Viêm Gan Siêu Vi B và Thai Phụ
I- Lây Truyền:
Virus Viêm gan B (HBV) là một virus có 2 chuỗi DNA thuộc họ
Hepadnaviridae.
HBV được tìm thấy với số lượng cao ở trong máu, và với số lượng thấp hơn ở
tinh dịch, dịch tiết âm đạo và các dịch tiết từ vết thương. Tại Mỹ, lây truyền qua đường
tình dục là nguyên nhân chủ yếu gây nhiễm HBV ở người lớn [1].
Khoảng 25% những người có quan hệ tình dục thường xuyên với bệnh nhân
nhiễm HBV sẽ trở thành huyết thanh dương tính. [2]
Khoảng 50% các trường hợp nhiễm HBV cấp ở người lớn có triệu chứng và 1%
trong số đó diễn biến đến suy gan cấp và tử vong.
Các bệnh nhân nhiễm cấp biểu hiện lâm sàng bằng các triệu chứng viêm gan
cấp như chán ăn, buồn nôn, nôn, sốt, đau bụng và vàng da [1].
Vàng mắt, vàng da trong Viêm Gan B cấp
10-20% phụ nữ HBsAg dương tính sẽ truyền virus cho con sơ sinh nếu trẻ
không được chủng ngừa (miễn dịch chủ động hoặc thụ động).
Phụ nữ HBsAg dương tính có thể truyền virus cho con sơ sinh
Giai đoạn chu sinh là lúc dễ lây truyền virus HBV từ mẹ sang thai nhi nhất
Ở những phụ nữ HBsAg và HBeAg dương tính, lây truyền hàng dọc mẹ-con
(Mother to Child Transmission=MCT) xảy ra ở khoảng 90% trường hợp [2].
Giai đoạn cuối của thai kỳ là lúc thai nhi dễ bị lây nhiễm HBV nhất
Ở bệnh nhân viêm gan B cấp, lây truyền theo hàng dọc xảy ra cho 10% trẻ sơ
sinh khi nhiễm trùng xảy ra ở 3 tháng đầu của thai kỳ
Lây truyền theo hàng dọc xảy ra cho 80 -90% trẻ sơ sinh khi mẹ nhiễm HBV
cấp xảy ra ở 3 tháng cuối thai kỳ [2].
II- Di Chứng
Nhiễm HBV mãn xảy ra ở 90% trẻ bị lây nhiễm, 60% ở trẻ nhiễm <5 tuổi , và ở
2%-6% người lớn.
Trong số những bệnh nhân nhiễm HBV mãn, nguy cơ tử vong do xơ gan và ung
tính.
Nếu dương tính, kết quả xét nghiệm này cần được báo cáo cho cơ quan đảm
trách về tiêm phòng-phòng chống nhiễm HBV chu sinh để đảm bảo điều trị tốt cho
người mẹ và tiêm phòng thích hợp sau phơi nhiễm cho trẻ có nguy cơ [1].
Nhân viên chăm sóc y tế cho trẻ cần được thông báo về tình trạng HBsAg
dương tính của người mẹ và thông tin về việc trẻ đã được tiêm phòng vaccin HBV và
tiêm globulin miễn dịch viêm gan B (HBIG) hay chưa?
IV- Điều Trị
Điều trị hỗ trợ đối với nhiễm HBV cấp. Bệnh nhân viêm gan B mãn cần được
chăm sóc bởi các bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm trong điều trị viêm gan B bằng
alpha-interferon, lamivudine và các thuốc khác [1]. Interferon hình như không có tác
dụng phụ trên phôi và thai. Tuy nhiên, dữ liệu còn giới hạn, do đó cần cân nhắc kỹ lợi
hại trước khi dùng cho thai phụ [7-9].
Các dữ liệu ban đầu không cho thấy Lamivudine gây ra quái thai [10].
Lamivudine đã được dùng trong nửa thai kỳ sau với mục đích cố gắng phòng tránh lây
truyền HBV chu sinh, nhưng kết quả chưa rõ rệt [11,12]
V- Phòng Ngừa Sau Phơi Nhiễm đối với Phụ Nữ có thai [1, 13]
Tiêm phòng Viêm Gan B có tác dụng bảo vệ tốt cho người chưa nhiễm HBV
A- Phơi nhiễm với những người đang bị Viêm Gan B cấp
Phơi nhiễm xảy ra sau quan hệ tình dục: 14 ngày sau lần quan hệ gần đây nhất
1- Tiêm một đợt vaccin ngừa HBV vào cơ delta
+ 2 loại vaccin Viêm Gan B đơn giá (monovalent) sẵn có để tiêm chủng trước
phơi nhiễm và sau phơi nhiễm là Recombivax HB® (Merck and Co., Inc.) và Engerix-
B (SmithKline Beecham Biologicals).
2- Thêm một liều globulin miễn dịch Viêm Gan B (HBIG) 0.06 mL/kg, tiêm
bắp vào tay bên đối diện.
+ Để phòng tránh sau tổn thương xuyên da hoặc niêm mạc, cần tiêm thêm một
liều HBIG 1 tháng sau đó.
B- Phơi nhiễm với những người nhiễm HBV mãn