Trang 1 Mã số: 46
MỐI QUAN HỆ GIỮA BIẾN ĐỘNG TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ KIM NGẠCH
XUẤT KHẨU VIỆT NAM BẰNG
CÁCH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
ARDL
Trang 1
TÓM TẮT BÀI NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu của tôi nhằm mục đích kiểm tra thực nghiệm tác động của sự
biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam, bằng cách sử dụng
phương pháp kiểm định giới hạn ARDL, được đề xuất đầu tiên bởi Pesaran và các
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.2 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN 16
3.2.1 Biến phụ thuộc 16
3.2.2 Biến độc lập 16
3.2.3 Dữ liệu 16
3.3 QUY TRÌNH THỰC HIỆN 18
3.3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu. 18
3.3.2 Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến 19
3.3.3 Ước lượng phương trình trong dài hạn bằng mô hình ARDL 21
3.3.4 Ước lượng phương trình trong ngắn hạn bằng mô hình ARDL 21
3.3.5 Kiểm tra tính ổn định của các hệ số trong dài hạn và ngắn hạn 22
CHƯƠNG 4 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NGHIỆM TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI DỮ LIỆU 22
4.2 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH TÍNH ĐỒNG LIÊN KẾT GIỮA CÁC BIẾN 27
4.3 KẾT QUẢ UỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH DÀI HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL 30
4.4 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG PHƯƠNG TRÌNH NGẮN HẠN BẰNG PHƯƠNG PHÁP ARDL 33
4.5 MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC HỆ SỐ ƯỚC LƯỢNG 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN- HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 37
PHỤ LỤC BẢNG 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến LEP 23
biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nó
có thể làm thay đổi vị thế kinh tế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Từ đó cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái luôn đóng một vai trò then chốt
trong việc quyết định đến tình trạng ổn định kinh tế mỗi quốc gia, nó không những
tác động đến sự cân bằng trong cán cân thanh toán của một nước, mà còn có thể
kích thích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu.
Trong nền kinh tế hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn gắn liền
với tự do hóa thương mại. Chính vì điều đó đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu
diễn ra mạnh mẽ và góp phần ngày càng lớn vào cán cân thương mại mỗi nước, đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình
hội nhập cũng mang lại nhiều thách thức, trong đó có một yếu tố cực kỳ đáng quan
tâm là sự biến động tỷ giá hối đoái ngày càng phức tạp và khó lường trước được.
Hơn nữa đối với Việt Nam, khi xuất khẩu hàng hóa chúng ta sẽ thu về đồng ngoại
tệ, không giống như nhiều quốc gia phát triển, đồng tiền mà họ nhận được khi xuất
khẩu chính là đồng nội tệ. Dẫn đến rủi ro mà chúng ta phải gánh chịu do sự biến
động tỷ giá là lớn hơn so với các nước này. Nên việc tìm hiểu tác động của rủi ro tỷ
giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu một lần nữa lại đóng một vai trò quan trọng
đối với một nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng và mở cửa như Việt Nam.
Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy trong những năm vừa qua, chính sách tỷ giá
hối đoái luôn là một vấn đề thời sự và hết sức nhạy cảm. Muốn xây dựng thành
công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề rất khó khăn, phức
tạp. Do đó cần phải hiểu rõ những tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái như thế
nào, để từ đó chính phủ có thể tìm kiếm các giải pháp hạn chế ảnh hưởng của sự
biến động tỷ giá hối đoái và đưa nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tốt nhất,
Trang 2 thông qua việc sử dụng hiệu quả các công cụ điều hành tỷ giá và các chính sách tỷ
giá hối đoái thích hợp.
Đã có rất nhiều bài nghiên cứu nói về tác động của sự biến động tỷ giá hối
Chương 1 giới thiệu khái quát về đề tài, trong chương này tôi sẽ trình bày về
lý do chọn đề tài, các vấn đề cần làm rõ trong bài nghiên cứu. Bên cạnh đó tôi cũng
giới thiệu sơ lược về các phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài. Phần ý nghĩa
của đề tài được nêu ở cuối chương này.
Chương 2 sẽ giới thiệu tổng quan các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ
giữa biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu, phần này tôi sẽ trình bày sơ
lược nội dung, phương pháp và kết quả nghiên cứu của các tác giả.
Chương 3 là chương thể hiện một cách chi tiết về phương pháp nghiên cứu,
phương pháp đo lường các biến, cách thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu đầu vào.
Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5 là chương kết luận, hạn chế của bài nghiên cứu.
1.5 Ý nghĩa của đề tài
- Về mặt lý luận:
Bài nghiên cứu này kiểm tra thực nghiệm tác động của sự biến động tỷ
giá hối đoái, cũng như tỷ giá hối đoái thực, GDP trong nước và GDP
thế giới lên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam cả trong ngắn hạn và
dài hạn.
- Về mặt thực tiễn:
Các kết quả của bài nghiên cứu là tiền đề quan trọng giúp cho các nhà
hoạch định chính sách trong việc đưa ra chính sách tỷ giá cho phù hợp
với tình hình cụ thể của đất nước, để từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng xuất
khẩu và đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế cả trong ngắn hạn
và dài hạn.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn giúp cho bản thân những doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở từng quốc gia có thể chủ động đưa
ra cho mình những biện pháp đối phó với sự biến động tỷ giá ngày càng
phức tạp như hiện nay. Bằng cách tham gia vào các hợp đồng quyền
chọn, giao sau,…Từ đó giúp gia tăng lợi ích kinh tế và đem lại nguồn
lợi nhuận ổn định hơn cho mỗi doanh nghiệp.
Trang 4
trình khối lượng thay thế.
Trang 5 Tiếp theo vào năm 1993 với bài nghiên cứu của Chowdhurry: “Does
exchange rate volatility depress trade flows? Evidence from error correction
models”. Bài nghiên cứu kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên
dòng chảy thương mại của các nước G-7. Dữ liệu được lấy trong giai đoạn từ quý 1
năm 1973 đến quý 4 năm 1990. Đây là khoảng thời gian tương ứng với sự sụp đổ
của chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Như vậy về kích thước mẫu trong bài nghiên cứu
này đã gia tăng so với bài nghiên cứu trước đây, làm cho các kết quả thống kê có ý
nghĩa hơn. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Do đó chuỗi dữ
liệu của từng biến được nghiên cứu đều được kiểm định tính dừng bằng phương
pháp ADF. Sau đó là kiểm định tính đồng liên kết và ước lượng mối quan hệ trong
ngắn hạn giữa biến động tỷ giá hối đoái và dòng chảy thương mại của các nước G-
7. Như vậy ta có thể nhận thấy bài nghiên cứu này đã khắc phục được nhiều nhược
điểm mà các bài nghiên cứu trước đây đã thực hiện về mặt kỹ thuật. Cụ thể là nó đã
góp phần tránh hiện tượng “ Hồi quy giả mạo”, bởi vì trước khi đi vào kiểm định
mối quan hệ, bài nghiên cứu đã sử dụng kiểm định tính dừng của từng chuỗi dữ
liệu. Sau đó lại xét tính đồng liên kết, để đưa ra nhận định về tồn tại mối quan hệ
dài hạn giữa các biến. Đây cũng là một điểm mới so với các bài nghiên cứu trước.
Các kết quả của mô hình ECM cho thấy rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có tác
động tương quan âm lên khối lượng xuất khẩu ở các nước G-7. Nguyên nhân được
giải thích trong bài nghiên cứu là những người tham gia thị trường đều e sợ rủi ro,
do đó tỷ giá hối đoái biến động là nguyên nhân làm giảm giao dịch của họ, cũng
như làm thay đổi cung cầu để tối thiểu hóa rủi ro này. Bên cạnh đó, các nhà giao
dịch có thể tạm thời chuyển hướng sang thị trường trong nước thông qua việc mở
rộng khu vực thị trường mục tiêu của mình.
Bài nghiên cứu vào năm 1994 của Quian và Varangis, với tựa đề: “Does
exchange rate volatility hinder export growth?”. Bài nghiên cứu đã kiểm tra tác
cứu được thực hiện để kiểm tra tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim
ngạch xuất khẩu từ Ireland đến Anh, thị trường quan trọng nhất cho hoạt động xuất
khẩu ở Iredland, từ khi mở rộng hệ thống tiền tệ châu Âu ( Vào tháng 3-1979) cả
trong ngắn hạn và dài hạn. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm hiểu mối quan hệ giữa
sự thay đổi giá cả tương đối và thu nhập đối với kim ngạch xuất khẩu từ Ireland
sang Anh. Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy theo quý, từ quý 2 năm 1979 đến
quý 3 năm 1993. Bài nghiên cứu này sử dụng một kỹ thuật kinh tế hiện đại của
chuỗi thời gian để ước lượng hàm nhu cầu xuất khẩu trong cả dài hạn và ngắn hạn ở
Ireland. Đó là kỹ thuật đồng liên kết để kiểm định liệu có sự tồn tại mối quan hệ
Trang 7 trong dài hạn giữa các biến và mô hình ECM để ước lượng các hệ số trong ngắn
hạn. Bài nghiên cứu này cải thiện so với các bài nghiên cứu trước ở chỗ nó đã ước
tính hàm nhu cầu xuất khẩu ở Ireland theo một vài cách. Đó là nhóm tác giả đã có
một phương pháp đo lường biến động tỷ giá hối đoái để điều tra tác động lên kim
ngạch xuất khẩu. Lựa chọn này là hợp lý bởi vì một sự gia tăng trong biến động của
tỷ giá hối đối của đồng bảng Anh theo sau sự sụp đổ trong sự liên kết tương ứng
giữa 2 đồng tiền vào lúc bắt đầu của hệ thống tiền tệ châu Âu. Các kết quả nghiên
cứu cho thấy rằng khối lượng xuất khẩu khá nhạy cảm với sự thay đổi trong thu
nhập và giá cả tương đối, cụ thể là trong dài hạn. Với mối quan hệ tác động của sự
biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu, các kết quả cũng chỉ ra rằng mối
quan hệ này trong dài hạn là không có ý nghĩa, nhưng trong ngắn hạn sự biến động
tỷ giá hối đoái và sự không chắc chắn liên quan có một tác động tương quan âm lên
kim ngạch xuất khẩu thực.
Bài nghiên cứu vào năm 2001 của Aristotelous (2001): “ Exchange-rate
volatility, exchange-rate regime, and trade volume: evidence from the UK-US
export function (1889-1999)”. Nội dung bài nghiên cứu này nhằm điều tra tra tác
động của sự biến động tỷ giá hối đoái và chế độ tỷ giá lên xuất khẩu từ Anh sang
Mỹ, sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ năm 1889-1999. Bài nghiên cứu sử dụng
là sự biến động tỷ giá hối đoái xoay quanh xu hướng được dự báo của nó và cách
thứ hai là đo lường bằng độ lệch chuẩn của phần trăm thay đổi trong tỷ giá hối đoái
thực. Từ đó cho thấy một phương pháp đo lường đầy đủ sự biến động của tỷ giá hối
đoái thực, như là một sự đại diện cho rủi ro tỷ giá. Các kết quả nghiên cứu cho thấy
sự biến động tỷ giá hối đoái và kim ngạch xuất khẩu thực tại Thổ Nhĩ Kỳ có mối
quan hệ tương quan âm và có ý nghĩa thống kê trong dài hạn đối với Đức, Pháp và
Mỹ. Ngoài ra, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động tương quan âm trong ngắn
hạn lên xuất khẩu với Đức. Đối các quốc gia còn lại, tác động trong ngắn hạn đều
không có ý nghĩa thống kê. Theo quan điểm của tác giả việc tận dụng tỷ giá kỳ hạn
của thị trường phòng ngừa rủi ro tỷ giá, có thể làm cho sự biến động là một nhân tố
ít tác động lên xuất khẩu thực đối với các quốc gia này trong ngắn hạn. Cuối cùng,
những nhà hoạch định chính sách nên xem xét sự tồn tại cũng như mức độ tác động
của sự biến động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu thực, để từ đó đưa ra các
chính sách cho phù hợp.
Bài nghiên cứu cũng vào năm 2002 của Baak, Al- Mahmood và Vixathep với
tựa đề: “Exchange Rate Volatility and Exports from East Asian Countries to
Trang 9 Japan and U.S”. Nội dung bài nghiên cứu nhằm điều tra tác động của sự biến động
tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu tại 4 quốc gia Đông Á gồm Hồng Kông,
Nam Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan. Mục tiêu là để xác nhận liệu sự biến động
tỷ giá hối đoái thực song phương giữa các quốc gia Đông Á và các đối tác thương
mại của nó có tác động tương quan âm lên kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia
này hay không. Xem xét vai trò quan trọng của Mỹ và Nhật như là các đối tác
thương mại của các nước Đông Á, bài nghiên cứu này tập trung vào khối lượng xuất
khẩu hàng tháng của các quốc gia Đông Á sang Mỹ và Nhật Bản trong giai đoạn từ
năm 1990 đến năm 2001. Hầu hết các bài nghiên cứu trước đều kiểm tra chuỗi dữ
liệu thời gian theo từng quý của tổng khối lượng xuất khẩu ở một hay nhiều nước.
Nhưng bài nghiên cứu này lại dùng dữ liệu hàng tháng của khối lượng xuất khẩu
động tương quan âm và có ý nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu từ Anh sang các nước
EU.
Thông qua các bài nghiên cứu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự
biến động tỷ giá hối đoái luôn là vấn đề được xem xét và đáng quan tâm ở các quốc
gia phát triển. Mặc dù đối với các quốc gia này, sự tác động có thể có ý nghĩa thấp
hơn so với các quốc gia đang phát triển. Nguyên nhân là vì ở các nước phát triển,
hầu hết khi xuất khẩu hàng hóa, đồng tiền mà họ nhận về chính là đồng nội tệ, ví dụ
như USD, GBP, Do đó một khi sự biến động tỷ giá hối đoái xảy ra, rủi ro mà nhà
xuất khẩu nhận lấy thấp hơn nhà nhập khẩu- là đối tác của họ. Nhà nhập khẩu lúc
này là người nhận hàng hóa, và chịu trách nhiệm về toàn bộ khối lượng hàng cho
đến khi phân phối nó đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, khi hàng hóa nhập khẩu là những mặc hàng tiêu dùng thiết yếu thì rủi
ro của nhà nhập khẩu do sự biến động tỷ giá sẽ giảm xuống. Bên cạnh đó, cũng có
trường hợp khi đồng tiền thanh toán cho nhà xuất khẩu không phải là đồng nội tệ thì
nhà xuất khẩu lẫn nhà nhập khẩu đều phải đối mặt với rủi ro biến động tỷ giá hối
đoái.
2.2 Các bài nghiên cứu về tác động của sự biến động tỷ giá
hối đoái lên hoạt động xuất khẩu ở các nước đang phát triển
Sự biến động tỷ giá hối đoái là một nhân tố cực kỳ quan trọng cần được xem
xét đối với các nước đang phát triển, nơi mà phụ thuộc nhiều vào hoạt động thương
mại quốc tế. Đặc biệt là trong nhiều trường hợp việc xuất khẩu hàng hóa ở các quốc
gia này đem lại nguồn thu không phải là đồng nội tệ. Đã có rất nhiều bài nghiên cứu
tập trung vào các nền kinh tế mới nổi, tuy nhiên lại cho ra các kết quả rất khác biệt.
Trang 11 Đầu tiên là bài nghiên cứu của Mustafa và Nishat năm 2004, với tựa đề:
“Volatility of exchange rate and export growth in Pakistan: “ The structure and
interdependence in regional markets”. Nội dung bài nghiên cứu này nhằm kiểm tra
tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái và tăng trưởng xuất khẩu giữa Pakistan và
Morocco và Israel. Bài nghiên cứu còn cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái có ý
nghĩa trong hầu hết các trường hợp, nhưng các hệ số tương quan âm hay dương lại
phụ thuộc vào sự biến động đó là thực hay danh nghĩa và ở quốc gia nào. Do đó, tác
giả đã chỉ ra rằng sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động lên kim ngạch xuất khẩu
thực của các nước MENA cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Bài nghiên cứu của Aliyu vào năm 2008, với tựa đề: “Exchange Rate
Volatility and Export Trade in Nigeria: An Empirical Investigation”. Bài nghiên
cứu tìm kiếm sự đánh giá về tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái lên dòng xuất
khẩu phi dầu mỏ tại Nigeria. Trong đó dòng xuất khẩu phi dầu mỏ của nền kinh tế
Nigeria giả định là được xác định trên các biến cơ bản: Sự biến động tỷ giá hối đoái,
sự biến động của đồng USD, điều kiện thương mại của Nigeria (TOT) và chỉ số mở
cửa (OPN). Bài nghiên cứu sử dụng các quan sát theo quý trong khoảng thời gian
20 năm, từ quý 1 năm 1986 đến quý 4 năm 2006. Như vậy so với các bài nghiên
cứu trước, mẫu được thu thập trong bài nghiên cứu này đã góp phần giảm thiểu các
vấn đề liên quan đến sự thay đổi trong chính sách tỷ giá hối đoái ở Nigeria. Từ đó
đem lại kết quả ước lượng tốt hơn và phản ánh đúng hơn. Bài nghiên cứu này sử
dụng phân tích cơ bản gồm kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết của
Johansen và sử dụng mô hình VECM để ước lượng mối quan hệ trong dài hạn. So
với bài nghiên cứu của Rey năm 2006, bài nghiên cứu này có phương pháp tiếp cận
khá giống. Các kết quả cho thấy rằng các biến nghiên cứu dừng ở các bậc khác
nhau. Bằng chứng về kiểm định đồng liên kết giữa các biến cho thấy sự tồn tại mối
quan hệ ổn định lâu dài giữa các biến cơ bản. Phần hiệu chỉnh sai số lấy từ mô hình
ước lượng ngắn hạn đã chỉ ra tốc độ điều chỉnh hợp lý trong dài hạn. Bên cạnh đó,
các phân tích về tác động của sự biến động tỷ giá hối đoái và biến động của đồng
USD đã cho thấy rằng trong dài hạn, sự biến động tỷ giá hối đoái có tác động trung
bình ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu phi dầu mỏ khoảng -0.45%, trong khi
đối với sự biến động của đồng USD lại là 2.1%.
Cũng trong năm 2008, với bài nghiên cứu của Chit, Rizov và Willenbockel có
tựa đề: “Exchange rate volatility and exports: New empirical evidence from the
emerging East Asian Economies”. Bài nghiên cứu này kiểm tra tác động của sự
Tiếp đến vào năm 2010 với bài nghiên cứu của Tahir Mukhtar và Saquib Jalil
Malik: “Exchange rate volatility and export growth: evidence from selected south
asian countries”. Nội dung bài nghiên cứu nhằm kiểm tra tác động của sự biến
động tỷ giá hối đoái lên kim ngạch xuất khẩu của 3 nước Nam Á gồm Ấn Độ,
Pakistan và Sri Lanka. Dữ liệu được thu thập theo năm, trong khoảng thời gian từ
Trang 14 năm 1960-2007. Đây là bài nghiên cứu có kích thước mẫu khá lớn so với các bài
nghiên cứu trước. Bằng cách sử dụng kiểm định đồng liên kết và mô hình VECM để
đo lường mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến. Đây cũng là một phương pháp
thường thấy trong các bài nghiên cứu trong giai đoạn này. Các kết quả thực nghiệm
của chúng tôi chỉ ra rằng sự tồn tại của các véc tơ đồng liên kết với kim ngạch xuất
khẩu thực, giá cả tương đối, hoạt động kinh tế đối ngoại và sự biến động tỷ giá hối
đoái trong dài hạn. Sự biến động tỷ giá hối đoái tác động tương quan âm và có ý
nghĩa lên kim ngạch xuất khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn đối với ba nước Nam
Á. Các kết quả cũng tiết lộ rằng sự cải thiện trong điều kiện thương mại và thu nhập
nước ngoài thực có tác động tương quan dương lên hoạt động xuất khẩu. Ngoài ra
nhóm tác giả còn cho thấy rằng hoạt động xuất khẩu của các nước Nam Á có thể
được thúc đẩy thêm bởi các chính sách nhắm đến việc đạt được và duy trì một sự ổn
định trong tỷ giá hối đoái thực.
Cuối cùng có thể kể đến bài nghiên cứu vào năm 2012 của Dhasmana với tựa
đề: “India s Real Exchange Rate and Trade Balance: Fresh Empirical
Evidence”. Bài nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực ở Ấn
Độ và cán cân thương mại của nó với các đối tác thương mại chính, sử dụng dữ liệu
theo quý cho 15 quốc gia, theo giai đoạn từ quý 1 năm 1995 đến quý 1 năm 2011.
Dữ liệu trong bài nghiên cứu này cũng là kiểu dữ liệu bảng, giống với bài nghiên
cứu của Chit, Rizov và Willenbokel năm 2008. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình
mậu dịch song phương, trong đó có dùng hàm ước lượng nhóm trung bình có trọng
số của Pesaran và Smith (1995) để có ước tính trực tiếp của khoản thu nhập và sự
1
. Nguyên nhân này là do
các biến động có thể điều chỉnh những sai lệch nội sinh ( Theo Inder (1993) và
Pesaran (1997))
2
. Thứ 5, các hệ số ngắn hạn và dài hạn của mô hình có thể được
ước tính một cách đồng thời, bằng một phương trình đơn giản và dễ thực hiện.
Ngoài ra, các biến khác nhau chúng ta có thể chọn độ trễ khác nhau khi sử dụng mô
hình này. Cũng chính vì những ưu điểm trên không những đã khắc phục được
những hạn chế do mẫu dữ liệu mà tôi thu thập được, mà còn cho tôi một kỹ thuật
ước lượng khá tốt và dễ thực hiện. Nên điều đó khiến tôi chọn mô hình ARDL để
thực hiện bài nghiên cứu này. 1
2
Dựa trên bài nghiên cứu của Srinivasan và Kalaivani năm 2012 với tựa đề: “Exchange rate
volatility and export growth in india: an empirical investigation”
Trang 16 3.2 Phương pháp đo lường các biến
3.2.1 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu là kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
(EP). Đơn vị tính: Triệu USD.
3.2.2 Biến độc lập
Bài nghiên cứu gồm 5 biến độc lập như sau:
- GDP của Việt Nam (G). Đơn vị tính: Tỷ VND.
Trong đó:
LRER = Log(RER)
- GDP của thế giới (WG). Đây là GDP của gồm 179 quốc gia được IMF thống
kê (Bảng 1- Phụ lục). Đơn vị: Triệu USD. Trong bài nghiên cứu này, tôi
tính GDP của thế giới bằng cách thu thập dữ liệu tốc độ % thay đổi giữa các
quý từ nguồn dữ liệu của IMF, rồi sau đó lấy dữ liệu GDP vào quý 1 năm
2005 để tính toán cho các quý còn lại. Nguyên nhân là do nguồn số liệu GDP
thực của thế giới không thống kê trực tiếp giá trị theo từng quý.
3.2.3 Dữ liệu
Nguồn dữ liệu trong bài nghiên cứu tôi lấy chủ yếu từ phần dữ liệu tài chính
quốc tế của IMF, để có thể lấy được nguồn dữ liệu này, tôi đã đăng ký tài khoản
Trang 17 dùng thử trong vòng 5 ngày theo quy định của trang web. Ngoài ra tôi còn thu thập
dữ liệu và tham khảo thông tin ở một vài trang web đáng tin cậy tại Việt Nam. Các
dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2013. Cụ
thể như sau:
- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ quý 3 năm 1999 đến quý 3 năm 2013
lấy từ IMF (Bảng 2- Phụ lục).
- GDP của Việt Nam được lấy từ 2 nguồn:
Dữ liệu từ quý 3 năm 1999 đến quý 4 năm 2004 tôi lấy từ nguồn dữ
liệu của tổng cục thống kê
3
. (Bảng 3- Phụ lục)
Từ quý 1 năm 2005 đến quý 2 năm 2013 được lấy từ phần dữ liệu vĩ
mô của trang web: Vietstock.vn . (Bảng 4- Phụ lục)
. Có thể tham khảo thêm tại trang
web: />trong-nam-2013-2888403.html
5
Tỷ giá hối đoái vào quý 3, quý 4 là 21,036 VND/USD. Có thể tham khảo tại trang web:
6
Có thể tham khảo tốc độ tăng trưởng vào quý 2 và quý 3 năm 2013 từ trang web:
Trang 18 Tất cả dữ liệu của các biến sau khi thu thập và tính toán xong, tôi đều lấy log
để có được một chuỗi dữ liệu ổn định hơn và dễ dàng trong việc phân tích. Tôi gọi
các biến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, GDP của Việt Nam, tỷ giá hối đoái
thực, biến động tỷ giá hối đoái thực và GDP của thế giới sau khi lấy log lần lượt là
LEP, LG, LRER, LV và LWG.
3.3 Quy trình thực hiện
3.3.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu.
Gồm kiểm định tính dừng của các biến LEP, LG, LRER, LV và LWG. Trong
đó, một chuỗi dữ liệu được coi là dừng khi chúng có các đặc điểm sau:
- Chúng thể hiện xu hướng trở lại trạng thái trung bình theo một cách mà trong
đó dữ liệu dao động xung quanh một giá trị trung bình cố định trong dài hạn.
- Có một giá trị phương sai xác định không thay đổi theo thời gian.
- Có một giản đồ tự tương quan với các hệ số tự tương quan sẽ giảm dần khi
độ trễ tăng lên.
Nguyên nhân mà tôi phải kiểm định tính dừng của các biến là vì nếu như
chuỗi thời gian của tôi không dừng, tôi chỉ có thể nghiên cứu hành vi của nó trong
một khoảng thời gian được xem xét. Vì thế mỗi mẫu dữ liệu thời gian sẽ mang một
1
: Chuỗi dữ liệu của biến là dừng
Để kiểm định H
0,
tôi so sánh giá trị tuyệt đối thống kê tính toán với giá trị
thống kê tra bảng DF, nếu giá trị tuyệt đối của của thống kê lớn hơn giá trị tra
bảng thì ta bác bỏ giả thuyết H
0
, nghĩa là chuỗi dữ liệu của các biến là chuỗi dừng.
Nếu tất cả các biến đều dừng ở I(1) hoặc I(0), ta sẽ chuyển sang bước 2.
3.3.2 Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến
Chúng ta kiểm định đồng liên kết thông qua việc ước lương phương trình sau:
(1)
Trong đó:
-
là các hệ số nhân dài hạn.
-
H
1
:
Thực hiện kiểm định F để xét ý nghĩa của các hệ số nhân dài hạn trên, nếu như
giá trị F được tính toán, thấp hơn giá trị biên dưới của giới hạn giá trị tiêu chuẩn
thống kê F được tạo ra bởi Pesaran và các cộng sự năm 2001 (Bảng 5- Phụ lục), thì
giả thuyết phủ định H
0
không có đồng liên kết sẽ không thể bị bác bỏ. Ngược lại,
nếu giá trị thống kê F lớn hơn giá trị biên trên của giới hạn chuẩn, thì giả thuyết phủ
định không có đồng liên kết bị bác bỏ. Nghĩa là có mối quan hệ đồng liên kết giữa
các biến trong mô hình. Ngoài ra, nếu như giá trị F nằm giữa giá trị biên trên và giá
trị biên dưới thì chúng ta không thể đưa ra kết luận.
Cụ thể chúng ta sẽ tra giá trị F dựa vào bảng sau:
Trong bài nghiên cứu của tôi gồm có 5 biến, tương ứng tôi sẽ dò tìm phạm vi
giá trị F tại hàng K = 5, như vậy với mức ý nghĩa 1% giá trị F nằm trong khoảng
2.82- 4.21, mức ý nghĩa 5% nằm trong khoảng 2.14- 3.34 và với mức ý nghĩa 10%
sẽ thuộc phạm vi từ 1.81- 2.93.
Trong đó