ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------
NGUYỄN ĐỨC THƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC
MỎ THAN HỒ THIÊN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------***-------
NGUYỄN ĐỨC THƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC
MỎ THAN HỒ THIÊN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
Chuyên ngành
: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số
: 8440301.01
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng
năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Thương
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................... 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU..................................................................................... 3
1.1. Tình hình khai than trên Thế giới và Việt Nam .............................................................. 3
1.1.1. Tình hình khai thác than trên thế giới....................................................................... 3
1.1.2 Tổng quan công tác quản lý của khai thác than trên thế giới .................................. 7
1.1.3. Tình hình khai thác than ở Việt Nam ........................................................................ 9
1.1.4. Tổng quan quản lý môi trường khai thác than tại Việt Nam: ...............................13
1.1.5. Tổng quan về khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh .................................................15
1.2. Tình hình nghiên cứu về môi trường xung quanh tại các mỏ than trên Thế giới và ở
Việt Nam .................................................................................................................................. 18
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về môi trường xung quanh tại các mỏ than trên Thế giới.18
3.2.2. Đánh giá thực trạng môi trường nước tại mỏ than Hồ Thiên ...............................35
3.2.3 Đánh giá thực trạng môi trường không khí tại mỏ than Hồ Thiên ........................57
3.3. Đánh giá ảnh hưởng của khai thác mỏ than Hồ thiên đến môi trường khu vực. ....... 62
3.4. Đề xuất giải pháp nhằm bảo vệ môi trường mỏ than Hồ Thiên .................................. 63
3.3.1.Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ...................63
3.3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lí môi trường tại mỏ ..64
KẾT LUẬN ............................................................................................................................... 66
1. KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 66
2. ĐỀ NGHỊ ............................................................................................................................. 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................................... 68
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
BOD (Biochemical Oxygen Demand)
Tên kí hiệu
Nhu cầu oxy sinh hóa
BVMT
Bảo vệ môi trường
COD (Chemical Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy hóa học
Quy chuẩn Việt Nam
TSS (Total Suspended Solid)
Tổng chất rắn lơ lửng
TCCP
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH MTV
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
TKV
Tập đoàn công nghiệp than – Khoáng
UBND
WEC (World Energy Council)
sản Việt Nam
Hình 3.6. Diễn biến hàm lượng Fe trong nước mặt ............................................................. 53
Hình 3.7 . Diễn biến hàm lượng Mn trong nước thải mỏ .................................................... 55
Hình 3.8. Diễn biến hàm lượng Fe trong nước thải mỏ....................................................... 56
viii
MỞ ĐẦU
Những vấn đề có liên quan đến môi trường bắt đầu được người ta quan tâm
vào cuối thế kỉ XVIII, khi quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên đi kèm với
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Cho đến ngày nay,
thế giới không ngừng đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ môi trường. Hàng loạt các
biện pháp được đề xuất thực hiện và đã đạt được không ít thành tựu trong lĩnh vực
này. Song chúng ta vẫn đứng trước những thách thức gay gắt về môi trường trên
quy mô toàn cầu.
Cùng với quá trình xây dựng phát triển lớn mạnh của đất nước thì ngành
năng lượng ngày càng được chú ý quan tâm hơn, đặc biệt là ngành than - vàng đen
của Tổ quốc. Quảng Ninh một cực trong tam giác tăng trưởng kinh tế khu vực phía
Bắc Việt Nam gồm Hà Nội - Quảng Ninh - Hải Phòng, đã và đang giành được
những thắng lợi hết sức to lớn và quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngành than là một ngành công nghiệp chủ đạo của tỉnh Quảng Ninh. Hiện
nay, khai thác than đóng góp tới 1/3 GDP và hơn một nửa ngân sách tỉnh, đây cũng
là một ngành quan trọng của đất nước, đồng thời gắn liền an ninh năng lượng quốc
gia. Mọi bài toán về mô hình phát triển kinh tế - xã hội tất yếu phải tính đến sự phát
triển của ngành than. Và sự phát triển của ngành than phải đặt trong tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
Theo Bộ Công thương (năm 2016), trữ lượng than tại thành phố Hạ Long có
tiềm năng khai thác lên đến trên 530 triệu tấn. Tuy nhiên, chất lượng môi trường cò
xu hướng biến đổi mạnh theo chiều hướng đi xuống, khả năng xử lý nước thải và
phù hợp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của khai thác than tới môi trường
đất, nước, không khí tại khu vực. Những kết quả của đề tài là cơ sở giúp cho các cơ
quan quản lý nhà nước trên địa bàn thực hiện công tác quản lí và bảo vệ môi trường
hiệu quả hơn tại khu vực khai thác mỏ than Hồ Thiên, Đông Triều, Quảng Ninh.
2
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình khai than trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tình hình khai thác than trên thế giới
Cho tới nay than đá là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người với tổng trữ
lượng trên 700 tỷ tấn, có khả năng đáp ứng nhu cầu con người khoảng 180 năm.
Đặc biệt trong năm 2002, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế, người ta cũng nhận
thấy những dấu hiệu tăng trưởng trở lại của ngành sản xuất muội than trên thế giới
mặc dù doanh số của sản phẩm này luôn đạt ở mức cao trong năm 2000 đã giảm
xuống mức thấp nhất trong năm 2001. Sự phát triển trong tương lai của loại vật liệu
này phụ thuộc rất nhiều vào ngành sản xuất các sản phẩm cao su vì ngành này tiêu
thụ nhiều muội than nhất.
Theo số liệu của SRL (Viện Nghiên cứu Stanford), năm 2001 công suất
muội than thế giới vào khoảng 8,5 triệu tấn, trong khi đó năm 2000, thị trường Mỹ,
Tây Âu và Nhật Bản chỉ tiêu thụ có 3,8 triệu tấn muội than. Khoảng 70% sản lượng
muội than của thế giới được sử dụng làm chất gia cường trong lốp ô tô và các loại
xe cộ khác, 20% dùng cho sản xuất các sản phẩm khác như ống cao su, dây curoa,
các sản phẩm cơ khí và đúc, giầy dép, 10% còn lại được sử dụng làm bột màu trong
mực in, sơn và chất dẻo. Theo SRL, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành sản
xuất muội than vào khoảng 1 - 2%/năm, gần giống như sự tăng trưởng của ngành
sản xuất các sản phẩm cao su.
Muội than được sản xuất bằng quá trình oxy hóa một phần các hyđrocacbon
lỏng và khí ở nhiệt độ cao hơn 20000F. Phụ thuộc vào kích thước hạt, cầu trúc, độ
Trung Quốc
3748
2
Hoa Kỳ
916
3
Ấn Độ
668
4
Châu Úc
491
5
Indonesia
471
6
thiên hoặc khai thác hầm lò.
Việc lựa chọn phương pháp khai thác khoáng sản chủ yếu phụ thuộc vào địa
chất của mỏ than. Khai thác ngầm hiện chiếm tỷ trọng lớn hơn trong sản xuất than
trên thế giới so với các mỏ khai thác; Mặc dù ở một số quốc gia sản xuất than quan
trọng thì việc khai thác bề mặt là phổ biến hơn.
Ba trong số 10 mỏ than lớn nhất thế giới theo trữ lượng nằm ở Lưu vực sông
bột ở Wyoming, Hoa Kỳ, trong khi mỗi nước Trung Quốc và Australia lại có hai
mỏ lớn nhất. Cụ thể:
4
+ Bắc Antelope Rochelle, Hoa Kỳ
Các mỏ than Bắc Antelope Rochelle ở Lưu vực sông của Wyoming, Mỹ, hiện
là mỏ than lớn nhất thế giới bằng dự trữ. Mỏ ước tính có thể chứa hơn 2,3 tỷ tấn
than phục hồi vào tháng 12 năm 2015.
Mỏ được sở hữu và vận hành bởi Peabody Energy. Đây là một hoạt động khai
thác bề mặt với các mỏ than trầm tích khai thác ở ba hố. Nó bao gồm hai mỏ, cụ thể
là Bắc Antelope, mở cửa năm 1983, và Rochelle, bắt đầu sản xuất năm 1985. Hai
mỏ này được kết hợp thành một hoạt động vào năm 1999.
+ Haerwusu, Trung Quốc
Mỏ Than Haerwusu ở Khu tự trị Nội Mông của Trung Quốc đứng thứ hai
trong số những mỏ than lớn thứ hai trên thế giới. Với trữ lượng than ước tính ước
tính hơn 1,7 tỷ tấn, đây cũng là mỏ than đắp mở lớn nhất ở Trung Quốc.
Khu mỏ này trải dài trên diện tích 67 km² nằm giữa thung lũng Zhungeer và
được sở hữu và vận hành bởi Tập đoàn Shenhua của Trung Quốc. Chi phí phát triển
mỏ là khoảng 1,1 tỷ đô la. Sản xuất than đầu tiên đã diễn ra vào tháng 10 năm 2008.
+ Hei Dai Gou, Trung Quốc
Hei Dai Gou hoặc Heidaigou, một mỏ than hầm nằm ở giữa mỏ than
Zhungeer thuộc vùng tự trị Nội Mông của Trung Quốc, xếp thứ ba mỏ than lớn dự
trữ. Ước tính có 1,5 tỷ tấn trữ lượng than phục hồi được.
năm 2021
+ Đỉnh Downs, Úc
Mỏ than Peak Downs ở Lưu vực Bowen của trung tâm Queensland, Australia,
xếp hạng là mỏ than lớn thứ sáu trên thế giới. Mỏ ước tính giữ được 1.063 tấn trữ
lượng than thu hồi vào tháng 6 năm 2013.
Peak Downs là một trong bảy mỏ thuộc lưu vực sông Bowen thuộc sở hữu và
điều hành bởi Tập đoàn Liên doanh BPM BHP Billiton (BMA). Nó là một mỏ lộ
thiên sử dụng các đội kéo và xe tải/xẻng để hất bỏ quá tải. Nó bắt đầu sản xuất vào
năm 1972.
Nó đã sản xuất hơn 9 tấn than luyện kim trong năm kết thúc vào ngày 30
tháng 6 năm 2013. Sản lượng than của mỏ được đưa qua đường sắt đến ga than Hay
Point gần Mackay, để vận chuyển.
+ Núi Arthur, Úc
Mỏ than Núi Arthur nằm trong khu vực thung lũng Hunter của bang New
South Wales, Australia, là mỏ than lớn thứ bảy trên thế giới theo dự trữ. Trữ lượng
6
than dự trữ tại Mt Arthur vào tháng 6 năm 2013 là 1.049 tấn (585Mt đã được chứng
minh và có thể xảy ra với 464Mt).
Mỏ được sở hữu và vận hành bởi BHP Billiton. Hoạt động khai thác mỏ bao
gồm chủ yếu là hai mỏ khai thác mở, đó là Northern Open Cut và Southern Open
Cut. Hơn 20 mỏ than được khai thác tại Núi Arthur. Hoạt động khai thác được bắt
đầu vào năm 1968.
Mỏ sản xuất than nhiệt cho khách hàng trong nước và quốc tế trong lĩnh vực
năng lượng. Sản lượng than hàng năm khoảng 16Mt. Thời gian dự trữ cuộc sống
của mỏ là 40 năm.
+ Coballo, Mỹ
Các mỏ than Coballo nằm khoảng 20 dặm về phía đông nam của Gillette trong
có các điều khoản, nội dung liên quan đến phục hồi khu vực khai thác, kể cả biện
pháp trồng lại rừng, khôi phục thảm thực vật. Phần 70 của luật quy định chi tiết nội
dung ĐTM. Trừ thời gian thăm dò, ĐTM cần được trình và duyệt trước khi tiến
hành hoạt động khai thác và phải bao gồm hồ sơ sinh thái hoàn chỉnh của khu vực
khai thác.
Về các điều khoản và quy định liên quan đến môi trường, Luật Tài nguyên
Trung Quốc chỉ có một số ít điều khoản [11]. Trừ Điều 32 quy định các đơn vị khai
thác cần tuân thủ điều khoản về BVMT để phòng ngừa ô nhiễm, còn các điều khoản
môi trường đặc thù về khai khoáng nhất là các điều khoản liên quan đến phục hồi
khu vực khai thác, quản lý chất thải mỏ... đều không được tìm thấy trong luật.
Ngoài ra, luật cũng không yêu cầu đặt cọc để khắc phục các tổn thất môi trường xảy
ra trong hay sau hoạt động khai thác.
Theo Luật Khai khoáng của Úc, để được cấp giấy phép thăm dò, chủ đơn cần
cung cấp thông tin đầy đủ liên quan đến các ảnh hưởng có thể xảy ra đối với môi
trường [12]. Các thông tin này bao gồm cả các biện pháp phục hồi dự kiến. Ở giai
đoạn thăm dò, luật không bắt buộc phải có ĐTM nhưng sẽ được yêu cầu nếu thấy
cần thiết. Luật Khai khoáng Nam Úc lại không hề có bất kỳ điều khoản nào liên
quan đến môi trường, cũng như không đề cập đến một đạo luật nào khác phải áp
dụng khi các vấn đề về môi trường bị vi phạm. Các yêu cầu về môi trường do Bộ
trưởng Bộ phát triển tài nguyên khoáng sản tùy ý quy định.
Có thể nói Hoa Kỳ là nước có khung pháp luật về môi trường hoàn thiện hơn
cả. Ở Hoa Kỳ, chủ sở hữu khoáng sản sẽ chủ động xin đăng ký quyền khai thác
theo Luật Khai khoáng chung 1872 đã sửa đổi [11]. Tư nhân có quyền bán, cho
8
thuê hoặc ký các thoả thuận khác như liên doanh liên quan đến khoáng sản mà họ
sở hữu hoặc kiểm soát. Mọi hoạt động khai khoáng, dù trên đất tư hay đất công, đều
được điều chỉnh bởi rất nhiều luật, quy định, quy chế, pháp lệnh của Liên bang, tiểu
- Cấp C2: 1.046 triệu tấn, chiếm 31,5%
Trong đó, cấp A+B/A+B+C1 chỉ chiếm 20,4%, chưa đạt 50%, thể hiện mức
độ tin cậy chưa cao, nhiều khoáng sản cần phải thăm dò bổ sung trước khi đầu tư
hoặc khai thác.
Bể than Quảng Ninh được phát hiện và khai thác rất sớm, đã bắt đầu cách đây
gần 100 năm dưới thời thuộc Pháp. Hiện nay và có lẽ trong tương lai, sản lượng
than khai thác từ các mỏ ở bể than Quảng Ninh chiếm khoảng 90% sản lượng than
toàn quốc.Trong địa tầng chứa than của bể than Quảng Ninh gồm rất nhiều vỉa than:
- Dải phía Bắc (Uông Bí - Đông Triều) có từ 1 đến 15 vỉa, trong đó có 6-8 vỉa
có giá trị công nghiệp.
- Dải phía Nam (Hòn Gai, Cẩm Phả) có từ 2 đến 45 vỉa, có giá trị công nghiệp
là 10-15 vỉa.
Phân loại theo chiều dày, của bể than Quang Ninh:
- Vỉa rất mỏng 3,5-15m chiếm 16,78%
- Vỉa rất dày >15m chiếm 1,07%.
Tính chất đặc trưng của than Antraxit tại các khoáng sàng bể than Quảng
Ninh là kiến tạo rất phức tạp, tầng chứa than là những dải hẹp, đứt quãng dọc
theo phương của vỉa, góc dốc của vỉa thay đổi từ dốc thoải đến dốc đứng (9 o51o). Các mỏ than có nhiều vỉa, với cấu tạo và chiều dày vỉa thay đổi đột ngột.
Đối với việc khai thác than ở bể Quảng Ninh trước đây, có thời kỳ sản lượng
lộ thiên đã chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đã thay đổi, hiện nay còn 60%, trong
tương lai sẽ còn xuống thấp hơn. Với các mỏ lộ thiên lớn đã và sẽ giảm sản lượng,
đến cuối giai đoạn 2015-2020 có mỏ không còn sản lượng; các mỏ mới lộ thiên lớn
sẽ không có, nếu có là một số mỏ sản lượng dưới 0,5 - 1 triệu tấn/năm. Tỷ lệ sản
lượng than hầm lò tăng, nói lên điều kiện khai thác khó khăn tăng, chi phí đầu tư
xây dựng và khai thác tăng, dẫn tới giá thành sản xuất tăng cao. Cho nên, tuy trữ
lượng địa chất của bể than Quảng Ninh là trên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là
- Đồng bằng Nam Bộ: 5.000 triệu.m3
Trước đây vùng đồng bằng Nam Bộ được đánh giá có trữ lượng là 1 tỷ tấn và
còn cao hơn nữa. Nhưng nạn cháy rừng đó phá huỷ đi rất nhiều trữ lượng than.
11
Từ trước tới nay than bùn được khai thác chủ yếu dùng làm chất đốt sinh hoạt
(pha trộn với than antraxit của Quảng Ninh) và làm phân bón ruộng với quy mô
nhỏ, khai thác thủ công là chính, sản lượng khai thác hiện nay được đánh giá là
chưa đến 10 vạn tấn/năm. Khai thác than bùn làm chất đốt hay làm phân bón đều
không có hiệu quả cao, mặt khác việc khai thác than sẽ ảnh hưởng đến môi trường,
môi sinh trong vùng, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó điều
kiện khai thác, vận chuyển tiêu thụ, chế biến sử dụng than bùn cũng gặp không ít
khó khăn.
Than ngọn lửa dài
Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chất trên 100
triệu tấn. Hiện nay khai thác được thực hiện bằng phương pháp lộ thiên, than khai
thác chủ yếu phục vụ sản xuất xi măng ở Hải Phòng và Bỉm Sơn với sản lượng trên
dưới 100 nghìn tấn/năm. Nhưng do nhà máy Xi măng Hải Phòng sẽ ngừng hoạt
động, nhà máy xi măng Bỉm Sơn được cải tạo với công nghệ mới, nên không dùng
than Na dương từ 1999 trở đi. Than Na dương là loại than có hàm lượng lưu huỳnh
cao, có tính tự chảy, nên việc khai thác, vận chuyển, chế biến sử dụng rất khó khăn
và hạn chế. Do đó, Tổng Công ty Than Việt Nam đang nghiên cứu hợp tác với nước
ngoài xây dựng nhà máy điện trong vùng mỏ, để sử dụng loại than này. Vì nếu
không khai thác, than sẽ tự cháy và phá huỷ nguồn tài nguyên đồng thời gây tác
động xấu hơn đến môi trường.
Than nâu
Tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, trữ lượng dự báo 100 tỷ tấn. Theo
đánh giá sơ bộ, than có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho sản xuất điện, xi măng và
Giai đoạn 1999 – 2001: Trong giai đoạn này ngoài các chi phí cho hoạt động
phong trào và các công việc mang tính thường xuyên, Quỹ môi trường Than Việt
Nam hình thành đã đầu tư cho các công tác khác như lập ĐTM, QTMT, xây dựng
các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường mà chủ yếu là các đập, kè ngăn đất đá
trôi lấp, xử lý nước thải…. Các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường nói trên
chỉ ở phạm vi mỏ. Cũng trong giai đoạn này, Quỹ môi trường Than Việt Nam đã
đầu tư cho các công trình khắc phục ô nhiễm môi trường do khai thác than theo
thỏa thuận với UBND tỉnh Quảng Ninh.
Quỹ môi trường Than Việt Nam hình thành trên cơ sở sử dụng 1% chi phí
tính thêm vào giá thành được Chính phủ cho phép và các nguồn huy động khác.
Tổng cộng từ năm 1999 đến năm 2005, Quỹ môi trường than Việt Nam đã thu được
13
trên 415 tỷ đồng. Các hoạt động môi trường được chia thành 3 nhóm: trong ranh
giới mỏ do mỏ thực hiện; liên mỏ do TVN thực hiện và ngoài mỏ do TVN phối hợp
với địa phương thực hiện.
Giai đoạn 2002 đến nay: nhờ có sự tập trung nguồn kinh phí (quỹ môi
trường) công tác BVMT cũng được kế hoạch hóa. Tổng công ty có điều kiện tập
trung xử lý các dự án lớn, cùng với tỉnh Quảng Ninh thực hiện nhiều công trình
khắc phục ô nhiễm môi trường. Từ năm 2006 đến nay, sau khi thành lập TKV, quỹ
chi cho công tác BVMT là 6.000 đồng/tấn than. Với sản lượng 40 triệu tấn/năm,
mỗi năm TKV có 240 tỷ đồng để phục vụ công tác này.
+ Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác than:
Căn cứ vào các kế hoạch, chính sách của Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi
trường, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh có trách nhiệm xây dựng các kế
hoạch hành động phù hợp với đặc điểm của từng địa phương trong tỉnh. Trong
những năm qua Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh và UBND các tỉnh có hoạt động khai thác
than luôn có những chỉ đạo sâu sát đối với công tác quản lý nhà nước trong khai
Than antraxit (than đá) tại Quảng Ninh chiếm trên 90% trữ lượng cả nước,
khai thác than tại Quảng Ninh đã có quá trình trên 170 năm, có thể nói hoạt động
khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng ảnh hưởng rất lớn đến
môi trường, có 12 tác động chính gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, bao gồm:
1. Khai thác chưa thực sự hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên;
2. Tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường;
3. Tích tụ chất thải rắn;
4. Ảnh hưởng đến sử dụng nước, gây ô nhiễm nước, Tiềm ẩn nguy cơ về
dòng chảy axit;
5. Ô nhiễm không khí;
6. Ô nhiễm đất;
7. Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học;
8. Gây tiếng ồn và chấn động;
9. Tiềm ẩn sự cố môi trường;
10. Tác động đến các ngành công nghiệp khác;
11. Tác động đến kinh tế xã hội;
12. Ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của người lao động.
Hàng năm đất đá thải phát sinh từ hoạt động khai thác than trên địa bàn
khoảng trên 200 triệu m3, đất đá thải tạo nên những quả núi nhân tạo đang làm biến
dạng địa hình, địa vật, các bãi thải tích tụ thành núi ở Đông Triều, Uông Bí, Hạ
Long và Cẩm Phả... đang là các điểm ô nhiễm đến mức báo động.
15
- Bụi
Khoan
- Tiếng ồn
nước mỏ
- Tiếng ồn
Vận tải
đất đá
Đổ thải
đất đá
- Bụi
- Tiếng ồn
- Bụi
- Tiếng ồn
- Độ axit cao
- Kim loại
năng
- Bụi
- Sạt lở đất
- Bụi
- Ô nhiễm đất
Vận chuyển
- Tiếng