Hoàn thiện hình thức trả lương theo sản phẩm là nhân tố cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Pdf 67

Hoàn thiện hình thức trả lương theo sản phẩm là nhân tố cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
A. Bản chất của tiền lương
I. Các quan điểm cơ bản về tiền lương
1. Quan điểm chung về tiền lương
Một trong những đặc điểm của quan hệ sản xuất xã hội là hình thức
phân phối. Mỗi phương thức sản xuất đều có một hình thức phân phối nhất
định. Ăngghen viết: “Vì phân phối là do những lý do thuần túy kinh tế chi
phối, cho nên lợi ích của sản xuất sẽ điều chỉnh việc phân phối và phương
thức phân phối nào làm cho mọi người trong xã hội có thể phát triển toàn
diện nhất, có thể duy trì và biểu hiện năng lực của mình thì phương thức
phân phối đó mới kích thích phát triển nhất”
Phân phối là một trong bốn khâu quan trọng nhất của quá trình sản
xuất xã hội: Sản xuất ---Phân phối ---Trao đổi--- Tiêu dùng. Chủ nghĩa Mac
Lênin khẳng định trong quá trình sản xuất thì sản xuất đóng vai trò quyết
định phân phối và các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất và do sản xuất quyết
định nhưng có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực trở lại đối với sản xuất. Ănghen
viết; “Phân phối không chỉ đơn thuần là kết quả tiêu cực của sản xuất và trao
đổi, đến lượt nó cũng có tác dụng trở lại sản xuất, trao đổi”
Tổng sản phẩm xã hội do lao động xã hội tạo ra phải được đem phân
phối cho tất cả tiêu dùng cá nhân, cho cả tích luỹ tái sản xuất mở rộng và cho
tiêu dùng công cộng. Dưới chủ nghĩa xã hội việc phân phối theo lao động phù
hợp với đòi hỏi đó, toàn bộ sản phẩm xã hội là kết quả của lao động thuộc về
người lao động và được phân phối vì lợi ích của họ
Phân phối theo lao động dưới chủ nghĩa xã hội chủ yếu là tiền lương
tiền thưởng. Tiền lương dưới chủ nghĩa xã hội về bản chất khác hẳn tiền
lương dưới chế độ tư bản chủ nghĩa
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa người công nhân sau thời gian làm
việc, hoặc sau khi hoàn thành một khối lượng công việc nào đó, được nhà tư
bản trả một số tiền, đó là tiền lương tư bản chủ nghĩa. Tiền lương tư bản chủ
nghĩa không phải là tiền trả công lao động, không phải là giá cả của lao động.

động bỏ ra để thực hiện công việc đó. Vì vậy khi tiến hành trả lương người ta
phải căn cứ vào cấp bậc công việc để trả lương. Cấp bậc công việc cao có
nghĩa là nó đòi hỏi người công nhân phải hao tốn nhiều sức lực cơ bắp, phải
có kinh nghiệm hơn.. giá trị sức lao động bỏ ra nhiều hơn để hoàn thành công
việc do đó mà họ phải được trả lương cao hơn công nhân thực hiện công việc
có cấp bậc công việc thấp hơn.
b. Tiền lương cao hay thấp là tuỳ thuộc vào kết quả sản xuất kinh
doanh của đơn vị
Cũng xuất phát từ quan điểm tiền lương phải được trả theo đúng giá
trị sức lao động. Nếu giá trị sức lao động mà họ bỏ ra cao thì họ phải được
hưởng lương cao. Tuy vậy cần phải nói thêm rằng trong nền kinh tế thị
trường lượng lao động hao phí bỏ ra phải thực sự đem lại hiệu quả, thực sự
đem lại giá trị mới hay nói cách khác thì lao động phải hiệu quả. Lao động bỏ
ra phải đạt được hiệu quả thì mới được trả lương
Giá trị sức lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh là giá trị đầu
vào đặc biệt bởi vì nó không như các giá trị khác ở sản phẩm cuối cùng các
giá trị khác đều bị giảm đi riêng giá trị sức lao động lại được tăng lên ở sản
phẩm cuối cùng hay nói cách khác chính sự gia tăng của giá trị sức lao động
tạo nên hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiền lương là biểu hiện
của giá trị sức lao động và nó nhỏ hơn giá trị thực tế mà việc sử dụng sức lao
động đem lại. Chúng ta quay lại với vấn đề hiệu quả trong hoạt động kinh
doanh mà ở đây là sử dụng sức lao động. Tính hiệu quả ở đây thể hiện qua
việc sử dụng hợp lý sức lao động làm cho lượng giá trị mới mà việc sử dụng
sức lao động đem lại tăng đến tối đa có thể được và vì vậy làm tăng được kết
quả của hoạt động SXKD. Có thể dễ dàng nhận thấy kết quả SXKD là một biểu
hiện của tính hiệu quả trong quá trình sử dụng sức lao động. Giá trị sức lao
động bỏ ra của người lao động đem lại kết quả gì có thể định lượng được và
được xã hội chấp nhận được lưu thông trao đổi được sử dụng để thỏa mãn
nhu cầu của con người. Có như vậy sản phẩm tạo ra mới được thanh toán để
trả lương cho công nhân lao động.

Khi chỉ số giá thay đổi làm cho tiền lương thực tế thay đổi ảnh hưởng
đến cuộc sống của người lao động do vậy cần phải có sự điều chỉnh tiền
lương danh nghĩa khi chỉ số giá thay đổi nhằm ổn định tiền lương thực tế tạo
điều kiện cho nó thực hiện đầy đủ các chức năng vai trò của nó.
d. Doanh nghiệp phải đảm bảo trả lương đúng thời hạn qui định để ổn
định đời sống cho người lao động.
Trong xã hội hiện đại thời gian và tính thời điểm luôn được coi trọng.
Tiền lương của người công nhân sau khi nhận được dùng để chi cho hai nhu
cầu là tiêu dùng và tích lũy. Nhu cầu tiêu dùng là nhu cầu có ý nghĩa quan
trọng và nó là nhu cầu thường trực trong cuộc sống. Trong xã hội hiện đại
sản xuất được chuyên môn hóa cao độ lưu thông trao đổi đóng vai trò quan
trọng và vì vậy tiền tệ có vai trò rất lớn trong xã hội.
Người lao động khi thoả mãn nhu cầu của mình cần phải có tiền để
mua bán, trao đổi. Tiền của người lao động ở đây có thể coi chủ yếu là tiền
lương. Vì vậy do nhu cầu tiêu dùng là nhu cầu thường xuyên nên người lao
động cũng cần tiền liên tục và họ lao động để nhận chúng, để có kế hoạch sử
dụng chúng. Bất kỳ một sự thay đổi trong thời hạn trả lương sẽ làm thay đổi
các kế hoạch, xáo trộn nhu cầu tiêu dùng và vì vậy sẽ làm cho cuộc sống của
người lao động bất định, do vậy doanh nghiệp cần phải trả lương đúng thời
hạn, không chỉ để ổn định đời sống cho người lao động mà còn đảm bảo rằng
người lao động sẽ toàn tâm toàn ý khi lao động trong doanh nghiệp.
e. Doanh nghiệp phải đảm bảo đủ việc làm để ổn định và tiến tới tăng
mức thu nhập cho người lao động. Việc làm không chỉ là nhu cầu của người
lao động mà còn là nhu cầu cả chủ doanh nghiệp. Đối với người lao động có
việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, có nguồn sống... còn đối với doanh
nghiệp có việc làm có nghĩa là có cơ hội để tồn tại và phát triển. Có đủ việc
làm là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng các kế hoạch trong tương lai và xác
định được đích đến của mình. Xuất phát từ các yếu tố đó doanh nghiệp còn
phải đảm bảo đủ việc làm để ổn định và tăng mức lương cho người lao động.
g. Trong một đơn vị phải đảm bảo công bằng hợp lý

Tiền được nói ở đây gồm phần lớn là tiền lương từ lao động của người
lao động hay nói cách khác muốn có được các yếu tố thỏa mãn nhu cầu của
mình người lao động cần có tiền lương. Tiền lương phải đảm nhận việc đem
lại cho người lao động các yếu tố mà họ cần. Tiền lương phải thực hiện chức
năng tái sản xuất sức lao động trí tuệ để lao người lao động nghiên cứu, tích
lũy kinh nghiệm, mua sách báo khoa học... giải trí, thư giãn...
Từ cơ sở là chức năng tái sản xuất sức lao động của tiền lương, người
ta đã xây dựng lên tiền lương tối thiểu. Đây là tiền lương đủ để tái sản xuất
sức lao động cho người lao động khi thực hiện một công việc nào đó. Trong
thực tế trên lương tối thiểu có thể khác nhau tùy yêu cầu tái sản xuất sức lao
động của người lao động như thế nào.
2. Chức năng kích thích lao động
Tiền lương là cơ sở để tái sản xuất sức lao động, để người lao động có
một cuộc sống tốt đẹp hơn, là điều kiện để người lao động tự hoàn thiện mình,
khẳng định mình... Do vậy sức ép của tiền lương đối với người lao động là rất
lớn. Họ sẽ phải cố gắng để có được tiền lương cao vì nó không chỉ đem lại cho
họ giá trị vật chất mà còn đem lại cho họ giá trị tinh thần. Từ quan điểm tiền
lương trả đúng theo giá trị sức lao động và nhận định về hiệu quả của sử
dụng sức lao động, người lao động cần phải đóng góp được nhiều hơn giá trị
sức lao động của họ. Họ phải sử dụng hợp lý thời gian làm việc để đóng góp
được nhiều nhất sức lao động của mình. Họ sẽ phải lao động hăng say, tăng số
giờ làm việc thực tế, giảm số giờ hao phí không cần thiết. Họ phải sử dụng
hiệu quả sức lao động của mình, tăng tỉ lệ sức lao động có ích trên tổng hao
phí sức lao động, họ phải giảm được các thao tác thừa trong quá trình sản
xuất, tăng được năng suất lao động, tăng tỉ lệ thành phẩm đạt chất lượng
cao, phát huy sáng kiến nhằm tận dụng công suất máy móc... nâng cao hiệu
quả sử dụng lao động cho doanh nghiệp và những cố gắng nỗ lực này của họ
được ghi nhận, cùng với việc tăng lương kích thích lao động, tiền thưởng còn
tạo cho họ một động lực mạnh mẽ hơn nữa và cứ như vậy tiền lương đã làm
cho kích thích lao động từ thụ động sang việc chủ động nâng cao năng lực của

III. Vai trò kinh tế của tiền lương
1. Đối với người lao động
Đối với người lao động tiền lương với ý nghĩa là thu nhập của họ có
vai trò to lớn đối với hoạt động của họ trong xã hội. Và vì vậy họ luôn luôn có
mong muốn được tiền lương cao hơn, có được thu nhập nhiều hơn. Muốn vậy
họ phải đóng góp nhiều hơn giá trị sức lao động cảu mình vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của xã hội. Họ tăng lượng giá trị sức lao động đóng góp vào
hoạt động sản xuất không chỉ bằng việc tăng cường độ hoạt động mà ngày
nay họ phải nâng cao hiệu quả sức lao động, phải chuyển từ lao động giản
đơn sang lao động phức tạp. Vì vậy họ phải không ngừng nâng cao khả năng
của mình, cố gắng học hỏi trí thức khoa học, tích lũy kinh nghiệm và sử dụng
những gì họ có một cách sáng tạo nhất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhất.
Phấn đấu vì một mức tiền lương cao hơn tự thân nó đã làm giảm ảnh
hưởng vật chất của tiền lương khi tiền lương cao và khi kích thích lao động
trở thành cái bên trong của mỗi cá nhân người lao động thì điều đó có nghĩa
là người công nhân đạt được mức độ hoàn thiện rất cao, có khả năng tham
gia các hoạt động cao hơn hoạt động sản xuất như hoạt động quản lý, hoạt
động nghiên cứu khoa học, ranh giới giữa người quản lý và người lao động bị
xóa bỏ. Đây là một mục tiêu lớn mà nếu đạt được thì bản thân người công
nhân cũng như doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng phát triển mạnh mẽ
trong nền kinh tế.
2. Đối với người sử dụng lao động
Chi phí lao động là chi phí đặc biệt, nó mang lại hiệu quả lớn hơn chi
phí bỏ ra nhưng với danh nghĩa là chi phí, chủ doanh nghiệp đều phải đặt ra
yêu cầu tiết kiệm chi phí lao động nhưng nội dung của tiết kiệm ở đây là
không chỉ đơn thuần là giảm, là bớt mà nội dung chủ yếu của tiết kiệm ở đây
là sử dụng hợp lý, hiệu quả chi phí lao động.
Để sử dụng hợp lý chi phí lao động chủ doanh nghiệp hay người quản
lý phải xây dựng được kế hoạch sử dụng lao động hợp lý, xây dựng nên bộ

“Xí nghiệp có quyền lựa chọn các hình thức trả lương thực hiện rộng
rãi lương khoán, lương sản phẩm và các hình thức tiền lương trong xí nghiệp,
trên cơ sở quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động và đảm bảo mối
quan hệ giữa nhịp độ tăng tiền lương (thu nhập) bình quân với năng suất của
đơn vị”
Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể khác nhau của quá trình lao động
và các nhiệm vụ kinh tế được giải quyết mà lựa chọn hình thức trả lương. Về
nguyên tắc, tất cả các hình thức trả lương đều quy về hai hình thức chủ yếu là
lương sản phẩm và lương thời gian, có thể được trả kết hợp với các khoản
tiền thưởng theo lương (lương thời gian có thưởng và lương sản phẩm có
thưởng). Bằng cách này trong tiền lương bao hàm các kết quả khác nhau về
mặt chất lượng và số lượng mà nếu chỉ trả lương thời gian hoặc lương sản
phẩm đơn thuần không thể thực hiện được.
I. Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian là số tiền lương trả cho người lao
động căn cứ vào thời gian làm việc và tiền lương trong một đơn vị thời gian.
Như tiền lương theo thời gian phụ thuộc vào 2 nhân tố ràng buộc là mức độ
tiền lương trong một đơn vị thời gian và thời gian làm việc.
Tùy điều kiện và trình độ quản lý thời gian lao động, hình thức trả
lương theo thời gian có thể áp dụng theo 2 cách trả lương theo thời gian giản
đơn và trả lương theo thời gian có thưởng.
1. Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn
Tiền lương theo thời gian giản đơn là số tiền trả cho người lao động
chỉ căn cứ vào bậc lương và thời gian thực tế làm việc không xét đến thái độ
lao động và kết quả công việc. Tiền lương theo thời gian giản đơn bao gồm:
Lương tháng, lương ngày, lương giờ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status