CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BHXH VÀ TÀI CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của Bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công
nghiệp xuất hiện ở Châu Âu. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), Bảo hiểm xã
hội là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua
một loạt các biện pháp cộng đồng để đối phó với những khó khăn về kinh tế -
xã hội do bị ngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả
năng lao động, tuổi già, chết đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho
các gia đình đông con. Bảo hiểm xã hội là một nội dung lớn nhất và ổn định
nhất của an sinh xã hội.
Trong bất cứ xã hội nào có nền kinh tế thị trường, nhu cầu bảo hiểm xã
hội luôn luôn là yêu cầu thiết yếu của cuộc sống của cán bộ, công chức, quân
nhân và người lao động (sau đây gọi tắt là người lao động). Ở hầu hết các
nước trên thế giới, dưới các hình thức khác nhau, bảo hiểm xã hội đã ra đời và
phát triển hàng trăm năm nay, từ tự phát đến tự giác, từ tự nguyện đến bắt
buộc, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, tùy theo trình độ phát triển kinh tế-
xã hội của từng quốc gia. Đến giữa thế kỷ 20, bảo hiểm xã hội đã được thừa
nhận trong bản Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông
qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có đoạn viết: “Tất cả mọi người
với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội. Quyền đó
đặt trên cơ sở sự thỏa mãn các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cần cho nhân
cách và sự tự do phát triển của con người...”. Năm 1952, Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) đã đưa ra Công ước số 102 về chế độ BHXH để khuyến cáo các nước
thành viên Liên hiệp quốc thực hiện.
Theo quy định của tổ chức ILO, Bảo hiểm xã hội có 9 chế độ trợ cấp:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thai sản
Ngoài ra, theo Quyết định số 37/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 21/3/2001 thì bảo hiểm xã hội còn thực hiện chế độ nghỉ dưỡng sức,
phục hồi sức khỏe cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.
1.1.1.2.Bản chất BHXH, phân biệt BHXH và bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm xã hội là một hệ thống các chế độ trợ cấp nhằm góp phần thay
thế thu nhập (tiền lương hoặc tiền công) của người lao động khi gặp phải
những trường hợp rủi ro bị mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí hoặc tử tuất để
đảm bảo cuộc sống của người lao động và gia đình họ bằng cách hình thành
một quỹ tài chính để trợ cấp do các bên liên quan đến việc sử dụng lao động và
bản thân người lao động đóng góp.
Bảo hiểm xã hội ra đời là yêu cầu khách quan đối với người lao động và
xã hội. Xét từ phía người lao động, trong quá trình lao động sản xuất, kinh
doanh, người lao động luôn gặp phải những trường hợp rủi ro khách quan
như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu... làm cho họ
bị mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, giảm hoặc mất nguồn thu
nhập từ tiền lương, tiền công để đảm bảo cuộc sống; hoặc người lao động bị
chết mà con cái ở tuổi vị thành niên, bố mẹ già yếu mất nơi nương tựa. Vì thế
để có nguồn tài chính thay thế cho thu nhập từ tiền lương, tiền công nhằm ổn
định cuộc sống cho bản thân và gia đình người lao động khi gặp rủi ro hoặc
già yếu tất yếu khách quan phải tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội.
Xét từ phía xã hội, quy luật bảo toàn nòi giống, duy trì lực lượng lao
động cho tương lai của xã hội, những người lao động nữ trong quá trình sản
xuất công tác họ còn phải làm nhiệm vụ người mẹ sinh đẻ, nuôi con, chăm sóc
con lúc ốm đau... Trong thời gian thai sản, nuôi con nhỏ, chăm sóc con lúc ốm
đau họ phải nghỉ lao động nên mất nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Để đảm bảo nguồn tài chính cho các nhu cầu đó tất yếu khách quan phải tạo
lập quỹ bảo hiểm xã hội thích hợp.
Mặt khác, do sự vận động của các quy luật nội tại của nền kinh tế thị
trường đặc biệt là quy luật cạnh tranh nên trong quá trình sản xuất kinh
lợi nhuận mà vì an sinh xã hội. Thu của bảo hiểm xã hội dùng để chi trả cho các
chế độ bảo hiểm xã hội. Nếu thu không đủ chi, Ngân sách Nhà nước trợ cấp.
Hầu hết các nước trên thế giới, Ngân sách Nhà nước đều cấp bù cho quỹ bảo
hiểm xã hội một khối lượng rất lớn như: Đan mạch Nhà nước cấp hỗ trợ 81%,
Ai len là 66%..., ở nước ta, theo chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành, người
lao động và chủ sử dụng lao động đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội 20% tiền
lương. Trong quãng thời gian người lao động nghỉ hưu, quỹ bảo hiểm xã hội
chỉ đủ chi trả cho 8 năm, từ năm thứ 9 Ngân sách Nhà nước cấp bù.
Nhưng mục đích của loại hình bảo hiểm thương mại là lợi nhuận. Các
hoạt động bảo hiểm thương mại được thực hiện theo Luật Công ty và Luật
doanh nghiệp, phải hạch toán kinh doanh, phải đóng thuế cho Nhà nước và
nếu thua lỗ không được Nhà nước cấp bù. Đó là những điểm khác nhau cơ bản
giữa bảo hiểm xã hội và các loại bảo hiểm thương mại.
1.1.1.3. Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động bảo hiểm xã hội là loại hoạt động dịch vụ công mang tính xã
hội cao lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động của bảo hiểm
xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế chính trị xã hội.
-Bảo hiểm xã hội tạo ra mạng lưới an toàn xã hội cho những đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần ổn định an ninh chính trị xã hội. Trong
cuộc sống hoạt động của con người, họ luôn phải đối mặt với những rủi ro như
ốm đau, tai nạn, tuổi già... làm giảm khả năng lao động dẫn đến tình trạng thu
nhập thấp hoặc mất khả năng lao động, dưới hình thức huy động các nguồn
vốn đóng góp từ người lao động, chủ sử dụng lao động, Nhà nước bảo hiểm xã
hội trợ cấp và khắc phục những khó khăn về kinh tế cho người lao động. Nếu
không có nguồn tài chính đảm bảo cho người lao động khi mất thu nhập thì họ
có thể đi vào con đường xấu của tệ nạn xã hội. Tệ nạn đó sẽ làm cho xã hội trở
nên rối ren, nền kinh tế-chính trị-xã hội mất ổn định. Trên giác độ đó bảo hiểm
xã hội góp phần tạo lập hệ thống an toàn chính trị-xã hội, giữ vững trật tự an
ninh xã hội.
- Bảo hiểm xã hội góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất. Hoạt động
nghỉ việc vì nhiều lý do khác nhau qua đó BHXH đã trở thành một công cụ quan
trọng trong việc tái phân phối thu nhập giữa những người lao động tham gia
BHXH, thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm duy trì và bảo vệ công
bằng xã hội.
1.1.2. Mt s ni dung v ti chớnh Bo him xó hi
1.1.2.1.Bn cht ti chớnh bo him xó hi, phõn bit qu bo him xó
hi v Ngõn sỏch nh nc
hiu rừ bn cht ti chớnh ca bo him xó hi ta tỡm hiu ti chớnh
bo him xó hi v qu bo him xó hi.
Ti chớnh c c trng bi s vn ng c lp tng i ca tin t
vi chc nng phng tin thanh toỏn v phng tin ct tr trong quỏ trỡnh
to lp hay s dng cỏc qu tin t i din cho nhng sc mua nht nh
cỏc ch th kinh t-xó hi. Ti chớnh phn ỏnh tng hp cỏc mi quan h kinh
t trong phõn phi cỏc ngun lc ti chớnh thụng qua to lp hay s dng cỏc
qu tin t nhm ỏp ng yờu cu tớch lu hay tiờu dựng ca cỏc ch th (phỏp
nhõn hay th nhõn) trong xó hi.
Ti chớnh bo him xó hi l thut ng thuc phm trự ti chớnh, l mt
khõu trong h thng ti chớnh quc gia (ti chớnh bo him gm cỏc khõu: ti
chớnh bo him xó hi v ti chớnh bo him thng mi) tham gia vo quỏ
trỡnh phõn phi, s dng cỏc ngun ti chớnh nhm m bo n nh cuc sng
ca ngi lao ng khi gp ri ro, gúp phn phỏt trin kinh t xó hi ca t
nc. Chỳng ta cú th thy rừ qua s sau:
ngân sách nhà nƯớC
tài chính
doanh
nghiệp
thị trƯờng
tài chính
tín
dụng
chất tài chính bảo hiểm xã hội nên tiêu thức phân loại nội dung của quỹ bảo
hiểm xã hội chủ yếu phân theo nguồn hình thành và nội dung chi của quỹ vì
trong các nội dung kinh tế-xã hội của quỹ bảo hiểm xã hội thì thu và chi là
những nội dung chủ yếu của quỹ.
Nguồn hình thành quỹ BHXH (thu của quỹ BHXH)
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nhiều nguồn, trong đó có hai
nguồn chính là nguồn đóng góp của các đối tượng thuộc diện bắt buộc (gọi tắt
là nguồn bắt buộc) theo quy định và nguồn đóng góp của các đối tượng tự
nguyện (gọi tắt là nguồn tự nguyện). Về mặt hình thức, hai nguồn này tuy có
khác nhau về phạm vi, đối tượng và mức độ đóng góp, song nội dung kinh tế-xã
hội lại tương đối đồng nhất với nhau ở những điểm sau:
-Cả hai nguồn này đều có chung một mục đích là hình thành quỹ bảo
hiểm xã hội để chi trả cho các chế độ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội
được hình thành do các bên tham gia đóng góp, là quỹ tài chính trung gian độc
lập với ngân sách nhà nước.
-Mức thu bảo hiểm xã hội từ hai nguồn này và cơ chế chi trả cho các chế
độ bảo hiểm xã hội đều do Nhà nước quy định. Quỹ bảo hiểm xã hội được hạch
toán độc lập theo nguyên tắc có thu mới có chi, thu trước chi sau vì vậy quỹ
bảo hiểm xã hội vừa mang nội dung kinh tế vừa mang nội dung xã hội rất đậm
nét. Quỹ bảo hiểm xã hội luôn luôn phải được bảo tồn và phát triển để đảm bảo
đủ lượng tiền tệ cần thiết chi trả cho các chế độ bảo hiểm xã hội đúng thời
gian, đúng đối tượng và đủ số lượng. Phần quỹ tạm thời nhàn rỗi được phép
đầu tư phát triển và các hoạt động đầu tư này đều theo quy định của Chính
phủ và được Chính phủ bảo lãnh.
Như vậy, dù quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nguồn bắt buộc
hay tự nguyện và mục đích chi trả cho các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội
nào thì đều có chung những nội dung kinh tế-xã hội nêu trên.
Chi của quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành để chi cho các chế độ BHXH theo
nguyên tắc có thu mới có chi, thu trước chi sau. Vì vậy quỹ bảo hiểm xã hội chỉ
người sử dụng lao động đóng bảo hiểm hưu trí, tử tuất nhằm mục đích đảm
bảo lâu dài, ổn định cuộc sống cho bản thân người lao động và gia đình họ khi
già yếu không có khoản thu nhập từ lao động. Mức hưởng trợ cấp hưu trí phụ
thuộc vào mức đóng góp và thời gian đóng phí bảo hiểm ít hay nhiều còn thời
gian hưởng hưu trí là không có giới hạn, hưởng đến khi chết mà tuổi thọ của
từng người lao động lại khác nhau nên tính hoàn trả không đồng đều, cùng
thời gian đóng như nhau nhưng người nào sống lâu hơn thì được hưởng hưu
trí nhiều hơn, thậm chí hưởng nhiều hơn cả mức đóng góp. Phần hưởng nhiều
hơn đó được quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo, đó chính là tính chất xã hội, tính
cộng đồng của bảo hiểm xã hội.
Chế độ hưu trí và tử tuất thường được gọi là chế độ dài hạn vì từ khi
người lao động tham gia bảo hiểm đến khi nghỉ hưu được hưởng chế độ hưu
trí phải trải qua một thời gian dài 30 năm. Số dư của quỹ bảo hiểm xã hội thực
chất là số tiền ứng trước của người lao động và người sử dụng lao động cho
mục đích bảo hiểm hưu trí. Trong suốt 30 năm đó, quỹ vẫn thuộc sở hữu của
người lao động có tham gia đóng góp.
Như vậy ta có thể thấy điều kiện tồn tại và phát triển của quỹ bảo hiểm
xã hội chi cho chế độ hưu trí và tử tuất là:
-Muốn được hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất thì người lao
động, người sử dụng lao động phải tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã
hội. Quyền lợi được hưởng bảo hiểm xã hội tương ứng với mức đóng góp và
thời gian đóng góp bảo hiểm của từng người lao động.
-Số dư tạm thời nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội thuộc về sở hữu của
người lao động, có tính chất dài hạn nên có thể đầu tư phát triển kinh tế-xã hội
nhằm bảo toàn, phát triển quỹ và nó phải được tồn tích mà không được sử
dụng vào mục đích khác.
-Mức đóng góp bảo hiểm hưu trí, tử tuất phải được cơ cấu vào tiền
lương, tiền công và được hạch toán vào giá thành sản phẩm để tạo nguồn tài
chính cho người lao động và người sử dụng lao động đóng góp phí bảo hiểm.
-Phải có cơ chế quản lý quỹ bảo hiểm đến từng người lao động thuộc các