Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp
lớn tại Chi nhánh ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà Trưng
( từ năm 2006 đến năm 2008 )
2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Hai Bà
Trưng :
2.1.1 Cơ cấu tổ chức :
2.1.1.1 Mô hình tổ chức tại Chi nhánh NHCT – HBT
Theo quyết định số : 36/ QĐ- TCHC ngày 15/05/2006 có hiệu lực kể
từ ngàt 01/06/2007. Trong đó Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 3 Phó
Giám đốc. Phòng tín dụng được chia thành phòng khách hàng Doanh
nghiệp lớn, khách hàng DN vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Phòng
Quản lý rủi ro, Phòng thanh toán xuất nhập khẩu, Phòng Kế toán giao
dịch, Phòng thông tin điện toán, Phòng tổng hợp, Phòng tiền tệ kho quỹ,
Phòng tổ chức hành chính. Ngoài ra còn các Chi nhánh giao dịch.
Ban giám đốc
Phòng KH cá nhân
Phòng KHDN vừa &nhỏ
Phòng KH DN lớn
Phòng Tiền tệ kho quỹ
Các phòng giao dịch
Phòng Kế toán giao dịch
Phòng Tổng hợp
Phòng quản lý rủi ro
Phòng Tổ chức Hành Chính
Phòng Thanh toán XNK
Phòng Thông tin điện toán
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban tại NHCT- HBT
Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn ( KH số1)
Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh
nghiệp lớn về khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ ; Thực hiện các
nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
Phòng có liên quan thu hồi các khoản nợ đã được xử lý rủi ro.
Phòng kế toán giao dịch
Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách
hàng : Các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài
chính, chi tiêu nội bộ tại Chi nhánh ; Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng
liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Quản
lý và chịu trách nhiệm đối với giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt
đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và NHCTVN.
Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm
Ngân hàng.
Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất
nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh theo quy định của
NHCTVN
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ,
quản lý quỹ tiền mặt theo qui định của Ngân hàng Nhà nước và
NHCTVN. Ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch
trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi
tiền mặt lớn.
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Tổ chức Hành chính là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác
tổ chức cán bộ và đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính
sách của Nhà nước và quy định của NHCTVN, thực hiện công tác bảo
vệ, an ninh an toàn Chi nhánh.
Phòng thông tin điện toán
Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại
Chi nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động
của hệ thống mạng, máy tính của Chi nhánh.
Phòng Tổng hợp
% so sánh
Tổng Nguồn Vốn huy động 2.416.939 2.700.815 111,7 3.132.945 116 5.166.911 180,1%
Theo t/c tiền gửi
- Tiền gửi TCKT 931.621 1.036.902 111,3 1.405.002 135,5 3.895.156 277,8%
- Tiền gửi dân cư 1.485.318 1.663.913 112 1.727.943 103,8 1.271.755 86,7%
Theo loại tiền
- Tiền gửi bằng VND 1983.642 2.156.719 108,7 2.652.764 123 2.307.689 95,3%
- Tiền gửi bằng ngoại tệ (quy
VND)
433.297 544.096 125,5 480.181 88,3 2.859.222 636,9%
Qua bảng trên có thể rút ra những nhận xét như sau : trước hết, về tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy
động, có thể thấy qua các năm đều có sự tăng lên, mặc dù so với các đơn vị khác trong cùng thời điểm thì còn
thấp. Tuy nhiên, năm 2008, tốc độ tăng trưởng là 80,1 %, so với các chi nhánh ngân hàng Công thương khác
trên địa bàn Hà nội là rất cao. Về cơ cấu nguồn vốn, năm 2008 có sự thay đổi lớn so với các năm trước đó là tiền
gửi bằng ngoại tệ chiếm tỉ trọng cao hơn tiền gửi bằng VND. Tiền gửi trong dân cư giảm dần, tiền gửi của các tổ
chức kinh tế tăng dần
2.1.3.2 Công tác tín dụng
Hoạt động tín dụng của NHCT- HBT gần đây có đạt được những
kết quả khả quan đáng ghi nhận, do đã quan tâm hơn nhiều đến công
tác tiếp thị và chăm sóc khách hàng, giải quyết những khó khăn vướng
mắc để phát triển công tác tín dụng đặc biệt là chất lượng tín dụng được
đảm bảo.
Bảng 2: Số liệu về công tác Tín dụng của NHCT-HBT từ năm 2005-
2008
Chỉ tiêu
TH
31/12/2005(Tr.
đ)
TH
31/12/2006(Tr.
dụng vốn huy động để cho vay trực tiếp thấp chiếm chưa đầy 30% điều
này làm giảm hiệu quả kinh doanh rất lớn của NH.
Trong năm 2007 dư nợ cho vay có khả quan hơn nhiều khi đạt
được 91,3% so kế hoạch NHCTVN giao cho, tăng so với năm 2006 là
2,5% và còn thấp hơn so với NHCT trên địa bàn Hà Nội(dư nợ của các
NHCT tăng 14,8%). Tuy tỷ lệ tăng trưởng còn thấp nhưng hoạt động tín
dụng của Chi nhánh được coi là an toàn và ít rủi ro có chất lượng.
Năm 2008 tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của chính phủ đạt 89,2%
so với kế hoạch NHCTVN giao, so với năm 2007 tăng 23,7% cao hơn
so với tốc độ tăng của các chi nhánh NHCT trên địa bàn Hà nội. Trong
điều kiện chi nhánh phải thắt chặt tiền tệ, kiềm chế tăng trưởng dư nợ
trong 6 tháng đầu năm, những tháng cuối năm chỉ tiêu kế hoạch có nới
rộng nhưng lãi suất tăng cao, tình hình kinh doanh ở hầu hết các doanh
nghiệp hết sức khó khăn nên đã giảm nhu cầu vay vốn nên dư nợ
không đạt được kế hoạch giao.
Kể từ năm 2006, khi bắt đầu thực hiện các QĐ 070; 071 ;072/QĐ-
HĐQT ngày 3/4/2006 của HĐQT- NHCTVN ban hành nhằm tăng cường
hoạt động tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NH nhằm
sàng lọc khách hàng. Do vậy khi áp dụng các doanh nghiệp đã gặp
nhiều khó khăn vướng mắc vì trên thực tế nhiều khách hàng có vốn chủ
sở hữu thấp, tình hình tài chính không lành mạnh, tài sản bảo đảm tiền
vay không đủ điều kiện chặt chẽ mà NH đưa ra đối với khách hàng vay.
Trong hoàn cảnh hiện nay khi nền kinh tế đã chịu tác động lớn của nền
kinh tế thế giới, việc kinh doanh ngày càng trở nên khắt khe hơn nhưng
nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào các
tổ chức tín dụng như NH thì điều kiện vay vốn tại các NH đã trở nên
chặt chez hơn rất nhiều. Điều này đối với các NH cũng là điểm khó khăn
chung và điều này đã tác động trực tiếp tới nguồn vốn huy động cũng
như tới tổng dư nợ cho vay.
Đối với các khoản vay có cầm cố tài sản, hay khoản vay được bảo
năm 2006, góp phần vào hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh.
Năm 2008 công tác thanh toán xuất nhập khẩu của Chi nhánh
không thuận lợi do 6 tháng cuối năm tình hình kinh tế thế giới suy thoái
nên hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp khó
khăn và giảm sút, dẫn đến doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của chi
nhánh bị ảnh hưởng.
2.1.2.4 Hoạt động dịch vụ
Dich vụ hệ thống Ngân hàng cung cấp cho khách hàng vẫn chủ yếu
là các dịch vụ truyền thống ( Tiền gửi, tiền vay, thanh toán và ngân quỹ ),
việc ứng dụng công nghệ hiện đại, dịch vụ Ngân hàng hiện đại còn hạn
chế, thiếu sản phẩm phục vụ nhu cầu đa dạng của các tổ chức và cá
nhân. Do đó ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng thu phí dịch vụ và tỷ
lệ chiếm trong tổng thu nhập còn thấp.
Về hoạt động thanh toán
Công tác kế toán thanh toán là một trong những hoạt động quan
trọng của Ngân hàng Thương mại. Chi nhánh đã không ngừng hoàn
thiện phong cách lề lối làm việc, triển khai kịp thời các chương trình ứng
dụng công nghệ Ngân hàng hiện đại đảm bảo thanh toán kịp thời chính
xác và an toàn cho khách hàng. Với khối lượng vốn luân chuyển lớn
trong giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp, công tác thanh toán
ngày càng phức tạp và đòi hỏi khẩn trương hơn, tuy nhiên Chi nhánh đã
tổ chức tốt việc giao dịch một cửa ngày càng ổn định và thuận lợi hơn
nên đã giữ vững được uy tín đối với khách hàng.
Dịch vụ thẻ
Số lượng phát hành thẻ năm 2006 đạt 47,5% so với kế hoạch, đưa
số lượng phát hành thẻ đến 31/12/2006 là 10399 thẻ tăng 49,5% so với
năm 2005. Số dư bình quân tại tài khoản tiền gửi là 8 tỷ đồng tăng 5 tỷ,
bằng 150% so với năm 2005, Điều đó chứng tỏ chất lượng thẻ Chi
nhánh phát hành tốt hơn năm 2005. Cũng về vấn đề này tại năm 2007,
số lượng thẻ ATM phát hành là 7442 thẻ so kế hoạch đạt 93% đưa số
khẩu, thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử….; Làm đầu mối bán các sản
phẩm dịch vụ của Ngân hàng Công thương VN đến các khách hàng là
doanh nghiệp lớn. Nghiên cứu đưa ra các đề xuất về cải tiến sản phẩm
dịch vụ hiện có, cung cấp những sản phẩm dịch vụ mới phục vụ cho
khách hàng là doanh nghiệp lớn.
-Thẩm định, xác định, quản lý các giới hạn tín dụng cho các khách
hàng có nhu cầu giao dịch về tín dụng và tài trợ thương mại, trình cấp
có thẩm quyền quyết định theo qui định của Ngân hàng Công thương
Việt Nam.
-Thực hiện các nghiệp vụ tín dụng và xử lý giao dịch:
Nhận và xử lý đề nghị vay vốn, bảo lãnh và các hình thức cấp tín
dụng khác; thẩm dịnh khách hàng, dự án, phương án vay vốn, bảo lãnh
và các hình thức cấp tín dụng khác theo thẩm quyền và quy định của
Ngân hàng Công thương VN;
Đưa ra các đề xuất chấp thuận,từ chối đề nghị cấp tín dụng, cơ cấu
lại thời hạn trả nợ cho khách hàng trên cơ sở hồ sơ và kết quả thẩm
định;
Kiểm tra giám sát chặt chẽ trong và sau khi cấp các khỏan tín dụng.
Phối hợp với các phòng liên quan thực hiện thu gốc, thu lãi, thu phí đầy
đủ, kịp thời đúng hạn, đúng hợp đồng đã kí;
Theo dõi quản lý các khoản cho vay bắt buộc. Tìm biện pháp thu
hồi khoản vay này.
-Quản lý các khoản tín dụng đã được cấp; quản lý tài sản đảm bảo
theo quy định của Ngân hàng Công thương VN.
-Thực hiện nhiệm vụ thành viên Hội đồng tín dụng, Hội đồng miễn
giảm lãi, Hội đồng xử lý rủi ro.
-Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin khách hàng cho Phòng tổ quản
lý rủi ro để thẩm định độc lập và tái thẩm định theo qui định của chi
nhánh và Ngân hàng Công thương VN.
-Cập nhật, phân tích thường xuyên hoạt động kinh tế, khả năng tài
lớn gồm các bước như sau :
Tiếp nhận và hứng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn
Thầm định các điều kiện vay vốn
Xác định phương thức cho vay
Xem xét khả năng nguồi vốn, điều kiện thực tế và xác định lãi cho
vay
Lập tờ trình thẩm định cho vay
Tái thẩm định khỏan vay