PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢ PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐBSH ĐẾN 2010 - Pdf 67

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢ PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐBSH ĐẾN 2010
I Cơ sở khoa học xác định phương hướng sử dụng lao động nông
nghiệp đến 2010:
1.Quan điểm về phát triển nguồn lao động thời kỳ 2003 – 2010
1.1 Quan điểm của Nhà nước về phát triển lao động thời kỳ 2003 –
2010:
Vấn đề phát triển con người luôn luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước
quan tâm hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Với quan
điểm mang tư tưởng chỉ đạo, chủ đạo, quan điểm này được thể hiện qua Đại
hội Đảng thứ VIII và NQTW khoá VIII là:
- Phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững của công cuộc CNH _ HĐH.
- Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong những năm
tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH_ HĐH
tạo điều kiện giải quyết việc làm cho nhân dân nhất là thanh niên.
- Phát triển nguồn nhân lực và phát triển giáo dục đào tạo có mối quan hệ
chặt chẽ làm cơ sở xây dựng chính sách Nhà nước để phát triển 2 lĩnh
vực một cách phù hợp.
1.2. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực vùng ĐBSH:
1 1
Từ quan điểm chủ đạo của Đảng cho nên trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội ĐBSH đặt con người vào vị trí trung tâm, tạo điều kiện khơi dậy và
phát huy mọi tiềm năng các nhân cho công cuộc xây dựng và phát triển.
Xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng, hợp lý cơ
cấu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời cho xuất khẩu lao
động, phấn đấu trỉư thành vùng đi đầu trong việc đào tạo nguồn nhân lực
chất lượn cao cho địa phương và cả nước.
2. Mục tiêu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
2.1. Mục tiêu tổng quát của Đảng và Nhà nước vè giáo dục đào tạo:

người 478 kg/tháng. Điều chỉnh các dòng nhập cư, hướng hạn chế tối đa
các dòng nhập cư không mong muốn, kiểm soát dòng di cư.Động viên di
dân đi xây dựng kinh tế mới.
II. Những phương hướng cơ bản nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao
động nông nghiệp vùng ĐBSH giai đoạn 2003 – 2010:
1 . Những định hướng cơ bản nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao
động nông nghiệp ở vùng ĐBSH.
Giữa nguồn lao động với sản xuất nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế
nói chung ở vùng ĐBSH có mối tương quan chặt chẽ nên không thể chỉ đề cập
tới những vấn đề phát triển kinh tế có liên quan để có thể thu hút hết số lao
động đã và đang có ở đây. Do vậy, vấn đề sử dụng nguồn lao động ở ĐBSH phải
được xem xét trên quan điểm vĩ mô gắn với các chương trình phát triển kinh tế
chung của cả nước và riêng cho toàn vùng. Chính vì lý do cơ bản đó cần phải
3 3
định hướng chung cho việc sử dụng nguồn lao động theo quan điểm phát triển
vĩ mô, lấy phát triển kinh tế làm then chốt cho việc điều tiết và sử dụng nguồn
lao động có hiệu quả của vùng, những định hướng đó là:
2. Phát triển một nền kinh tế mở
Trong xu thế chung của thế giới ngày nay là hòa nhập và sự ảnh hưởng lẫn
nhau về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ giữa các nước ngày càng tăng
nhanh. Do đó để không bị tụt hậu về kinh tế so với các nước khác thì không
thể không phát triển một nền kinh tế mở. Kinh tế mở một mặt tạo điều kiện
để khai thác tốt nhất mọi nguồn tiềm năng trong nội bộ vùng nhưng mặt
khác có sự hỗ trợ bổ xung giữa các vùng cho nhau về nhiều mặt như: lao
động, vật tư, tiền vốn, kỹ thuật và công nghệ cũng như thị trường tiêu thụ
sản phẩm ...Đồng thời kinh tế mở còn là điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu
hàng giữa các vùng, sự di chuyển sức lao động từ những nơi dư thừa tới
những nơI thiếu tạo ra sự ăn khớp cao giữa “cung ” và “cầu ” của thị trường
lao động, mở rộng sự phân công và hiệp tác giữa các vùng trong nước và
trên phạm vi quốc tế.

Cơ cấu kinh tế của vùng chưa đáp ứng được yêu cầu về tạo ra nhiều việc
làm. Năm 1993 ở vùng ĐBSH tỷ lệ lao động không có việc làm chiếm 8,07%
lực lượng lao động của vùng. Tỷ lệ lao động chưa có việc làm ở nông thôn
tuy chưa ở mức dưới 6% nhưng tỷ lệ thiếu việc làm lại rất cao, chiếm tới
70-80% tổng số lao động ở nông thôn.
Theo phương án của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ĐBSH nhịp độ tăng trưởng
gdp trung bình hàng năm phải đạt từ 10% trở lên, khi đó tỷ trọng của ĐBSH trong gdp của
cả nước đạt khoảng 30-32%, gdp/ người của ĐBSH bằng khoảng 1,3-1,4 lần so với mức
trung bình của cả nước như vậy, vai trò của ĐBSH mới được thể hiện rõ. Cơ cấu kinh tế
ngành của ĐBSH sẽ chuyển đổi như sau: Công nghiệp chiếm 28-29% (năm 2000 ) và 35-
5 5
36% (2010 ), nông lâm nghiệp chiếm 20-21% (2000 ) và 9-10% (năm 2010), dịch vụ chiếm
50-51% (năm 2000) và 54-55% (năm 2010)[ 34]. Để có thể thực hiện được sự chuyển đổi cơ
cấu kinh tế theo hướng trên thì đòi hỏi phải đẩy nhanh sự phát triển các ngành công nghiệp,
dịch vụ, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trên cơ sở đó mới chuyển đổi một bộ phận đáng kể lao động
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp-dịch vụ. Hướng phát triển một số ngành lĩnh vực chủ
yếu phải là:
*) đối với công nghiệp: Để phát triển mạnh đượo công nghiệp đòi hỏi phải
phát triển toàn diện lợi thế của các nhóm ngành, các cụm công nghiệp,
trong đó chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn, bao gồm các nghề tiểu
thủ công nghiệp và các nguồn nguyên liệu năng lượng cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện có, tiềm năng nguồ lực và quan hệ quốc tế để phát triển công
nghiệp với tốc độ cao, vượt trên mức trung bình của cả nước. Đầu tư xây
dựng các khu công nghiệp tập trung kỹ nghệ cao, các khu chế xuất nhằm thu
hút vốn đầu tư và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của nước ngoài. Phát triển
công nghiệp với mọi thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, cá
thể. Phát triển công nghiệp phải gắn với bảo vệ môI trường sinh tháI với
đảm bảo anh ninh quốc phòng...
*) Đối với nông - lâm- ngư nghiệp

như một số vùng khác nhưng cũng là một thế mạnh đáng quan tâm, ngoài ra
còn có tiềm năng phục vụ du lịch vận tảI và còn có nguồn khoáng sản ... Trong
những năm tới phát triển thủy sản phải gắn với phát triển tổng hợp các ngành
kinh tế khác, ngư nghiệp gắn với nông nghiệp để tận dụng đất đai nông nghiệp
ở ven biển tạo việc làm, thu nhập thêm cho ngư dân là phụ nữ, người già yếu,
trẻ em hoặc lao động đánh bắt không ra khơi được cho biển động. Phát triển
7 7
ngư nghiệp phải gắn với phát triển lâm nghiệp ven biển tạo môi trường thích
hợp cho nuôi trồng thủy sản. Phát triển ngư nghiệp gắn với công nghiệp ( nhất
là công nghiệp chế biến ) để tong bước hiện đại hoá ngành thủy sản.
*) Về thương mại, dịch vụ và du lịch: Vùng ĐBSH có vị trí địa lý cũng như vai
trò kinh tế văn hoá rất quan trọng không chỉ cho vùng Bắc Bộ mà còn là của
cả nước. Trong vùng có các thành phố lớn đồng thời cũng là các Trung tâm
thương mại lớn như Hà Nội, Hải Phòng, vừa có khả năng vừa có nhiệm vụ
đảm nhận chức năng xuất nhập khẩu cho cả vùng Bắc Bộ. Do đó phải tích
cực khai thác thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nướ. Đối với
thị trường trong nước cần phát triển nhiều chợ nông thôn, tổ choc các trung
tâm giới thiệu sản phẩm, hình thành một số trung tâm thương mại cỡ quốc
gia và quốc tế ở Hà Nội, Hải Phòng ... làm đầu mối giao dịch ký kết hợp đồng
liên doanh, liên kết trong nước và ngoài nước. Vùng ĐBSH tập trung tiềm
lực lớn nhất về khoa học , kỹ thuật và công nghệ phục vụ sản xuất và đời
sống, là đầu mối giao thông thuận lợi cả đường sắt, đường bộ, đường thuỷ
và đường hàng không. Do đó, vùng ĐBSH cũng là trung tâm dịch vụ lớn
nhất về mọi mặt: Tư vấn khoa học- kỹ thuật, công nghệ, thương mại, bưu
điện viễn thông, vận tải... các tiềm lực về dịch vụ này cần phải được khai
thác tốt để phát triển kinh tế và quốc tế dân sinh. ĐBSH có tiềm năng du lịch
lớn, hầu hết các tỉnh trong vùng đều có các danh thắng đẹp, nhiểu di tích
lịch sử và các công trình văn hoá trong vùng đã hình thành một số khu, điểm
du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước như : Đồ Sơn, Tam
Cốc, Bích Động, Chùa Hương, Ao Vua...nhiều hàng hóa làng nghề truyền

nhiều việc làm, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy quá trình phân công lao
động theo hướng ai giỏi việc gì thì làm việc ấy. Xu hướng này sẽ dẫn đến :
9 9
- Số lao đông làm việc trong nông nghiệp của vùng ĐBSH sẽ được chuyển dần
sang lâm công nghiệp và dịch vụ, giảm được áp lực do lao động còn đang dồn ứ
trong nông nghiệp như hiện nay, từ đó diện tích ruộng đất bình quân một lao
động nông nghiệp sẽ tăng lên.
- Tạo thêm việc làm cho số lao động dư thừa, cho lao động nông nhàn ở nông
thôn của vùng.
- Hình thành những hộ nông dân chuyên làm dịch vụ nông nghiệp như dịch vụ kỹ
thuật giống cây con, thuốc trừ sâu, phân bón, làm đất. Thủy lợi...
Do đó, phát triển công nghiệp nông thôn đang là nhu cầu cấp bách để nâng cao giá trị
nông sản hàng hóa tăng năng suet lao động, phân công lại lao động trong nông thôn theo
hướng chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm công nghiệp và dịch vụ, phá thế thuần
nông trong tong gia đình nông dân, từng địa phương và trong toàn vùng. Nếu thực hiện tốt
hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn sẽ mở ra khả năng hiện thực sử dụng
đầy đủ và có hiệu quả nguồn lao động nông nghiệp của vùng ĐBSH .
5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
Kinh tế nông thôn vùng ĐBSH cho tới nay nông nghiệp (kể cả lâm nghiệp và thuỷ sản )
vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 70,0% trong tổng số giá trị nông - công nghiệp của khu vực
nông thôn. Trong nông nghiệp, trồng trọt chiếm 65%, chăn nuôi chiếm 25%, lâm nghiệp và
thủy sản mới chiếm 10% giá trị tổng sản lượng. Về cơ cấu lao động nông nghiệp của vùng
ĐBSH ngành trồng trọt vẫn chiếm 81%; ngành chăm nuôi chỉ chiếm 19% [ 35]. Đặc điểm của
sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao và khả năng thu hút lao động có nhiều hạn chế so
với các ngành công nghiệp và dịch vụ. Do vậy, để có thể sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lao
động nông nghiệp và nông thôn của vùng thì không thể không đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Ngược lại việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế lại là điều kiện
để sử dụng tốt nhất trong quá trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới theo
tinh thần Nghị quyết 5 khoá VII của Trung ương đã đề ra. Vì thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp và nông thôn vùng ĐBSH là vấn đề cấp bách hiện nay và hướng cơ bản của nó

nghiệp nhằm vừa tăng thêm nông sản phẩm, vừa tăng thêm nhiều việc làm cho
lao động.
- Đẩy mạnh phong trào xây dựng nông thôn mới trong các địa phương của vùng
nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Củng cố các tổ chức
Đảng, chính quyền và đoàn thể vững mạnh, giữ gìn trật tự an ninh trong từng
thôn xóm góp phần bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
6. Di dân xây dung kinh tế mới nội và ngoại vùng
ĐBSH là vùng có mật độ dân cư quá cao, bình quân 1104 người/km²( gấp 5
lần mức bình quân của cả nước ) dẫn đến bình quân đất nông nghiệp cho một
số lao động và nhân khẩu vào loại thấp nhất so với các vùng. Mặc dù trong
những năm qua vùng ĐBSH đã được coi là địa bàn trọng điểm đưa dân đến
các vùng khác để xây dựng và phát triển kinh tế mới nhưng số di dân ra khỏi
vùng mỗi năm bình quân chỉ băng 1/5 so với số tăng thêm hàng năm. Tuy việc
di dân vẫn hết sức cần thiết đối với một vùng có mật độ dân số quá cao như
vùng ĐBSH nhằm góp phần phân bố hợp lý giữa lao động và đát đai trong
vùng và giữa các vùng. Hướng di dân của vùng ĐBSH trong những năm tới
cần phải thực hiện là:
- Di dân ngoài vùng : Vùng ĐBSH cần tiếp tục di dân đến các vùng còn khả năng
tiếp nhận dân như: Vùng Đông Bắc, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Tây
Nguyên...với số lượng bình quân từ 30-35 nghìn người mỗi năm.
- Di dân nội vùng: Trên cơ sở đầu tư khai thác tiềm năng to lớn vùng ven biển
thuộc các tỉnh : Hải Phòng, Thái Bình, Nam Hà và Ninh Bình mà các địa phương
có kế hoạch di dân khai hoang lấn biển, khai thác các cồn, các bãi, sử dụng triệt
12 12
để diện tích mặt nước chưa sử dụng ở những vùng ven biển đưa vào nuôi trồng
thủy sản hoặc sản xuất nông nghiệp.
Trong vùng diện tích đất đồi núi chưa sử dụng còn khá lớn cần phải có
hướng sử dụng tốt tiềm năng. Đặc biệt ở một số tỉnh như : Hà Tây còn 6.925
ha; Ninh Bình còn 6.715ha ( xem phụ biểu trang 161). Nếu điều kiện cho

tiêu sang sản xuất nông sản hàng hoá, từ sản xuất nông sản chấtlượng thấp
sang chất lượng cao ...Do đo, một mặt kỹ thuật và công nghệ sản xuất, chế biến
phải được nâng cao nhưng mặt khác kiến thức về kinh tế thị trường, về quản lý
trong điều kiện mới cũng đòi hỏi phải được nâng lên thông qua học hỏi, bồi
dưỡng và đào tạo bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau mới có thể
nâng cao chất lượng nguồn lao động đáp ứng được nhu cầu đỏi hỏi của quá
trình công nghiệp hoá, của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông
của vùng hiện nay.
8. Vai trò của nhà nước đối với việc sử dụng hiệu quả Nguồn lao
động nông nghiệp vùng ĐBSH
Nguồn lao động vừa là động lực để phát triển kinh tế- xã hội nhưng đồng
thời cũng là mục tiêu của phát triển chính là nhằm không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho người dân lao động nông nghiệp của vùng
ĐBSH nói riêng chỉ có thể được sử dụng đầy đủ và có hiệu quả một khi có được
một hệ thống các định hướng và những giải pháp đúng đắn và thực hiện tốt
các định hướng và giải pháp đó. Trong đó vai trò của Nhà nước là rất quan
trọng và ngày càng to lớn, được thể hiện trên các mặt sau đây:
14 14
- Nhà nước chính là người xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội cũng như điều tiết quá trình phát triển của các ngành hài hoà,
cân đối trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của toàn quốc cũng như
trong tong vùng lãnh thổ, trong đó có ĐBSH.
- Trên cơ sỏ các định hướng : Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; di dân xây dựng kinh tế
mới; đào tạo tay nghề kỹ thuật cho lao động...Nhà nước xây dựng các chỉ tiêu
cụ thể cho từng định hướng, triển khai việc tổ chức thực hiện các kế hoạch đó
bằng các giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.
- Nhà nước hỗ trợ vật chất cho các vùng, địa phương phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng nông thôn (đường sá giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện
...), phát triển các công trình phúc lợi xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status