LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - Pdf 66

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
I. Một số vấn đề cơ bản về WTO.
1. Quá trình hình thành và phát triển của WTO.
Tháng 2 năm 1946, Hội đồng kinh tế và xã hội Liên Hiệp Quốc đã
triệu tập một hội nghị bàn về thương mại và việc làm. Văn kiện cuối cùng
của hội nghị này là Hiến chương Lahabana. Đây là cơ sở để 23 nước
thương lượng ký Nghị định thư tạm thời về việc thi hành "Hiệp định chung
về thuế quan và mậu dịch (GATT) vào ngày 23 tháng 10 năm 1947, chính
thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948.
Và thế là GATT, công ước mang tính chất lâm thời, trở thành thoả
thuận đa phương then chốt về mậu dịch toàn cầu. Hiệp định GATT trở
thành văn kiện công pháp quốc tế đầu tiên điều chỉnh quan hệ thương mại
giữa các quốc gia mang tính chất đa phương. Nhiệm vụ chính của GATT là
tự do hoá thương mại, cắt giảm thuế quan, bãi bỏ các hạn chế về nhập
khẩu và chấm dứt mọi phân biệt đối xử về kinh tế và buôn bán giữa các
nước. Bất cứ sự thay đổi nào trong hiệp định cũng đòi hỏi phải được tất cả
các thành viên đồng ý. Nếu có sự tranh chấp, mọi thành viên phải đồng
thuận về giải pháp.
Khi GATT ra đời, các quốc gia chỉ xem đây là một giải pháp dung hoà
tạm thời nhưng trên thực tế nó tồn tại trong một thời gian dài. GATT đã
trải qua bảy vòng đàm phán, không kể vòng khai sinh ra nó gồm: 1949
(vòng Annecy), 1951 (vòng Torquay), 1956 (vòng Geneva), 1960 - 1961
(vòng Dillon), 1964 - 1967 (vòng Kennedy), 1973 - 1979 (vòng Tokyo) và
1986 - 1994 (vòng Uruguay).
Sau hơn 40 năm tồn tại của mình, GATT đã góp phần đáng kể vào
tăng trưởng kinh tế thế giới. Nhưng do cơ chế giải quyết tranh chấp không
hiệu quả và người được lợi chủ yếu là Mỹ nên các quốc gia khác đòi phải có
một tổ chức thay thế GATT có hiệu quả hơn. Trong vòng Uruguay (vòng
đàm phán cuối cùng của GATT) các quốc gia thành viên đã đồng thuận
thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để kế vị GATT từ ngày 1
tháng 1 năm 1995.

huy chức năng tác dụng về thương mại hàng hoá quốc tế trong tổ chức
mới này.
2. Mục tiêu và chức năng chủ yếu của WTO.
2.1. Mục tiêu của WTO.
Mục tiêu của WTO là khuyến khích tăng dần tự do hoá thương mại
thông qua hoạt động đàm phán và thực thi hàng loạt các thoả thuận
thương mại đa phương. Đây là mục tiêu to lớn của WTO và nó được thể
hiện xuyên suốt, thống nhất trong tất cả các Hiệp định của WTO. Chẳng
hạn, Hiệp định đa phương đầu tiên về thương mại trong dịch vụ đã giải
thích rõ nghĩa vụ của các thành viên như phạm vi thi hành, đối xử quốc gia,
tiếp cận thị trường và đưa ra một khuôn khổ cho tiến trình tự do hoá trong
thương mại dịch vụ. Rõ ràng tất cả các điều trên đều nhằm phục vụ cho
mục tiêu tự do hoá thương mại.
Có thể thấy rõ nhất mục tiêu này là ở chỗ WTO đã cấm phân biệt đối
xử giữa các thành viên, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước.
Chẳng hạn, theo Điều I về đãi ngộ tối huệ quốc - MFN, các thành viên phải
đối xử với sản phẩm của các thành viên khác không kém hơn sự đối xử bất
cứ quốc gia nào khác. Một hình thức thứ hai về không phân biệt đối xử gọi
là "đối xử quốc gia", yêu cầu một khi hàng ngoại đã vào một thị trường
phải được đối xử không kém thuận lợi so với hàng nội.
Biểu hiện rõ ràng hơn cả trong mục tiêu này chính là vấn đề cắt giảm
thuế quan. Từ năm 1948, sau khi GATT thành lập, trải qua các vòng thương
lượng đã tiến hành giảm thuế từng bước, đến vòng cuối cùng, vòng
Uruguay thuế đã được giảm mạnh hơn, đồng thời tăng đáng kể số lượng
các mặt hàng cần được giảm thuế. Tính ra, theo WTO, trong vòng 5 năm đã
cắt giảm được 40% thuế quan đánh vào các mặt hàng công nghiệp nhập
vào các nước phát triển, từ mức thuế bình quân 6,3% giảm xuống còn
3,8%, đưa giá trị hàng công nghiệp nhập khẩu được miễn thuế ở các nước
phát triển từ 20% lên 44%.
Ngoài ra, trong lời mở đầu văn bản khai sinh WTO còn bao gồm một

thực hiện các chức năng của WTO.
3. Các nguyên tắc cơ bản của WTO.
3.1. Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế.
Theo điều khoản về "đãi ngộ tối huệ quốc - MFN", mỗi nước thành
viên sẽ dành sự ưu đãi của mình đối với sản phẩm của các thành viên khác,
không có nước nào dành lợi thế thương mại đặc biệt cho bất kỳ một nước
nào khác hay phân biệt đối xử chống lại nước đó. Tất cả đều trên cơ sở
bình đẳng và chia sẻ lợi ích về mậu dịch trong mọi lĩnh vực. Một loại hình
chống phân biệt đối xử khác là "đối xử quốc gia". Loại hình này đòi hỏi khi
hàng hoá thâm nhập vào một thị trường thì nó phải được đối xử không
kém ưu đãi so với hàng hoá tương tự sản xuất trong nước. Ngoài ra, WTO
còn đưa ra các điều khoản không có sự phân biệt đối xử khác bao gồm các
hiệp định, các quy tắc về xuất xứ, kiểm nghiệm hàng hoá trước khi giao
hàng, về biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và về áp dụng các tiêu
chuẩn vệ sinh và kiểm dịch.
3.2. Sự thâm nhập thị trường ngày càng tăng và có thể dự đoán
trước.
Hệ thống thương mại đa phương là một sự cố gắng của các quốc gia
nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư, người chủ, người lao động và người
tiêu dùng một môi trường kinh doanh thuận lợi để có thể khuyến khích
thương mại, đầu tư và tạo công ăn việc làm, cũng như các cơ hội và giá cả
thấp trên thị trường. Môi trường đó cần được ổn định và có khả năng dự
đoán trước, đặc biệt là với những công việc liên quan đến đầu tư và phát
triển.
Vấn đề mấu chốt của những điều kiện thương mại có thể dự báo
trước là sự rõ ràng của luật pháp trong nước, các quy định và thực tiễn.
Nhiều hiệp định của WTO chứa đựng những điều khoản rõ ràng đòi hỏi
phải công bố trong toàn quốc, ví dụ thông qua các báo chí, các phương tiện
thông tin đại chúng hay thông báo chính thức với WTO. Phần lớn công việc
của các quan chức WTO có liên quan là xem xét lại những thông báo này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status