VIÊM NHIỄM MIỆNG - HÀM MẶT
Mục tiêu học tập:
1. Trình bày được nguyên nhân, giai đoạn lâm sàng và biến chứng của viêm mô tế bào
ở vùng hàm mặt.
2. Trình bày được nguyên tắc điều trị và xử trí ban đầu các trường hợp viêm mô tế bào
thông thường.
3. Thực hiện được các biện pháp dự phòng.
I. Đại cương
•
Ở Việt Nam, viêm nhiễm vùng miệng - hàm mặt là loại bệnh thường gặp ở bất
cứ lứa tuổi nào. Bệnh cảnh lâm sàng có thể nhẹ, nên việc chẩn đoán và điều trị
đơn giản, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp chẩn đoán khó và điều trị phức
tạp, thậm chí có thể dẫn đến những biến chứng nặng, nguy hiểm đến tính mạng
nếu không chẩn đoán đúng và xử trí kịp thời. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
viêm nhiễm vùng miệng - hàm mặt, nhưng ở bài này chúng ta chỉ kể đến
nguyên nhân do răng, vì đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây nên viêm
nhiễm ở vùng miệng - hàm mặt mà chúng ta thường gặp trong bệnh viện và ở
cộng đồng.
•
Mặc dù trong những năm gần đây với đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, đời
sống của nhân dân ngày càng được nâng cao về vật chất lẫn tinh thần, cùng với
sự tiến bộ lớn về phòng bệnh và chữa bệnh răng miệng, song viêm nhiễm cấp
và mãn tính do răng vẫn còn là vấn đề quan tâm lớn của các thầy thuốc chuyên
khoa Răng - Hàm - Mặt và của toàn xã hội.
II. Nhắc lại giải phẫu
•
Tổ chức tế bào là tổ chức liên kết lỏng lẻo, gồm những bó sợi keo, sợi chun, và
những tế bào liên kết tự do, tất cả xen kẽ nhau. Những vùng tổ chức mỡ gồm có
những tế bào mỡ rất lớn, hình cầu hay đa diện, làm thành những thùy hay đám,
•
Thành trước là bờ sau của cành lên xương hàm dưới.
•
Thành trong: Giữa cân liên cơ chân bướm và dây chằng trâm - hàm có một khe
làm thông vùng mang tai với khoang bên hầu, qua khe này tuyến mang tai kéo
dài vào khoang bên hầu.
•
Thành trên tương ứng với ống tai ngoài.
•
Thành dưới là giải hàm đi từ cơ ức-đòn-chũm tới góc hàm, ngăn vùng mang tai
và vùng dưới hàm.
•
Các thành phần giải phẫu có trong vùng mang tai
o
Tuyến mang tai, ống Sténon, cơ cắn, xương hàm dưới, cơ chân bướm
trong, thành hầu vùng amiđan, cơ ức - đòn - chũm, cơ nhị thân, cơ trâm
móng, dây chằng trâm móng, dây chằng trâm hàm, cơ trâm lưỡi, cơ trâm
hầu.
o
Mạch máu và thần kinh mặt đi qua những thành phần nói trên.
III. Nguyên nhân
1. Do răng
•
Trước hết là những biến chứng do sâu răng, viêm tủy, tiếp theo là viêm tổ chức
quanh chóp răng. U hạt và nang răng hình thành quanh chóp răng sớm hay
muộn cũng bị viêm, và từ đó viêm lan rộng đến tổ chức tế bào và phần mềm.
•
Sang chấn răng (gây rạn nứt, đụng giập, sai khớp, gãy) làm tủy răng bị chết sau
đó bị nhiễm khuẩn.
•
Nhiễm khuẩn tuyến nước bọt: viêm tuyến nước bọt, sỏi tuyến, sỏi ống tiết nước
bọt gây nhiễm khuẩn. Từ nhiễm khuẩn tuyến hay ống tiết nước bọt gây nhiễm
khuẩn phần mềm tương ứng.
•
Nhiễm khuẩn da và niêm mạc như viêm nang lông, viêm da, viêm miệng, nhọt
ở mặt (nhiễm tụ cầu khuẩn nặng, đinh râu). Đinh râu có thể gây nhiễm khuẩn
nặng.
•
Nhiễm khuẩn amiđan có thể gây áp xe khoang bên hầu hay quanh amiđan.
•
Viêm xoang hàm trên biến chứng gây viêm xương hàm và sau đó nhiễm khuẩn
phần mềm. Tai nạn do kỹ thuật chọc xoang gây nhiễm khuẩn vào các vùng
quanh hàm.
•
Tai nạn do gây tê: thuốc tê, dụng cụ không vô khuẩn.
IV. Triệu chứng lâm sàng
1. Thể cấp tính
•
Thường tiến triển qua hai giai đoạn
1.1. Viêm thanh dịch
•
Đây là giai đoạn đầu của viêm mô tế bào (thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày).
1.1.1. Về phương diện giải phẫu bệnh
•
Có sự co tiểu động mạch tại vùng viêm, sự co mạch này chỉ thoáng qua rất
ngắn.
•
Tiếp theo là sự giãn mạch thứ phát, kéo dài làm tăng lưu lượng máu tại chỗ (
huyết tương, bạch cầu xuyên mạch, thấm vào tổ chức liên kết xung quanh, tuần
hoàn tại chỗ chậm lại, gây phù nề tại vùng viêm.
Tại chỗ
o
Vùng răng nguyên nhân vẫn đau.
o
Lợi xung quanh vùng răng đau đỏ, phù nề, có mủ chảy ra khi ta ấn vào
o
Vùng sưng đã khu trú rõ, da bề mặt căng bóng, có màu đỏ hay trắng,
o
Sờ vào chỗ sưng rất đau, không di động, dính vào bề mặt nông và sâu,
khi ta ấn ngón tay vào thì để lại vết lõm, hoặc khi ta khám bằng hai ngón
tay có dấu hiệu chuyển sóng (cảm giác có dịch bên dưới). Có thể vẫn còn
co khít hàm tạm thời.
•
Toàn thân: Sốt nhẹ 38°C, người mệt, có thể có hạch dưới hàm cùng bên.
2. Thể mạn tính
2.1. Nguyên nhân
•
Thường do vi khuẩn yếu, do điều trị không đúng hay dùng kháng sinh không
hợp lý.
2.2. Lâm sàng
•
Đây là một ổ mủ nhỏ, xung quanh là tổ chức hạt, được bao bọc ngoài cùng là
lớp vỏ xơ keo.
•
Được biểu hiện:
o
Nổi hòn (hay một cục tròn, bầu dục) trên da, mật độ chắc, da phủ trên bề
mặt nhăn, màu sắc bình thường hoặc thâm tím, sờ không đau, dính vào
da hoặc chỉ thấy một dải cứng nổi lên chạy dài từ ổ viêm đến răng
nguyên nhân.
ngay sau khi tủy bị thương tổn, hay sau một thời gian bị sang chấn, áp xe tụ
quanh chóp nhưng có thể tiến triển dưới màng xương, trên màng xương, vào
phần mềm.
•
Lâm sàng
o
Giai đoạn cấp tính có phản ứng toàn thân, sốt, sưng to quanh vùng chân
răng đau.
o
Trước khi hình thành áp xe, chỉ sưng tổ chức quanh răng, sờ thấy một
mảng cứng, bệnh nhân rất đau. Khi mủ đã hình thành, xuyên qua màng
xương vào phần mềm, niêm mạc tiền đình, thì có dấu hiệu chuyển sóng
hay ấn lõm.
•
Xử trí