LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và vai trò dịch vụ thanh toán Ngân hàng Thương mại.
1.1.1. Khái niệm chung về dịch vụ thanh toán
“Dịch vụ thanh toán” là một khái niệm kết hợp giữa yếu tố chung là “Dịch vụ”
với yếu tố đặc thù là “Thanh toán”. Vì vậy để hiểu dịch vụ thanh toán cần phải làm rõ
về Dịch vụ.
Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết mối
quan hệ giữa người cung ứng với khách hàng hoặc với tài sản do khách hàng sở hữu mà
không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
Dịch vụ là một hoạt động xã hội đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa
khách hàng và đại diện của tổ chức cung ứng
Còn theo ISO 8402: Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc trực tiếp
giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp
ứng nhu cầu của khách hàng.
Thanh toán (TT) là tổng thể các hoạt động thực hiện nghĩa vụ chi trả hoặc quyền
được chi trả hoặc cả hai trong quá trình thực hiện các giao dịch có liên quan đến tiền tệ.
Cần phân biệt hai lĩnh vực thanh toán là Thanh toán Mậu dịch và Thanh toán Phi
mậu dịch. Thanh toán mậu dịch là hoạt động thanh toán phát sinh từ quan hệ thương
mại. Nó thực hiện nghĩa vụ phải chi trả của người mua và quyền nhận chi trả của người
bán. Thanh toán phi mậu dịch là thực hiện chi trả mà không xuất phát từ quan hệ
thương mại. Ví dụ thanh toán từ một cơ quan cấp trên cho cơ quan cấp dưới theo quan
hệ cấp phát, hay như thanh toán ngân sách nhà nước cho các địa phương, hay thanh
toán tiền trợ cấp...
Thanh toán có thể được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Thanh toán
trực tiếp là việc thực hiện quyền và nghĩa vụ chi trả một cách trực tiếp giữa hai chủ thể
trong giao dịch tiền tệ mà ở đó khi thực hiện một nghĩa vụ chi trả thì ngay lập tức, đồng
thời thực hiện quyền được chi trả cho chủ thể khác. Thanh toán gián tiếp là hoạt động
thanh toán được thực hiện thông qua một hay nhiều bên thứ ba, chủ yếu là thông qua
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tiêu biểu là Ngân hàng thương mại.
1.1.2. Dịch vụ thanh toán ngân hàng
đơn, nhu cầu trao đổi và sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá hình thái tiền đã ra đời.
Tiền ra đời đã mang ba chức năng cơ bản là Phương tiện trao đổi, Đơn vị đo lường, Cất
trữ trong đó phương tiện trao đổi nổi bật lên với sự tiện lợi trong các giao dịch của nền
kinh tế.
Séc (cheque)
Theo Công ước Geneva năm 1931: “Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện do một
khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài
khoản của mình ở ngân hàng đó để trả cho người cầm séc hoặc cho người được chỉ định
trên séc”
Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) định nghĩa “Séc là một Hối phiếu hoặc một lệnh
ký phát cho ngân hàng hay một nhà ngân hàng có mục đích rút một số tiền gửi để chi
trả cho một người có tên trên đó hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm
phiếu và trả ngay khi yêu cầu”
Luật các công cụ chuyển nhượng của Việt nam: “Séc là một giấy tờ có giá do
người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất
định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người hưởng”.
Hối phiếu
Hối phiếu là một lệnh trả tiền vô điều kiện được lập bằng văn bản do một người
(gọi là người ký phát) gửi đến một người khác yêu cầu người này khi nhìn thấy hối
phiếu phải trả tiền ngay hoặc đến một ngày cụ thể hoặc đến một ngày có thể xác định
được trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho người có tên trên tờ phiếu hoặc
theo lệnh của người này hoặc cho người cầm phiếu”.
Theo luật các công cụ chuyển nhượng năm 2006 của Việt Nam, Hối phiếu được
chia làm hai loại: Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu
người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền nhất định khi có yêu cầu hoặc
vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng; Hối phiếu nhận nợ là
giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền
xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ
hưởng.
kỹ thuật điện tử mã hoá, bảo mật tiên tiến thông tin người dùng, thông tin tài khoản
được đảm bảo bí mật. Nhờ không phải mang tiền mặt theo người sử dụng thẻ có thể
đảm bao an toàn cho người dùng trước rủi ro mất mát.
Thư tín dụng
Thư tín dụng là một văn bản cam kết có điều kiện được Ngân hàng mở theo yêu
cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín dụng), theo đó Ngân
hàng thực hiện yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán (người xin mở thư tín
dụng) để:
- Trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền ngay theo lệnh của người thụ
hưởng khi nhận được bộ chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện của thư tín
dụng; hoặc
- Chấp nhận sẽ trả tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng khác trả tiền theo lệnh của người
thụ hưởng vào một thời điểm nhất định trong tương lai khi nhận được bộ chứng từ xuất
trình phù hợp với các điều kiện thanh toán của thư tín dụng.
1.1.3.2. Các phương thức thanh toán cơ bản
Phương thức thanh toán là toàn bộ quá trình, cách thức thực hiện nghĩa vụ chi trả
hoặc quyền được chi trả thông qua những phương tiện thanh toán nhất định để hoàn
thành các giao dịch thương mại hoặc các giao dịch có liên quan đến tiền tệ khác. Trong
hoạt động thanh toán trong nước cũng như quốc tế, có nhiều phương thức khác nhau.
VD: (1) Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remit Hand/Transfer); (2) Phương thức
thanh toán nhờ thu (Collection of Payment); (3) Phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ (Documentary Credit)... Mỗi phương thức sở đắc những ưu điểm nhưng cũng tồn tại
những nhược điểm. Tuỳ thuộc vào mức độ tin cậy giữa các bên trong giao dịch, tuỳ
thuộc vào tính chất và đặc thù của các giao dịch mà có thể lựa chọn các phương thức
khác nhau. Để lựa chọn một phương thức thanh toán nào đó, người ta phải đối mặt với
sự đánh đổi giữa phí tổn thấp và an toàn. Một sự kết hợp giữa mức độ tin cậy và phí tổn
cho ta một phương thức. Có thể có những sự kết hợp như sau:
Bảng 1.1. Đặc điểm các phương thức thanh toán cơ bản
Sự tin cậy Phương thức Phí tổn
Cao
thiết bị điện tử (bù trừ điện tử), số tỉnh còn lại vẫn thực hiện bù trừ giấy theo phương
pháp thủ công, hai phiên giao dịch một ngày. Phần lớn các lệnh thanh toán được bù trừ
trong địa bàn. Những khoản thanh toán ngoài địa bàn sẽ phải chuyển qua hệ thống
CTĐT để thực hiện (ba hệ thống nay do NHNN quản lý và điều hành).
Thứ tư: Các hệ thống thanh toán điện tử của các NHTM. Các hệ thống này được
thiết lập khi các NHM chưa tổ chức được hệ thống Corbanking tập trung hoá tài khoản.
Cách thức thiết kế kỹ thuật, phương pháp hạch toán và vận hành có khác nhau nhưng
nội dung thực hiện đều là chuyển các lệnh thanh toán trong nội bộ mỗi NHTM, từ chi
nhánh về Hội sở chính hoặc từ chi nhánh này đến chi nhánh khác.
Thứ năm: Hệ thống chuyển tiền quốc tế (S.W.I.F.T), thường gọi là hệ thống
thanh toán quốc tế. Đây mới chỉ đơn thuần là hệ thống chuyển tiền quốc tế, vì đến thời
điểm này, tại Việt nam chưa có hệ thống thanh quyết toán vốn (Settlement) cho hệ
thống chuyển tiền này.
Gần đây Ngân hàng Nhà nước vừa xây dung một hệ thống thanh toán thẻ liên
ngân hàng – Banknet, Tham gia vào hệ thống thanh toán thẻ này các ngân hàng có thể
cung cấp cho khách hàng một sự tiện lợi. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch
thanh toán thẻ từ bất cứ máy rút tiền tự động của bất cứ ngân hàng nào trong hệ thống.
Lợi ích của các ngân hàng là có thể tiết kiệm chi phí cho việc mở rộng mạng lưới ATM;
Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh toán thẻ; chia sẻ dữ liệu, thông tin
đảm bảo an ninh ngân hàng… Tuy nhiên các ngân hàng cũng phải đối mặt với nhiều
vấn đề về quản lý khách hàng và phân định trách nhiệm; vấn đề lỗ hổng thông tin và sự
tấn công của tội phạm công nghệ cao.
Hệ thống thanh toán ra đời đầu tiên là hình thái các ngân hàng là đại lý của nhau
trong việc thực hiện. Khi nhu cầu của khách hàng càng phát triển, để đáp ứng yêu cầu
các ngân hàng buộc phải hình thành một mạng thanh toán rộng khắp. Mặc dù vậy, nó
vẫn chỉ ở dạng thoả thuận giữa các ngân hàng trong việt chi trả mà không có một tổ
chức điều hành cụ thể. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng là địa điểm (place), thời gian,
sự tiện lợi cho khách hàng, tính an toàn cho các giao dịch thanh toán và từ đó hệ thống
thanh toán hoàn thiện được hình thành với một tổ chức đứng ra làm người điều hành.
Người điều hành của hệ thống có thể là Trụ sở chính của một ngân hàng, Ngân hàng
chọn gói cho khách hàng. Là điều kiện để khách hàng có thể thoả mãn với đầy đủ các
dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu.
- Là một lĩnh vực yêu cầu sự thay đổi và ứng dụng công nghệ hiện đại chính vì thế mà nó
là môi trường để cho công nghệ ngân hàng phát triển làm tiền đề để hiện đại hoá ngân
hàng.
1.2. Các dịch vụ thanh toán chủ yếu của Ngân hàng Thương mại
Về cơ bản, nội hàm của khái niệm “dịch vụ thanh toán ngân hàng” đã được luận
chứng. Phần này tác giả xin làm rõ ngoại diện của Khái niệm bằng việc trình bày những
dịch vụ thanh toán cơ bản của một ngân hàng thương mại:
1.2.1. Cung ứng các loại hình tài khoản tiền gửi thanh toán
Sự ra đời của tài khoản tiền gửi thanh toán (Demand Deposit) đánh dấu một
bước phát triển quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tài khoản tiền gửi là
tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các Ngân hàng với
mục đích gửi, giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các
phương tiện thanh toán. TKTG yêu cầu ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các chỉ
thị của khách hàng cho một cá nhân, tổ chức hoặc cho một bên thứ ba được chỉ rõ là
người hưởng thụ trong các chứng từ giao dịch. Do tính chất linh hoạt mà tài khoản tiền
gửi có nhiều tiện ích:
Về phía ngân hàng: Giúp thu hút được nhiều nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn
nhàn rỗi tạm thời phục vụ cho hoạt động chi trả kể cả là cho vay; Nhiều dịch vụ đi kèm
với nó ngày càng xuất hiện nhiều đem lại nguồn thu có xu hướng ngày càng tăng; Giúp
thuận tiện cho dịch vụ cơ bản khác của ngân hàng như tín dụng – thu lãi, gốc vay tự
động khi đến thời hạn từ TKTGTT...
Về phía khách hàng: Thuận tiện trong thanh toán mà không dùng trực tiếp tiền
mặt; Xoá đi những chi phí và bất tiện của việc giữ tiền; Có thể được hưởng lãi - đối với
loại hình tiền gửi hưởng lãi...
Có nhiều cách thức để phân loại các loại hình tiền gửi thanh toán.
- Theo từng đối tượng khách hàng, tài khoản tiền gửi có thể mở theo các hình
thức sau đây:
(1) Tài khoản tiền gửi của tổ chức: là tài khoản mà chủ tài khoản là người đại
theo thoả thuận giữa người ký phát với tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đó; "Người
được trả tiền" là người mà người ký phát chỉ định có quyền hưởng hoặc chuyển nhượng
quyền hưởng đối với số tiền ghi trên tờ séc; "Người thụ hưởng" là người cầm tờ séc mà
tờ séc đó: a) Có ghi tên người được trả tiền là chính mình; hoặc b) Không ghi tên người
được trả tiền hoặc ghi cụm từ "Trả cho người cầm séc"; hoặc c) Đã được chuyển
nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy chữ ký chuyển nhượng liên tục.
Sơ đồ 1.1. Dịch vụ thanh toán bằng Séc của ngân hàng
Các quan hệ làm phát sinh thanh toán bằng séc
Ngân hàng đối tác ghi có TK
Nhận Séc từ đối tác KH
Nhận séc từ NH đại lý
Trích nợ TK TGTT của KH
Thanh toán (Tiền mặt, chuyển khoản)
NGÂN HÀNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ (1)
Khách hàng của Ngân hàng
Ngân hàng 2
Ngân hàng 3
..................
Đối tác của khách hàng
1
4
2
4’
3
3’
(Nguồn: Quy trình dịch vụ thanh toán của Ngân hàng Liên doanh Lào – Việt)
(1) Dịch vụ thanh toán bằng Séc bắt đầu bằng việc phát hành Séc trắng và tài khoản TGTT
cho khách hàng.
Cung ứng tài
khoản phát séc
3
4
5