Lời cảm ơn
Qua 13 tuần thực tập tại xã Ninh Sơn, để có đợc kết quả nh ngày
hôm nay, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, sự giúp đỡ nhiệt tình
của Trạm thú y huyện Việt Yên, ban thú y cơ sở cùng chíng quyền và
ngời dân xã Ninh Sơn, em còn nhận đợc sự nhiệt tình giúp đỡ của thầy
giáo,Thạc sỹ: Nguyễn Đức Dơng - Phó hiệu trởng đã dẫn dắt em suốt
quá trình thực tập. Bên cạnh sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy là sự giúp
đỡ tạo điều kiện của Ban giám hiệu trờng Cao Đẳng Nông Lâm, khoa
Chăn nuôi thú y, sự cảm thông sâu sắc của gia đình, bạn bè và ngời thân.
Qua đợt thực tập này cho em gửi lời cảm ơn tới các bác, các cô, các
chú trong trạm thú y huyện Việt Yên, ban thú y cơ sở, chính quyền cùng
ngời dân xã Ninh sơn.
Về phía nhà trờng cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban giám hiệu,
các thầy các cô trong khoa Chăn nuôi - Thú y đặc biệt là thầy giáo
Nguyễn Đức Dơng đã hớng dẫn em trong suốt quá trình thực tập.
Qua đây cho em gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và ngời thân đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt công việc thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn !
Ninh Sơn, ngày 15 tháng 05 năm 2007.
Học sinh
Nguyễn Thu Huyền
Đặt vấn đề
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Nh ngời ta thờng nói:"học đi đôi với hành. Lý thuyết gắn liền với thực tế.
Lý thuyết là màu xám, thực tế mới là cây đời mãi mãi xanh tơi".Đây cũng là
mục tiêu đào tạo của các trờng đại học, cao đẳng, đặc biệt là trờng Cao Đẳng
Nông Lâm - Việt Yên - Bắc giang.
Trờng Cao Đẳng Nông Lâm là một trờng đào tạo cán bộ kỹ thuật nông
nghiệp với các ngành nghề: Chăn nuôi thú y, trồng trọt, địa chính, kinh tế Với
bề dày lịch sử hơn 45 năm thành lập và trởng thành, thầy và trò nhà trờng đã và
đang thi đua dạy tốt học tốt, cố gắng học tập và rèn luyện vì ngày mai lập thân
Ninh Sơn là một xã trung du nằm ở phía nam của huyện Việt Yên tỉnh Bắc
Giang, cách trung tâm huyện khoảng 5 km. Trên địa bàn xã không có đờng quốc
lộ và tỉnh lộ đi qua tuy nhiên địa bàn xã gần đờng quốc lộ 1A và đờng sắt chạy
tuyến Hà Lạng. Từ trung tâm xã nối với đờng quốc lộ 1A bằng đờng nhựa dài
khoảng 2 km. phía nam của xã giáp với Sông Cầu (Bắc Ninh).
Đó là một yếu tố rất quan trọng thúc đẩy việc phát triển sản xuất và giao lu
hàng hóa gia xã với thị trờng bên ngoài.
Nhìn chung xã Ninh Sơn có một địa bàn tơng đối bằng phẳng nên rất thuận
lợi cho trồng trọt và chăn nuôi. Mặt khác hệ thống đờng giao thông liên xã đợc
dải nhựa nên thuận lợi cho việc giao lu hàng hóa với các xã, huyện lân cận.
Ngoài ra tiếp giáp với Sông Cầu nên việc lu thông hàng hóa càng thuận lợi hơn.
Bên cạnh những mặt thuận lợi đó xã cũng gặp phải một số khó khăn nhất định.
Một số đoạn đờng liên xã liên thôn đang là đờng đất, cha đợc nâng cấp, lòng lề
đờng hẹp, mặt đờng gồ ghề ảnh hởng một phần đến giao thông đi lại, buôn bán
và trao đổi hàng hóa trong xã, nhất là mùa ma do đờng đi còn lầy lội, cống rãnh
không đợc khơi thông nên rất dễ sinh ra dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Mặt
khác do tiếp giáp với Sông Cầu nên dịch bệnh từ những nơi khác theo đờng thủy
đến xã là không thể tránh khỏi.
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-3-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
1.2. Đặc điểm về khí hậu
Xã Ninh Sơn có khí hậu đặc thù của vùng trung du Bắc Bộ, thuộc dải khí
hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt:
Mùa xuân bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3.
Mùa hạ bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 6.
Mùa thu bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 9.
Mùa đông bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 12.
Nên chịu ảnh hởng của gió mùa đông bắc. Chính vì thế nên nhiệt độ trung
bình về mùa hè là: 28 - 32
Phúc Ninh, Mai Vũ, Cao Lôi.
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-4-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Với vị trí địa lý nh vậy rất thuận lợi cho giao lu buôn bán, trao đổi hàng
hóa, sản phẩm nông nghiệp buôn bán tiểu thủ công nghiệp với các xã khác
trong huyện và các huyện khác. Ngoài ra xã Ninh Sơn giáp với Sông Cầu nên
không những thuận lợi giao thông đờng bộ mà còn thuận lợi về giao thông đờng
thuỷ, hàng hóa từ nơi khác tràn về đều lu thông qua đây vì vậy thuận lợi cho
nhân dân trong vùng lu thơng hàng hóa.
Tuy vậy do xã nằm ở phía nam huyện lại gần tỉnh khác nên tình hình chính
trị xã hội trên địa bàn xã sẽ phức tạp hơn các xã khác trong huyện, các tệ nạn xã
hội dễ du nhập hơn. Xã giáp với Sông Cầu nên việc đê điều, lụt úng cũng phải
đợc trú trọng và cẩn thận hơn.
1.4. Đất đai
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là t liêu sản xuất đặc biệt quan trong
không thể thay thế đợc trong nông nghiệp Là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trờng sống, của con ngời. Bởi vậy việc sử dụng hợp lý vốn đất ở
từng địa phơng có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ
môi trờng chung.
Xã Ninh Sơn có một địa hình tơng đối bằng phẳng, cao dần từ Bắc đến
Nam. Đây là một yếu tố thuận tiện cho việc phát triển các cây hoa màu và cây
nông nghiệp nhằm phục vụ cho con ngời và ngành chăn nuôi.
Toàn bộ xã có tổng diện tích đất nông nghiệp là 570,6 ha chiếm tỷ lệ
70,42%, diện tích đất phi nông nghiệp là 211,79 ha chiếm tỷ lệ 26,14% và đất
cha sử dụng là 27,94 ha chiếm tỷ lệ 3,45% so với tổng diện tích đất tự nhiên.
Diện tích đất nông nghiệp chiến tỷ lệ cao trong tổng diện tích đất tự nhiên
là một yếu tố thể hiện thế mạnh phát triển của ngành trồng trọt, chủ yếu bà con
canh tác cây lúa và một số cây lơng thực, rau màu khác. Đây là yếu tố duy trì và
thúc đẩy ngành chăn nuôi trong xã phát triển.
cao, mức thu nhập bình quân đầu ngời là 480 kg/ngời/năm.
2.3. Chính trị
Xã Ninh Sơn có một đội ngũ cán bộ Đảng viên vững mạnh, nòng cốt là cựu
chiến binh, cán bộ tri thức trẻ đang công tác tại địa phơng. Trong những năm gần
đây, các vấn đề an ninh luôn đợc ổn định, không có các trọng án xảy ra, các tệ
nạn xã hội giảm hẳn. Các cấp lãnh đạo các ban ngành thôn xã luôn luôn đoàn kết
một lòng tất cả cùng nhau phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa để đảm
bảo đợc một nền chính trị ổn định, phát triển lâu dài. Trong xã các công trình
giao thông, thủy lợi hàng năm đều đợc tu sửa và xây dựng mới. Ngành giáo dục
ngày càng đợc trú trọng hơn, trang thiết bị dạy học ngày càng hiện đại, chất lợng
dạy và học đã đợc nâng cao rõ rệt. Bên cạnh đó các vấn đề về y tế, Điện - Đờng -
Trờng - Trạm đợc nâng cấp, mạng lới thông tin liên lạc hoàn chỉnh hơn. Hiện nay
trong xã đã có một trờng mầm non, một trờng cấp 1, một trờng cấp 2 và một trạm
y tế chuẩn quốc gia.
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-6-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Dới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban mặt trận tổ quốc xã, đời sống nhân dân
ngày một nâng cao, các vấn đề xã hội ngày càng hiểu biết hơn, tiến bộ hơn.
Hàng năm Đảng bộ xã đều có công văn gửi tới các chi bộ Đảng ở các thôn, cử
những lớp đoàn viên trẻ, u tú đi học các lớp cảm tình Đảng. Đây là hớng đi để
khẳng định đợc niềm tin của quần chúng nhân dân xã Ninh Sơn đối với sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
3. Tình hình chăn nuôi
Xã Ninh Sơn có truyền thống chăn nuôi phát triển lâu đời. Ngành chăn nuôi
không chỉ cung cấp số lợng lớn gia súc, gia cầm mà còn phát triển về chất lợng để
phục vụ nhu cầu thực phẩm của nhân dân trong cũng nh ngoài xã.
Để hòa nhập cùng sự phát triển mạnh mẽ của huyện Việt Yên, ngời dân xã
Ninh Sơn cũng ra sức phát triển ngành chăn nuôi. Những năm trớc đây họ chỉ
chăn nuôi nhằm tận dụng các phế phụ phẩm trong nông nghiệp, quy mô chỉ ở
3.1.2. Về nguồn thức ăn
Thức ăn chủ yếu là tận dụng phụ phẩm của ngành nông nghiệp nh thân cây
ngô, khoai lang, cám gạo, bột ngô, cỏ voi Đây là nguồn thức ăn phong phú và
rẻ tiền. Một số hộ đã áp dụng phơng pháp ủ men rơm rạ, cỏ khô, thân cây ngô
để tăng hàm lợng chất dinh dỡng cho thức ăn và để dự trữ thức ăn cho mùa khô.
Những năm gần đây nhiều hộ chăn nuôi đã mạnh dạn đầu t thức ăn công
nghiệp vào chăn nuôi trâu bò thịt đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao.
3.1.3. Chuồng trại, vệ sinh chuồng trại
Vấn đề chuồng trại trong chăn nuôi trâu bò tại xã Ninh Sơn đang từng bớc
đợc cải thiện và nâng cấp, chuồng trại đợc bố trí hợp lý, có máng nớc thải ra
hợp vệ sinh, nền chuồng cao ráo sạch sẽ, hớng chuồng phù hợp để thoáng mát
vào mùa hè và ấm áp, kín gió vào mùa đông. Bên cạnh đó vẫn còn một số hộ gia
đình cha có ý thức vệ sinh chuồng trại, chuồng trại còn ẩm thấp, không đảm bảo
thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Mang nớc thải cha đảm bảo vệ sinh,
bà con tận dụng các chất độn chuồng để lấy phân nên chuồng nuôi rất bẩn và dễ
bị nhiễm bệnh.
3.1.4. Công tác thụ tinh nhân tạo
Theo số liệu của thú y xã đã cung cấp thì tỷ lệ thụ tinh nhân tạo của đàn
trâu bò còn rất hạn chế, chủ yếu ngời chăn nuôi cho bò nhảy trực tiếp từ đực lai
Sind.
3.1.5. Thu nhập từ chăn nuôi trâu bò
Hiện nay chăn nuôi trâu bò thịt ở xã Ninh Sơn đang rất phát triển, nó đã và
đang mang lại nguồn thu nhập cho ngời dân. Ngoài ra chăn nuôi bò cái sinh sản
cũng nh bò đực giống cũng mang lại thu nhập cao. Một số hộ chăn nuôi xem
đây là nguồn thu nhập chính.
* Kết luận.
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-8-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Nhìn chung công tác chăn nuôi trâu, bò của xã ngày càng đợc mở rộng và
3.2.2. Con giống, phơng thức chăn nuôi
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-9-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Giống là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong chăn nuôi, nếu chọn đợc con
giống tốt thì khả năng sinh trởng và phát triển cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho
ngời chăn nuôi và ngợc lại.
Phơng thức chăn nuôi gắn liền với con giống và thức ăn. ở Ninh Sơn hiện
nay có hai phơng thức chăn nuôi chính. Những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ thờng sử
dụng con giống từ lợn nội nh lợn Móng Cái, Lang Hồng làm lợn nái sinh sản và
chăn nuôi theo hình thức nấu chín, một phơng thức nữa đợc phổ biến hiện nay
là chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp và thờng sử dụng con
giống là giống lợn Đại Bạch, Landrace Trên địa bàn xã đã có một số hộ mạnh
dạn chăn nuôi theo quy mô lớn nên nhu cầu về dinh dỡng, về chăm sóc và công
tác phòng trị bệnh rất đợc trú trọng.
3.2.3. Chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc
Chuồng trại để chăn nuôi lợn đợc bà con xây dựng cao ráo, chắc chắn, h-
ớng chuồng đợc làm theo hớng Đông hoặc Đông Nam đảm bảo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông. Chuồng có nơi gom phân, nớc thải đê xử lý. Nhiều
hộ gia đình đã xây Bioga để thu gom chất thải vừa sạch sẽ đảm bảo vệ sinh, vừa
làm nguyên liệu đun cho gia đình, máng ăn, máng uống hợp vệ sinh. Những hộ chăn
nuôi lợn nái sinh sản thì có ô nhốt lợn con và sân chơi riêng. Nhìn chung các hộ
chăn nuôi đã có ý thức chăm sóc, vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo tốt cho đàn lợn của gia
đình. Bên cạnh đó vẫn có một số ít ngời dân cha quan tâm nhiều đến chăn nuôi nên
việc chăm sóc, vệ sinh cha đợc tốt, trong nền chuồng vẫn còn phân và nớc tiểu ứ
đọng làm cho đàn lợn hay mắc bệnh.
3.2.4. Thu nhập từ chăn nuôi lợn
Với ngời chăn nuôi xã Ninh Sơn, nghề chăn nuôi của họ chủ yếu tập trung
từ chăn nuôi lợn và chăn nuôi trâu bò, chính vì vậy mà thu nhập từ chăn nuôi
lợn rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào tổng thu nhập quốc dân của xã.
nuôi nhốt này đợc sử dụng tiện lợi hơn.
ở xã chăn nuôi gia cầm cha đơc xem là nguồn thu nhập chính trong thu
nhập của ngành chăn nuôi nhng lại đợc phổ biến rộng rãi vì cơ bản nó cần ít vốn
lại có khả năng quay vòng vốn nhanh, thiết thực hơn với ý nghĩ của ngời nông
dân.
3.4. Chăn nuôi ngựa
Ngành chăn nuôi ngựa không phát triển rộng rãi trong toàn xã, chăn nuôi
ngựa chủ yếu là để tận dụng sức kéo, trong khi đó hiện nay việc vận chuyển
hàng hóa đang đợc cơ giới hóa nên việc dùng nhựa làm sức kéo hầu nh không
thông dụng. Số lợng ngựa hiện nay hầu nh không còn nhiều, chỉ còn một số gia
đình chăn nuôi ngựa với mục đích kéo xe, chở hàng hóa và những sản phẩm của
ngành nông nghiệp trên địa bàn xã và khu vực lân cận.
3.5. Chăn nuôi chó mèo
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-11-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Chó mèo là con vật rất gần gũi với con ngời, do đó mà chăn nuôi chó ở xã
luôn đảm bảo độ đồng đều. Hầu nh nhà nào cũng có từ 1 - 2 con chó đợc nuôi
để trông nhà, còn đàn mèo thì đợc nuôi ít hơn.
Việc nuôi chó mèo ở xã Ninh Sơn ngoài mục đích trông nhà thì một số hộ
cũng xem đấy là nguồn thu nhập nhng nếu tính hiệu quả kinh tế thì không cao.
3.6. Kết luận
Nhìn chung tình hình chăn nuôi trên địa bàn xã đã có nhiều nét khởi sắc và
chuyển biến một cách tích cực, những con giống tốt, những tiến bộ của khoa
học kỹ thuật luôn đợc cập nhật đến từng ngời dân.
Đợc sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc, các cơ quan, tổ chức lãnh đạo đã tạo
điều kiện tốt nhất cho ngời dân tiếp cận với khoa học kỹ thuật, giúp ngời dân đ-
ợc vay vốn một cách dễ dàng hơn, đó là những thuận lợi để ngời dân mạnh dạn
hơn nữa vào đầu t cho ngành chăn nuôi. Do đó mà ngành chăn nuôi của xã ngày
càng phát triển và có hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt.
chủ yếu lấy trâu bò để cày kéo nhng những năm gần đây do khoa học kỹ thuật
phát triển, máy móc để phục vụ sản xuất đã đợc bà con biết đến và sử dụng
nhiều nên việc dùng trâu bò cày kéo sẽ ít đi thay vào đó là chăn nuôi trâu bò
theo tính hớng thịt tuy nhiên sức sinh sản của trâu chậm 3 năm/2 lứa (trâu Việt
Nam), khả năng tiêu tốn thức ăn của trâu lại cao do đó sẽ đem lại hiệu quả kinh
tế không cao vì vậy thay vào việc nuôi trâu ngời dân sẽ chuyển sang nuôi bò. Ta
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-12-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
thấy số lợng đàn bò vẫn tăng lên theo từng năm, điều này phản ánh đợc phong
trào chăn nuôi bò thịt đang rất phát triển, thể hiện sự nhạy bén trong việc thâm
nhập thị trờng của ngời chăn nuôi ở đây vì ngày nay nhu cầu về lợng thịt bò gia
tăng, khả năng tiêu tốn thức ăn của bò ít hơn trâu và sức sinh sản của bò nhanh
hơn. Chính vì vậy mà đợc bà con chọn lựa để chuyên dụng.
- Chăn nuôi lợn: Tổng đàn lợn của toàn xã qua 2 năm 2005; 2006 và 4
tháng đầu năm 2007 có nhiều thay đổi. Lợn đực giống trong các năm không
thay đổi, lợn nái và lợn thơng phẩm thì biến động rõ rệt. Năm 2006 số lợng đàn
lợn nái và lợn thơng phẩm tăng hơn hẳn so với năm 2005 nhng đến 4 tháng đầu
năm 2007 thì số lợng lại giảm đáng kể (năm 2006 lợn nái là 1050 con, lợn th-
ơng phẩm là 4138 con thì đến 4 tháng đầu năm 2007 chỉ còn 1002 con lợn nái
và 3020 con lợn thơng phẩm). Nguyên nhân mà số lợng đàn lợn giảm rõ rệt là
do đầu năm 2007 vùa qua do trên địa bàn xã và khu vực lân cận xảy ra dịch
bệnh suy hô hấp ở lợn, bệnh này làm cho lợn chết nhanh và dễ lây lan chính vì
vậy mà số lợng đàn lợn bị chết nhiều ở các hộ gia đình do đó mà các hộ khác
chuẩn bị nuôi thì lại dừng lại, cha dám nuôi tiếp. Chính lý do này mà số lợng
đàn lợn thay đổi đáng kể.
- Chăn nuôi gia cầm: Qua bảng ta thấy số lợng đàn gà và đàn ngỗng giảm
hơn hẳn, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hởng của dịch cúm gia cầm và đến
cuối năm 2005, đầu năm 2006 mới có vaccine phòng cúm gia cầm nên bà con
vẫn còn bị ảnh hởng của đợt dịch vì vậy mà số lợng đàn gà cha đợc khôi phục.
đông ấm, hè mát là nguyên nhân ảnh hởng đến sức đề kháng của vật nuôi làm
cho vật nuôi bị mắc bệnh và lây lan. Chính vì vậy mà hàng năm dịch bệnh vẫn
xảy ra ở cơ sở. Dịch bệnh xảy ra ở đây chỉ mang tính chất lẻ tẻ nhng lại gây
thiệt hại không nhỏ đến ngành chăn nuôi. Các bệnh hàng năm thờng xảy ra ở cơ
sở là:
- Bệnh phân trắng lợn con.
- Bệnh tụ huyết trùng lợn, trâu bò.
- Hội chứng tiêu chảy.
- Bệnh ký sinh trùng (ghẻ, giun sán).
- Một số bệnh sản khoa (viêm tử cung sau khi đẻ, bệnh teo thai, chết lu ở
lợn về mùa nóng).
Nhìn chung các bệnh thờng xảy ra ở cơ sở là cơ bản giống với các bệnh ở
trên địa bàn khác, nguyên nhân chính vẫn là do điều kiện chăn nuôi, khâu vệ
sinh cha đảm bảo.
4.3. Tình hình phòng bệnh cho gia súc, gia cầm
Hàng năm theo sự chỉ đạo của trạm thú y huyện Việt Yên, sự làm việc
nhiệt tình có khoa học của ban thú y xã, sự hởng ứng nhiệt tình của ngời chăn
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-14-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
nuôi vì vậy đàn gia súc gia cầm của xã Ninh Sơn đã đợc tiêm phòng định kỳ
đảm bảo khả năng miễn dịch cho vật nuôi.
Các bệnh đợc tiêm phòng chủ yếu là:
- Bệnh tụ huyết trùng trâu bò, lợn,
- Bệnh dịch tả lợn.
- Bệnh cúm gia cầm.
- Phòng chó dại.
Ngoài việc tiêm phòng bằng thuốc thì bà con nông dân cũng tích cực trong
công tác vệ sinh, che chắn chuồng trại để phòng bệnh cho vật nuôi.
Bảng 2: Kết quả điều tra tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm của xã Ninh
1700 32.74
2100 40.44
Gà Cúm H5N1 14298 13560 94.84
2007
Trâu, bò THT 1591 175 10.99
Lợn
Dịch tả
THT
PTH
LMLM
4027
750 18.62
700 17.38
700 17.38
1500 37.25
Gà Cúm H5N1 16080 8000 49.75
* Nhận xét bảng 2:
Qua bảng điều tra kết quả tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm ở xã Ninh
Sơn qua các năm em thấy tỷ lệ tiêm phòng dới sự chỉ đạo tiêm tập chung của
thú y xã đã có những bớc thay đổi rõ rệt, đặc biệt là năm 2006 tỷ lệ đàn gia súc,
gia cầm của xã tăng hơn hẳn so với năm 2005, tỷ lệ tiêm ở lợn, gà, trâu bò năm
2006 rất cao, tỷ lệ tiêm phòng của gà lên tới 94,84%. Nhng đến năm 2007 thì tỷ
lệ tiêm phòng của đàn gia súc, gia cầm lại giảm đáng kể, nguyên nhân chủ yếu
là do ngời dân t tiêm lấy đối với các loại vaccine thông thờng. Một tình trạng
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-15-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
chung nữa dẫn đến việc tiêm phòng bị giảm dần là do nhng phân vân, thắc mắc
của bà con nh việc trâu bò mặc dù tiêm nhng vẫn có một số trờng hợp phát
bệnh. Hay là do việc bê ủ bệnh không biết nên khi tiêm vào làm cho bê chết
thuật vào làm và hớng dẫn cho bà con nông dân nhằm góp phần vào sự phát
triển của ngành chăn nuôi tại cơ sở. Kết quả thu đợc nh sau:
1.1. Thức ăn
Để chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao nhất thì điều kiện kiên quyết phải
đảm bảo 3 công tác: Giống, thức ăn và công tác chăn nuôi, thú y.
Thức ăn trong chăn nuôi tốt sẽ phần nào cải thiện đợc đàn vật nuôi, nâng
cao sức khỏe và khả năng chống đỡ bệnh tật của gia súc, gia cầm. Hay nói cách
khác thức ăn giữ vai trò quan trọng quyết định tới sự thành bại trong chăn nuôi,
thể hiện ở hai mặt:
Về mặt sinh học: Gia súc lấy dinh dỡng trong thức ăn để duy trì sự sống và
tạo sản phẩm. Nh vây tốc độ sinh trởng và khả năng sinh sản, làm việc của con
vật nhanh hay chậm, xấu hay tốt là do thức ăn quyết định.
Về mặt kinh tế: Chi phí cho thức ăn chiếm một phần rất lớn trong tổng chi
phí chăn nuôi. Do đó nếu sử dụng thức ăn đầy đủ dinh dỡng và hợp lý thì sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, phần nào hạn chế đợc sự lãng phí.
Trờng cao đẳng Nông Lâm Khoa Chăn nuôi -Thú y
-17-
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thu Huyền - 46c
Nhận thấy tầm quan trọng của thức ăn trong chăn nuôi, bằng những kiến
thức đã học, em cùng với nhóm thực tập tại xã Ninh Sơn đã làm và hớng dẫn
cho bà con cách làm, chế biến, phối hợp một số loại thức ăn trong chăn nuôi.
1.1.1. Thức ăn cho lợn
a. Trộn ẩm thức ăn
Trộn ẩm thức ăn thì nguyên liệu là các sản phẩm của ngành nông nghiệp
kết hợp với thức ăn đậm đặc của các nhà máy sản xuất cám. Các nguyên liệu đ-
ợc tính theo tỷ lệ % về khối lợng trong khẩu phần trên cơ sở đảm bảo về năng l-
ợng, Protein, Ca, P Cho vật nuôi ở từng lứa tuổi. T ơng ứng với mỗi loại lợn
thì có một loại đậm đặc riêng. ở đây em dùng thức ăn đậm đặc CP. Mô hình đ-
ợc em áp dụng thử là trại của gia đình Bác Ngô Văn Thắng - thôn Ninh Động
với quy mô 20 con lợn nái lai và nái ngoại.