PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH PHÁT
TRIỂN KTXH CỦA HUYỆN ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG
NINH TRONG THỜI GIAN QUA
1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
1.1. Vị trí địa lý.
Huyện Đông Triều nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý:
- Từ 21
0
29’04’’ đến 21
0
44’55’’ vĩ độ Bắc;
- Từ 106
0
33’ đến 106
0
44’57’’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang, phía
Nam giáp huyện Thủy Nguyên - thành phố Hải Phũng và huyện Kinh Mụn tỉnh
Hải Dương, phía Đông giáp thị xã Uông Bí, phía Tây giáp huyện Chí Linh tỉnh
Hải Dương.
Diện tích tự nhiên toàn huyện được xác định theo Chỉ thị 364/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ là 39.657,01 ha, bằng 6,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Huyện Đông Triều có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Mạo
Khê và Đông Triều. Dân số trung bình năm 2008 là 152.438 người, mật độ dân
số 397 người/km
2
, cao hơn nhiều so với mức trung bình chung toàn tỉnh là 183
người/km
2
.
Đông Triều là huyện nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà
C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 30
- 32
0
C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới là 38
0
C, nhiệt độ trung bình thấp nhất từ
14,5 - 15,5
0
C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 3,2
0
C.
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83% tương
đương với mức trung bình so với toàn tỉnh. Độ ẩm không khí thường thay đổi
theo mùa và các tháng trong năm. Các tháng có độ ẩm không khí cao nhất là
tháng 3,4 Và tháng 8 với độ ẩm trên 87%, các tháng có độ ẩm không khí thấp
nhất là tháng 2-11-12 với độ ẩm 74 - 77%.
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm ở Đông Triều tương đối thấp
so với toàn tỉnh, đạt mức 1.442 mm, phân bố không đều trong năm và phân
thành 2 mùa mưa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 75-80% tổng
lượng mưa, cao nhất là tháng 7 đạt 294 mm; Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3
năm sau, lượng mưa chỉ chiếm từ 20-25% lượng mưa cả năm, tháng có lượng
mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 chỉ có 4-30mm.
Chế độ gió - Bão: Cũng giống như các tỉnh miền Bắc khác, trên địa bàn
huyện Đông Triều thịnh hành hai loại gió chính là gió đông nam và gió mùa
đông bắc. Gió đông nam xuất hiện vào mùa mưa, thổi từ biển vào mang theo
hơi nước và gây ra mưa lớn. Mỗi năm huyện chịu ảnh hưởng trực tiếp của 3 - 5
cơn bão với sức giật từ cấp 8 đến cấp 10, giật trên cấp 10. Gió mùa đông bắc
xuất hiện vào mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 hoặc tháng 5 năm
sau, tốc độ gió từ 3-4 m/s, gió đông bắc tràn về thường lạnh và mang theo giá
rét
đến thịt trung bình, thích hợp gieo trồng nhiều loại cây lúa, rau mầu.
- Đất phù sa cũ bạc màu: là lọai đất phù sa cũ, qua quá trình bị rửa trụi, bào
mòn dẫn đến đất xấu. Thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, dễ lắng đọng,
diện tích 1.200 ha, chiếm 3,02% diện tích tự nhiên, tập trung nhiều ở các xã vên
quốc lộ 18A.
* Đất đồi núi: là loại đất chủ yếu ở huyện Đông Triều với diện tích
30.919,6 ha, chiếm 77,84% diện tích đất tự nhiên, bao gồm 4 loại đất chính là:
đất lúa nước vùng đồi núi, đất feralit điển hình nhiệt đới ẩm, đất feralit trên núi
và đất feralit màu vàng nhạt.
1.4.2. Tài nguyên nước.
Huyện Đông Triều có nguồn tài nguyên nước rất phong phú, bao gồm cả
nguồn nước mặt và nứơc ngầm.
Nước mặt: do có hệ thống sông suối khá lớn bao bọc toàn bộ phía tây bắc,
tây nam và phía nam của huyện với mật độ phân bố đều trên bề mặt đất đai
toàn huyện nên nguồn nước mặt khá dồi dào. Huyện có 44 hồ đập lớn nhỏ với
tổng trữ lượng và dòng chảy vào khoảng 500 tỷ m
3
, đảm bảo cung cấp nước tưới
sản xuất nông nghiệp phục vụ công nghiệp và đời sống dân sinh.
Nước ngầm: Nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn ở các xã Bình khê, Đức
Chính, Tràng An, Tân Việt có khả năng khai thác phục vụ đời sống nhân dân
theo chương trình Nước sạch nông thôn, phục vụ sản xuất nông nghiệp, kinh tế
trang trại, vườn đồi và phát triển công nghiệp.
Chất lượng nguồn nước ngầm khá tốt, theo báo cáo khảo sát địa chất thì
hàm lượng nước tại các xã Tân Việt, Đức Chính, Tràng An, Bình Khê đảm bảo
tiêu chuẩn nước sinh hoạt, riêng khu vực Mạo Khê có hàm lượng sắt trong nước
nhiều, cần phải có biện pháp khử sắt trước khi đưa vào sử dụng.
1.4.3. Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của huyện Đông Triều là 15296,91 ha, chiếm 38%
diện tích đất tự nhiên, trong đó rừng sản xuất 5.369,33 ha; đất rừng phòng hộ
- Bò sát, lưỡng thê có 37 loài.
Hiện nay các loài động vật vẫn tồn tại nhưng số lượng còn rất ít do quá
trình săn bắt của con người, vì vậy huyện cần có biện pháp bảo vệ nguồn động
vật quý hiếm này.
1.4.4. Tài nguyên khoáng sản.
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện gồm có 2 nhóm: nhóm khoáng
sản nhiên liệu và nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng.
- Nhóm khoáng sản nhiên liệu: chủ yếu là than đá, trữ lượng khoảng 60
triệu tấn, cho phép khai thác 1,5 - 2 triệu tấn/năm. Hiện tại mỗi năm khai thác
trên 1 triệu tấn than sạch. Đây là nguồn tài nguyên tạo ra các ngành công nghiệp
chủ đạo như nhiệt điện, cơ khí, sản xuất xi măng…
- Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng bao gồm:
+ Đất sét: nằm theo dải vòng cung Đông Triều từ Bình Dương đến Hồng
Thái Đông, tập trung nhiều nhất ở Bắc Mã (Bình Dương), Việt Dân, Yên Thọ là
những khu vực có vùng đất sét dùng để sản xuất gốm, sành sứ. Còn lại là sét
thường có thể dùng để sản xuất gạch nung với trữ lượng trên 50 triệu m
3
, nếu
khai thác tốt hàng năm có thể sản xuất từ 150 – 200 triệu viên gạch, ngói.
+ Cao lanh: tập trung ở xã Yên Đức đảm bảo cung cấp để sản xuất gốm sứ
cổ truyền với sản lượng trên 10 triệu sản phẩm/năm.
+ Đá vôi: Phân bố ở xã Hồng Thái Tây và Yên Đức, mỗi năm có thể khai
thác hàng chục vạn m
3
để sản xuất xi măng, vôi và xây dựng cơ sở hạ tầng.
+ Cát, sỏi: trữ lượng nhiều ở các xã Hồng Thái Đông, Kim Sơn, Xuân
Sơn… và các suối trên địa bàn huyện.
1.4.5. Tài nguyên cảnh quan văn hóa du lịch.
Huyện Đông Triều có nhiều địa danh nổi tiếng như chùa Quỳnh Lâm, đền
An Sinh, chùa Ngọa Vân, am Long Động, chùa Hồ Thiên thuộc quần thể di tích
trong huy động các nguồn lực trên địa bàn huyện. Trong tương lai, sẽ có nhiều
yếu tố tác động đến khai thác tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn huyện, có thể
dự báo một số yếu tố cơ bản sau:
- Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới
vào cuối năm 2006 đã mở ra cơ hội tốt để Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam, đây là yếu tố thuận lợi để Quảng Ninh nói chung và
Đông Triều nói riêng tham gia vào các hoạt động kinh tế của cả nước. Thị
trường xuất nhập khẩu sẽ được mở rộng, thị trường đầu tư sẽ ngày càng lan toả
rộng khắp, không chỉ tập trung vào các vùng trọng điểm như trước đây.
- Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của cả nước nói chung và Quảng Ninh nói
riêng sẽ tác động mạnh đế quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Đông Triều,
đòi hỏi các nguồn tài nguyên của Đông Triều cần được sử dụng tương xứng với
xu hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, điều đó đòi hỏi các tài nguyên thiên nhiên,
tài nguyên nhân văn trên địa bàn huyện sẽ được sử dụng phục vụ công nghiệp
khai thác, công nghiệp chế biến và phát triển các ngành dịch vụ.
- Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá và đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với thời
kỳ kinh tế phát triển. Huyện Đông Triều có tiềm năng lớn về đất đai, cơ cấu đất
vừa thích hợp cho phát triển nông lâm nghiệp lại vừa thích hợp cho phát triển
công nghiệp là cơ hội để Đông Triều thu hút các nhà đầu tư vào khai thác tài
nguyên trên địa bàn huyện.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, Đông Triều cũng sẽ gặp phải những
thách thức đặt ra trong tương lai, đó là:
- Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đòi hỏi quá trình đô thị hoá phát triển nhanh chóng, do vậy một lực lượng
lao động của khu vực nông thôn sẽ chuyển hướng sang hoạt động sản xuất công
nghiệp và dịch vụ ở khu vực đô thị, điều đó gây sức ép lớn không chỉ trong lĩnh
vực đào tạo ngành nghề để nâng cao chất lượng nguồn lao động mà còn gây sực
ép lớn đến phát triển đô thị , đặc biệt là kết cấu hạ tầng.
- Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, có nghĩa là gia nhập nền
kinh tế thị trường với sức cạnh tranh cao, đòi hỏi nền kinh tế Đông Triều phải
2007 còn 59%
Bảng 01: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp (GSS).
Đơn vị: %
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
GTSX ngành CN/ tổng số 47 49,4 54,8 56 56,8
Cơ cấu nội ngành: 100 100 100 100 100
- Công nghiệp khai thác 86,9 62,7 61,5 59 57
- Công nghiệp chế biến 13,1 37,3 38,5 41 43
Nguồn: Phòng thống kê huyện Đông Triều và phân tích số liệu thống kê
kế hoạc thực hiện các chỉ tiêu năm 2007.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có sự đầu tư mạnh mẽ vào ngành
công nghiệp của địa phương, trong số 933 cơ sở sản xuất công nghiệp đa có
925 cơ sở ngoài quốc doanh. Huyện đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành
phần kinh tế đầu tư sản xuất, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội
của huyện. Tuy nhiên, khu vực kinh tế Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao trong
cơ cấu công nghiệp huyện, chiếm tới 83% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên
địa bàn.
Bảng 02: Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện
Chỉ tiêu Đơn vị 2003 2004 2005 2006 2007 2008
1. GTSX CN theo GSS Tỷ.đồng 372 461 558 692 818,9 947
2. GTSX CN theo GHH Tỷ.đồng 550 751
1267
1592 1816 2083,4
3. Số cơ sở SX CN Cơ sở 948 933 933 949 965 970
4. Lao động sản xuất CN Người 12511 12953 13788 14138 14986 15780
5. Sản phẩm CN chủ yếu
- Than sạch Ng.tấn 696 1011 1215 1500 1200 2800
- Gạch nung Tr.Viên 45,5 65,1 140,8 150 250 414
dân. Năm 2007, mật độ điện thoại đạt 14 máy/100 dân, tăng gần gấp 10 lần so
với năm 2000.
Dịch vụ tài chính ngân hàng. Hoạt động tài chính đạt kết quả khả quan
trong 5 năm qua. Ngân hàng tiếp tục đổi mới phương thức kinh doanh, đa dạng
hoá việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và trong các doanh nghiệp, mở
rộng một số điểm dịch vụ tín dụng thanh toán, cho vay, chuyển tiền nhanh
chóng, an toàn. Số dư nợ cho vay và nguồn vốn huy động kinh doanh qua các
năm đều tăng, đáp ứng nhu cầu vay của các tổ chức, cá nhân để phát triển sản
xuất, kinh doanh. Ngân hàng chính sách duy trì vốn vay, thực hiện các dự án về
giải quyết việc làm có hiệu quả.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ của huyện vẫn còn
tồn tại một số yếu kém như quy mô hoạt động nhỏ bé, chất lượng dịch vụ còn
hạn chế, chưa tạo được sự chuyển biến đáng kể và chưa phát huy được hết tiềm
năng của huyện. Chưa có đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ năng lực, trình độ để
phục vụ và phát triển ngành thương mại, du lịch của huyện.
2.3. Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
Giá trị sản xuất ngành Nông, Lâm, Ngư nghiệp năm 2000 là 250 tỷ đồng
đồng (giá so sánh), năm 2005 tăng lên 384 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng bình quân