quả thấy có sự giảm sút trong truyền dẫn

1

Với phương trình hồi quy gồm: biến phụ thuộc là sự truyền dẫn tỷ giá, các biến độc lập là tỷ lệ
lạm phát trung bình, phương sai của lạm phát, phương sai của sự thay đổi tỷ giá và chỉ số nhập
khẩu/ GDP.
2

chỉ xem xét mối quan hệ một chiều từ tác động của các cú sốc bên ngoài (trong đó
có tỷ giá) lên mặt bằng giá cả, trong khi phớt lờ khả năng giá cả cũng có thể tác
động ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu đã dùng mô hình hồi quy đa phương trình để
thay thế. Các bài nghiên cứu thuộc nhóm này đa số dùng mô hình véc tơ tự hồi quy
(VAR) hoặc mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM), sử dụng hàm phản ứng
xung (impulse response function), phân rã phương sai (variance decomposition) và


8

phân rã lịch sử (historical decomposition) để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của mình,
tiêu biểu như:
McCarthy (2000) dùng mô hình thực nghiệm là VAR nghiên cứu ERPT theo chuỗi
phân phối giá tại 9 nền kinh tế phát triển cho thời kỳ hậu Bretton Woods (1976 –
1998). Bài nghiên cứu tập trung vào tác động của cú sốc bên ngoài (gồm tỷ giá và
giá nhập khẩu) lên các chỉ số giá cả, tầm quan trọng của các cú sốc này đối với lạm
phát trong nước, đồng thời phân tích các yếu tố vĩ mô tác động lên sự truyền dẫn.
Tác giả đi đến kết luận rằng cú sốc giá nhập khẩu có tác động lên lạm phát mạnh
hơn cú sốc tỷ giá và truyền dẫn các cú sốc lên chỉ số giá tiêu dùng khá khiêm tốn ở
các nước.
Đi theo hướng của Mc Carthy (2000), các nhà nghiên cứu Hufner và Schroder
(2002), Hahn (2003) và Faruqee (2006) cùng nghiên cứu về ERPT cho khu vực
châu Âu. Mặc dù chuỗi thời gian và các biến xem xét khác nhau3, kết quả nghiên
cứu đều có điểm chung là tác động của cú sốc tỷ giá lên giá cả ở khu vực châu Âu là
khá nhỏ, truyền dẫn trong ngắn hạn là thấp ở các mức giá và có khuynh hướng tăng
trong dài hạn.4
Cũng dùng VAR để phân tích, nghiên cứu của Ito và Sato (2006) có nhiều điểm
mới: là một trong số ít các nghiên cứu về ERPT ở các nước Đông Á, và xét đến yếu
tố khủng hoảng kinh tế theo như gợi mở hướng nghiên cứu của McCarthy (2000)
(cụ thể là tìm hiểu truyền dẫn thay đổi như thế nào khi các quốc gia chuyển từ chế

truyền dẫn lên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được nhận thấy là nhỏ và không khác
mấy mức độ truyền dẫn ở các nước phát triển.
Như vậy, điểm qua các bài nghiên cứu có thể thấy nhiều điểm chung trong
kết quả, như:
• Truyền dẫn cú sốc tỷ giá vào chỉ số giá cả là không hoàn toàn;
• Mức độ truyền dẫn là thấp trong ngắn hạn, cao hơn và gần giá trị 1 trong dài
hạn;
• Truyền dẫn vào giá nhập khẩu nhanh hơn vào giá tiêu dùng;
• Mức độ truyền dẫn là khác nhau giữa các quốc gia và các ngành công
nghiệp;
• Có bằng chứng thống kê cho thấy nhiều quốc gia đang trải qua sự sụt giảm
chung trong hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá trong hơn hai thập kỷ qua (Mishkin
(2008));
• Có nhiều yếu tố tác động đến mức độ truyền dẫn tỷ giá, như:


10

(i) Môi trường lạm phát (truyền dẫn sẽ lớn trong môi trường lạm phát cao –
Taylor (2000), Choudhri và Hakura (2001), Campa và Goldberg (2002),
Zorzi, Hahn và Sanchez (2007));
(ii) Mức độ quốc gia phụ thuộc vào hàng nhập khẩu và độ biến động của tỷ
giá và giá nhập khẩu (truyền dẫn sẽ lớn ở nước phụ thuộc nhiều vào hàng
nhập khẩu và có tỷ giá cùng giá nhập khẩu ổn định – McCarthy (2000));
(iii) Mức tự do hóa thương mại (truyền dẫn sẽ lớn ở nước tự do hóa thương
mại nhiều. Tuy nhiên, nếu một nước có tỷ lệ lạm phát tỷ lệ nghịch với độ tự
do thương mại thì mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá đến giá tiêu dùng có
thể biến động cùng chiều hoặc ngược chiều – Zorzi, Hahn và Sanchez
(2007)),…
2.2.Truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo chuỗi giá cả

nào. Ý tưởng về truyền dẫn đi theo quy trình: cú sốc bên ngoài  giá sản xuất hàng
năng lượng  giá sản xuất hàng trung gian  giá sản xuất hàng tiêu dùng  giá
tiêu dùng (giá tiêu dùng hàng thực phẩm chế biến, giá tiêu dùng hàng phi năng
lượng, giá tiêu dùng hàng dịch vụ). Kết quả thực nghiệm cho thấy cú sốc tỷ giá hối
đoái của đồng Euro không những có tác động trực tiếp lên hầu hết các chỉ số giá
tiêu dùng thành phần (giá tiêu dùng hàng thực phẩm chế biến, giá tiêu dùng hàng
phi năng lượng, giá tiêu dùng hàng dịch vụ), mà còn tác động gián tiếp thông qua
các chỉ số giá sản xuất thành phần (giá sản xuất hàng năng lượng, giá sản xuất hàng
trung gian, giá sản xuất hàng tiêu dùng) và một lần nữa cùng kết luận: truyền dẫn tỷ
giá giảm dần dọc chuỗi giá cả5. Mặc dù nghiên cứu của Landau và Skudelny (2009)
đã thực sự đưa ra nhiều điểm mới trong hướng tiếp cận chuỗi giá cả, nhưng tác giả

5

Cụ thể: Đối với giá sản xuất: 1% gia tăng trong NEER: tác động mạnh nhất lên giá sản xuất năng

lượng, với tác động khoảng 0.47% sau 4 quý, tác động càng ngày càng yếu hơn khoảng 0.35% sau
5 quý lên giá sản xuất hàng hóa trung gian, và 0.15% sau khoảng 8 quý đối với giá sản xuất hàng
hoá tiêu dùng. Đối với giá tiêu dùng, tác động truyền dẫn là khá tương tự cho giá tiêu dùng hàng
thực phẩm chế biến và giá tiêu dùng hàng phi năng lượng với sự tác động vào khoảng 0.10% sau
16 quý, và giá tiêu dùng dịch vụ khoảng 0.8%.


12

chỉ mới dừng lại ở việc phân tích kỹ các chỉ số giá sản xuất thành phần, còn mối
liên kết giữa các nhóm chỉ số giá tiêu dùng thành phần chưa được xem xét.
Như vậy, trong số ít các bài nghiên cứu về ERPT theo chuỗi giá cả đều có chung
một kết luận: truyền dẫn tỷ giá giảm dần dọc chuỗi giá cả. Lý giải cho điều này,
Hahn (2003) lập luận là do:

setting) và cạnh tranh độc quyền. Bởi vì các công ty thiết lập giá trước một khoảng
thời gian, nên nếu công ty nhận thấy việc chi phí gia tăng (do nội tệ giảm giá hay lý
do khác) trở nên dai dẳng hơn, công ty sẽ định giá cao hơn. Một quốc gia với môi
trường lạm phát cao hơn có khuynh hướng có chi phí dai dẳng hơn, do đó, môi
trường lạm phát cao có khuynh hướng làm tăng truyền dẫn tỷ giá.
Lý thuyết này đã nhận được sự đồng tình của đông đảo các nhà nghiên cứu sau này,
như: Choudhri và Hakura (2001), Gagnon và Ihrig (2004)6, và Zorzi, Hahn và
Sanchez (2007). Mishkin (2008), khi điểm qua tất cả các bài nghiên cứu trước đó,
cũng nhận thấy mối tương quan giữa sự thay đổi tỷ giá và chỉ số giá cả là thấp qua
hai thập kỷ gần đây tại một nhóm các quốc gia đang theo đuổi chính sách tiền tệ ổn
định và có thể dự báo trước (stable and predictable monetary policies). Thậm chí là
ở các nước nơi trước đây cho thấy mối tương quan cao giữa lạm phát và cú sốc tỷ
giá, cũng đã trải qua việc giảm hiệu ứng truyền dẫn đáng kể, khi cải thiện các chính
sách tiền tệ của mình. Gagnon và Ihrig (2004) lý giải rõ hơn là do khi các công ty
mong đợi các nhà điều hành chính sách tiền tệ hành động mạnh mẽ để ổn định tỷ lệ
lạm phát nội địa, thì các công ty này ít có khuynh hướng thay đổi giá cả trước một
cú sốc tỷ giá hối đoái.

6

Gagnon và Ihrig (2004) tìm thấy bằng chứng chứng tỏ hành vi chính sách tiền tệ cũng là một yếu

tố làm giảm ERPT khi đo lường tác động truyền dẫn lên giá tiêu dùng cho 20 nước công nghiệp từ
giai đoạn 1971 – 2003. Mức độ truyền dẫn trung bình của toàn giai đoạn là 0.23. Tuy nhiên, khi tác
giả chia mẫu làm hai giai đoạn nhỏ, khi các nước chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ tập
trung mạnh vào ổn định lạm phát, thì nhận thấy mức độ truyền dẫn giảm đáng kể. Cụ thể, mức độ
truyền dẫn cho giai đoạn ban đầu là 0.16, đến giai đoạn thứ hai là 0.05.


14

áp dụng lạm phát mục tiêu ở khoảng thời gian trước và sau năm 1999. Việc so sánh mức độ truyền
dẫn cũng áp dụng tương tự cho các nước hiện chưa áp dụng lạm phát mục tiêu qua mốc thời gian
1999 này.


15

Việt Nam từ 2001 đến 2011 và liệt kê nhiều nguyên nhân có khả năng ảnh hưởng
đến mức độ lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm trở lại đây.
Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2012) nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các
chỉ số giá ở Việt Nam, đồng thời xem xét các yếu tố tác động đến độ lớn của truyền
dẫn tỷ giá hối đoái, như: (1) quy mô nền kinh tế, (2) độ mở nền kinh tế, (3) mức độ
bất ổn tỷ giá hối đoái, (4) cú sốc dai dẳng của tỷ giá hối đoái, (5) mức độ bất ổn
tổng cầu, (6) lạm phát lâu dài và (7) môi trường chính sách tiền tệ. Giai đoạn nghiên
cứu bắt đầu từ quý 1 năm 2001 đến quý 4 năm 2011. Kết quả cho thấy mức độ
truyền dẫn giảm dọc theo chuỗi giá cả, sử dụng hệ số tương quan thứ hạng
Spearman cho thấy môi trường chính sách tiền tệ, mà đại diện là cung tiền M2 có
tương quan cùng chiều với độ lớn truyền dẫn.
Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường (2012), bên cạnh việc xem xét sự
truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào giá cả, còn nghiên cứu xem sự truyền dẫn này có bất
cân xứng hay không – điều mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến. Các tác
giả đã nghiên cứu qua hai giai đoạn truyền dẫn: giai đoạn 1 là sự truyền dẫn từ tỷ
giá hối đoái vào giá nhập khẩu, giai đoạn 2 là sự truyền dẫn từ tỷ giá và giá nhập
khẩu vào giá nội địa. Các kết quả về mức độ truyền dẫn phù hợp với nghiên cứu của
Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2012) và Bạch Thị Phương Thảo (2011). Về tính bất
cân xứng, bài nghiên cứu phát hiện rằng không có sự truyền dẫn bất cân xứng từ tỷ
giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đến chỉ số giá nhập khẩu khi có sự biến động lớn
và biến động nhỏ trong tỷ giá hối đoái.
Mở rộng hướng nghiên cứu hơn, Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) tìm
hiểu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam qua hai giai đoạn trước và

1t

y2t = a20 + a21y1(t-1) + a22y2(t-1) +

2t

Trong đó, y1t, y2t là các chuỗi dừng, các sai số ngẫu nhiên
và không tương quan với nhau.
Hệ phương trình trên có thể viết dưới dạng ma trận :
Yt = A0 + A1Yt-1 +
a
Với :A0 = a

a
; A1 = a

a
a

;

t

t

=

;

1t,

1t

y2t = b20 + b21y1t + b22y1(t-1) + b23y2(t-1) +

2t

Hệ phương trình trên có thể viết dưới dạng ma trận :
Yt = B0 + B1Yt + B2Yt-1 +
Với :B0 =

b
b

; B1 =

b
b

=; B2 =

b
b

t

b
b

;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status