THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BHXH TẠI BHXH TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2003 2007 - Pdf 67

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BHXH TẠI BHXH TỈNH
HẢI DƯƠNG NĂM 2003 2007
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH VIỆT NAM VÀ BHXH TỈNH HẢI
DƯƠNG
1. Sự ra đời và phát triển của BHXH Việt Nam
Cũng như ở các nước trên thế giới, tại Việt Nam BHXH ra đời là
một bước ngoặt tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và
xã hội của đất nước. Ngay từ khi ra đời, BHXH đã tỏ rõ tác dụng lớn
lao của mình trong cuộc sống. Trên thực tế thì BHXH Việt Nam ra đời
từ thời kỳ Pháp thuộc, nhưng phải đến sau Cách Mạng Tháng Tám
dựa trên Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,
Chính phủ đã ban hành hàng loạt các sắc lệnh qua đó quy định về các
chế độ trợ cấp, ốm đau, tai nạn hưu trí cho công nhân viên chức Nhà
nước.
Ngày 14/03/1947 và 22/05/1950 chính phủ đã ban hành hai sắc
lệnh 105/SL và 77/SL quy định các chế độ ốm đau, tai nạn lao động,
hưu trí và thai sản cho công nhân viện chức Nhà nước. Sự ra đời của
hai sắc lệnh này có thể được coi là những văn bản pháp luật đầu tiên
về BHXH có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở để ban hành Điều lệ
BHXH sau này.Trong điều kiện đất nước còn gặp rất nhiều khó khăn,
nhưng sự ra đời của hành loạt các sắc lệnh đã chứng tỏ sự quan tâm
của Đảng và Nhà nước và của Bác Hồ đối với người lao động.
Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên
chức có quyền được hưởng trợ cấp BHXH. Quyền này đã được cụ
thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức
Nhà nước, được ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày
27/12/1961. Bên cạnh đó cùng với nghị định 161/CP vào ngày
30/10/1964 Điều lệ đãi ngộ quân nhân cũng ra đời. Đây được coi là
các văn bản luật đầy đủ và toàn diện nhất về BHXH lúc bấy giờ quy
định các quyền lợi BHXH của người lao động.
Nền kinh tế chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có

Chiến lược phát triển BHXH Việt Nam giai đoạn từ nay đến năm
2010 có những mục tiêu chủ yếu sau:
-Các quy định, chính sách về BHXH phải thể hiện rõ ràng BHXH
là một hệ thống các chế độ trợ cấp góp phần thay thế bù đắp một
phần thu nhập bị mất đi của người lao động( cán bộ, công chức, viên
chức, quân nhân, người lao động) khi học bị ốm đau, tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất nhằm bảo đảm và ổn định cuộc
sống của họ và gia đình họ thông qua một quỹ tài chính trợ cấp, quỹ
này do các người lao động và người sử dụng cùng nhau đóng góp.
Bên cạnh đó, BHXH phải phục vụ vì lợi ích vật chất và tinh thần của
mọi người, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn
minh, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Việt Nam.
- Ngày càng chú trọng tới việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH
đến mọi lao động nhằm đảm bảo cho mọi người lao động đều có
quyền hưởng BHXH khi rủi ro xảy ra, mọi người đều được bảo vệ,
bình đẳng, yên tâm sống và làm việc tốt.
- Nâng cao chất lượng quản lý của bộ máy BHXH Việt Nam từ
trung ương đến địa phương trên tất cả các nghiệp vụ như thu, chi,
quản lý đối tượng chính sách, quản lý và cấp sổ thẻ, tiếp nhận hồ sơ,
tiếp dân… đảm bảo phục vụ tốt nhất cho các đối tượng tham gia.
- Triển khai và thực hiện tốt cơ chế “ một cửa”, giảm bớt nạn hách
dịch, nhiễu dân, tham nhũng của cán bộ làm bảo hiểm.
2. BHXH tỉnh Hải Dương
1.1. Lịch sử ra đời và phát triển
Bảo hiểm xã hội (BHXH ) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước, góp phần đảm bảo đời sống cho người lao động, ổn định chính
trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước và
bảo vệ Tổ quốc
Từ khi thành lập nhà nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn
quan tâm đến các chế độ chính sách BHXH cho người lao động thông

BHXH tỉnh Hải Dương chịu sự quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Hải Dương
BHXH tỉnh Hải Dương có con dấu, tài khoản riêng.
Hệ thống tổ chức của BHXH tỉnh Hải Dương là:
1. BHXH thành phố Hải Dương
2. BHXH huyện Thanh hà
3. BHXH huyện Chí linh
4. BHXH huyện Cẩm Giàng
5. BHXH huyện Thanh Miện
6. BHXH huyện Kim Thành
7. BHXH huyện Ninh Giang
8. BHXH huyện Kinh Môn
9. BHXH huyện Gia Lộc
10.BHXH huyện Bình Giang
11.BHXH huyện Nam Sách
12.BHXH huyện Tứ Kỳ
Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp việc cho giám đốc BHXH tỉnh Hải
Dương:
1. Phòng chế độ, chính sách
2. Phòng Kế hoạch –tài chính
3. Phòng thu
4. Phòng bảo hiểm tự nguyện
5. Phòng giám định y tế
6. Phòng tổ chức hành chính
7. Phòng công nghệ thông tin
8. Phòng Kiểm tra
9. Phòng Tiếp nhận –quản lý hồ sơ
10.Phòng cấp và quản lý sổ,thẻ
Cơ cấu tổ chức, bộ máy làm việc của cơ quan BHXH tỉnh Hải
Dương được thể hiện ở sơ đồ 2.1

BHXH tỉnh Hải Dương có 10 phòng chức năng nghiệp vụ đã tăng gấp
đôi so với thời gian đầu mới thành lập.Phòng không có tư cách pháp
nhân đầy đủ, không có dấu, tài khoản riêng. Các phòng chức năng do
Trưởng phòng quản lý và điều hành theo chế độ thủ trưởng. Giúp
Trưởng phòng có phó trưởng phòng.Trưởng phòng, phó phòng do
Giám đốc BHXH tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, thuyên
chuyển, khen thưởng và kỷ luật sau khi có ý kiến phê duyệt bằng văn
bả của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam.
- BHXH thành phố Hải Dương trực thuộc BHXH tỉnh Hải Dương
có nhiệm vụ giúp ban giám đốc BHXH tỉnh và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ chuyên môn được phân cấp.
- Hiện nay trực thuộc BHXH tỉnh Hải Dương có 11cơ quan BHXH
huyện thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được phân cấp.
Thông qua sơ đồ cơ cấu tổ chức của cơ quan BHXH tỉnh Hải
Dương ta thấy có một mối liên kết chặt chẽ giữa các phòng ban, các
cá nhân trong cơ quan.Mỗi phòng ban là một mắt xích quan trọng
không thể thiếu trong bộ máy đó, góp phần tạo nên một đơn vị vững
mạnh và phát triển như hiện nay.
3. Kết quả hoạt động chung trong những năm qua.
3.1. Công tác quản lý thu BHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT bắt buộc
Căn cứ chỉ tiêu kế hoạch BHXH Việt Nam giao cho và tình hình
kinh tế xã hội thực tế tại địa phương, BHXH tỉnh Hải Dương đã chỉ
đạo tốt công tác BHXH, BHYT bắt buộc, cấp và quản lý sổ BHXH, thẻ
BHYT bằng nhiều biện pháp tích cực như: xây dựng và giao kế hoạch
kịp thời, thực hiện phân cấp thu BHXH, BHYT một cách rõ ràng và
mạnh mẽ cho BHXH các cấp huyện – thành phố; chủ động tổ chức
tuyên truyền, hướng dẫn chế độ chính sách, các quy định về thực hiện
BHXH – BHYT bắt buộc theo luật BHXH; đông thời có văn bản hướng
dẫn các đơn vị sử dụng lao động thực hiện thu BHXH, BHYT bắt
buộc, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo luật BHXH cho người lao động;

Chốt sổ BHXH các loại (sổ) 5.046 5.964 3.841
Thẩm định ký bổ sung sổ BHXH
(sổ)
1.058 1.627 1.078
(Nguồn: Phòng thu- BHXH tỉnh Hải Dương )
3.2 .Công tác Bảo hiểm y tế tự nguyện
Từ khi triển khai loại hình BHYT tự nguyện từ năm 2003 đến nay,
BHXH tỉnh Hải Dương đã tuyên truyền và triển khai kịp thời sâu rộng
đến nhân dân, hội đoàn thể, học sinh,sinh viên về chính sách BHYT tự
nguyện theo thông tử 06/TTLT-BYT-BTC, công văn 1302/BHXH-TN
ngày 20/4/2007 của BHXH Việt Nam, giải thích rõ về đối tượng, điều
kiện, quyền lợi, mức phí, cách tổ chức thực hiện BHYT để nhân dân
thấy được sự cần thiết và hợp lý của BHYT tự nguyện của chính phủ.
BHXH tỉnh đã tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh có công văn chỉ đạo
các huyện, thành phố thực hiện công tác BHYT tự nguyện, đồng thời
ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị thực hiện BHYT tự
nguyện. Chỉ đạo BHXH cac huyện tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức
các hội nghị triển khai BHYT tự nguyện tới các hội đoàn thể, trường
học.
Kết quả thực hiện BHYT tự nguyện thể hiện ở bảng 2
Bảng 2: Kết quả thực hiện BHYT tự nguyện tại BHXH tỉnh Hải
Dương (2005- 2007)
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số thẻ BHYT tự nguyện đã phát 133.941 133.184 120.000
Số thu BHYT tự nguyện 5.734.193.522 6.828.605.568 Trên 7 tỷ đồng
(Nguồn: Phòng kế hoạch- tài chính- BHXH tỉnh Hải Dương )
3.3 Kết quả chi trả các chế độ BHXH
Trong các năm qua công tác chi trả các chế độ BHXH bắt buộc đã
được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả: đảm bảo chi hoạt động thường
xuyên, tiết kiệm, bám sát kế hoạch, chi đúng mục đích, đúng quy định;

2007 943639 75273 324697 618942
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính- BHXH tỉnh Hải Dương )
Tại BHXH tỉnh Hải Dương, hoạt động chi trả BHXH bao gồm:
- Chi trả trợ cấp cho người khi đã hội tụ đầy đủ những yếu tố
được hưởng trợ cấp BHXH theo đúng các quy định của pháp luật thì
được chi trả trợ cấp BHXH, đây là quyền lợi của người lao động khi
tham gia BHXH. Năm chế độ được chi trả là: ốm đau, thai sản, hưu trí,
tử tuất, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đây là nguồn chi
thường xuyên và cơ bản, nguồn chi này khá lớn ảnh hưởng tới sự
thành công của hoạt động BHXH. Có thể lấy chi phí khám chữa bệnh
(KCB) để làm ví dụ minh họa:
Bảng 4: Kết quả chi phí Khám chữa bệnh tại BHXH tỉnh Hải
Dương (2005-2007)
(Đơn vị tính:
đồng)
Chi KCB Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Chi KCB trong tỉnh 40.151.130.673 59.801.305.534 68.199.425.726
Chi phí thanh toán trực tiếp 452.817.550 602.739.027 460.441.701
Chi phí đa tuyến 11.081.131.953 19.987.021.247 24.471.889
Tổng cộng 51.685.080.176 80.391.065.808 93.131.281.316
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính- BHXH tỉnh Hải Dương )
Từ bảng số liệu ta thấy, số tiền dành cho công tác Khám chữa
bệnh cho người lao động ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm
trước. Khám chữa bệnh là một công việc quan trọng trong khâu giám
định để làm cơ sở cho việc chi trả các chế độ BHXH. Chi phí khám
chữa bệnh ngày càng tăng chứng tỏ số người lao động được khám,
chăm sóc sức khỏe… ngày càng tăng đồng thời có thể nói số người
gặp những biến cố trong quá trình lao động cũng tăng lên. Điều đó
góp phần làm tăng chi phí mà quỹ BHXH phải chi, có thể dẫn tới hiện
tượng thu không đủ chi, lạm chi ảnh hưởng đến hoạt động của cơ

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc các cơ quan hành chính sự
nghiệp, Đảng, đoàn thể, các hội quần chúng tự trang trải về tài chính.
- Các cơ sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc các ngành văn hóa,
y tế, giáo dục đào tạo, khoa học, thể dục thể thao và các ngành sự
nghiệp khác.
- Trạm y tế xã, phường, thị trấn.
- Các cơ quan, tổ chức của nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế
tại Việt Nam nhưng ngoại trừ các tổ chức được quy định trong các
điều ước quốc tế mà Việt Nam có tham gia hoặc ký kết có quy định
khác.
- Các tổ chức khác có sử dụng lao động.
b, Cán bộ, công chức, viên chức được quy định theo pháp lệnh
cán bộ, công chức
c, Người lao động làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo
hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên trong các doanh nghiệp: nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp.
d, Người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp
đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tãc xã thành lập, và
hoạt động theo luật hợp tác xã ở Việt Nam
e, Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn được quy
định tại Nghị định số 152/1999/ NĐ- CP ngày 20/9/1999 của Chính
phủ.
g, Các cán bộ xã, phường hưởng sinh hoạt phí theo quy định tại
nghị định 09/1998/ NĐ- CP của chính phủ
f, Đại biểu hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn.
h, Các đối tượng nộp BHXH một lần hoặc tự nộp BHXH diện tinh
giảm biên chế theo quy định của chính phủ
Đặc điểm của các đối tượng nộp BHXH bắt buộc là :
- Các đối tượng này đều thuộc các khu vực lao động có tổ chức
ổn định và tốt.

Mức thu này thu cho BHYT và được áp dụng cho các đối tượng
sau:
- Người được hương lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng.
- Người lao động thuộc đối tượng thu mức 23% tiền lương
nhưng đang trong thời gian nghỉ ốm dài, nghỉ thai sản (đối với nữ)
hoặc nghỉ chờ việc không hưởng lương mà chưa trả lại thẻ khám
chữa bệnh
- Lưu học sinh (thu 3% học bổng)
2.2. Mức thu 3 % tính trên lương tối thiểu:
Đây là mức thu cho BHYT mà các đối tượng thu là :
- Người hưởng chế độ ưu đãi theo pháp lệnh của người có công
- Các đối tượng bảo trợ xã hội , thân nhân liệt sĩ, đối tượng nhiễm
chất độc hóa học.
- Thành viên hội đồng nhân dân xã phường không thuộc đối
tượng của nghị định 09/1998/ NĐ-CP
2.3.Mức thu 15% tiền lương
Mức thu 15% lương được thu cho BHXH bắt buộc, không có
BHYT được áp dụng cho các đối tượng là:
- Người đi hợp tác lao động ở nước ngoài không hưởng tiền
lương ở trong nước bao gồm:
+ Nếu người lao động trước khi ra nước ngoài là cán bộ công
nhân viên chức nhà nước thì phải đóng 15% theo mức tiền lương
đang hưởng.
+ Nếu là lao động mới tuyển dụng thì mức đóng BHXH được tính
theo hai lần mức tiền lương tối thiều do Nhà nước quy định.
- Đối tượng thuộc điện tinh giảm biên chế được đóng BHXH theo
quy định tại nghị quyết số 16/2000/NĐ-CP ra ngày 18/10/2000 của
chính phủ
- Đối tượng tự nguyện đóng bổ sung BHXH để giải quyết chế độ
hưu trí theo quy định tại khoản b, điều 9, mục II, thông tư 07/2003/TT-

- Cấp địa phương
Trong đó:
-Cấp Trung ương chính là ban quản lý thu BHXH Việt Nam có
nhiệm vụ quản lý chung về tất các các hoạt động liên quan đến công
tác thu ở tất cả các cơ quan BHXH tỉnh, thành phố, quận, huyện trong
cả nước.
- Cấp khu vực là phòng thu BHXH của các tỉnh, thành phố có
trách nhiệm thu BHXH tại các đơn vị sau:
+ Các tổ chức, doanh nghiệp thuọc quyền quản lý của Nhà nước
+ Các đơn vị TW, cơ quan HCSN- Đảng, Đoàn thể đóng trên địa
bàn của tỉnh, thành phố
+ Các đơn vị, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Các đơn vị xuất khẩu lao động
+ Các đơn vị có số lượng lao động lớn
- Cấp địa phương: bộ phận quản lý thu của BHXH quận, huyện có
trách nhiệm thu BHXH ở:
+ Các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động thuộc quyền quản
lý của quận, huyện
+ Các đơn vị có số lượng lao động không lớn
+ Cán bộ xã phường, thị trấn
+ Những đơn vị được BHXH tỉnh ủy quyền thu.

Trích đoạn Công tác quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Hải Dương Những tồn tại và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status