Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008 - Pdf 67

Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I Ngân hàng đầu
tư phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008.
2.1 Tổng quan hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I Ngân
hàng đầu tư & phát triển Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển SGDI
Sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư & phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN )
có lịch sử hình thành phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của
NHĐT&PTVN. NHĐT&PTVN là một trong những ngân hàng thương mại quốc
doanh lớn nhất Việt Nam, với 254 chi nhánh tại các thành phố lớn , với hơn
12000 cán bộ, có quan hệ với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước.
NHĐT&PTVN với hơn 50 năm hình thành và phát triển đã đóng góp một phần
không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế nhà cũng như sự phát triển
của hệ thống ngân hàng.
Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển - được thành lập trực thuộc bộ tài chính theo quyết
định 177/TTG của Thủ tướng chính phủ với quy mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi,
nhánh 200 cán bộ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng kiến thiết là thực hiện cấp
phát, quản lí vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất cả các lĩnh
vực kinh tế xã hội.
Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam được đổi tên thành
Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt
Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho
vay và quản lí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế thuộc kế hoạch nhà nước.
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên
thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Đầu năm 1991, thực hiện các quyết định của Nhà Nước và Thống đốc
ngân hàng, NHĐT&PTVN triển khai hoạt động theo mô hình tổ chức mới. Ban
lãnh đạo NHĐT&PTVN đã xác định: Vốn là mặt trận phía trước, tín dụng là
trung tâm với phương chậm “Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là

tiêu kinh doanh đề ra, thông qua việc xây dựng kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng
năm với hoạt động kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển của toàn ngành
và của chính ngân hàng
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đầu tư & phát triển
Việt Nam trong ba năm 2006, 2007, 2008
Thời gian gần đây, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới với xuất phát
điểm là sự sụp đổ hệ thống cho vay dưới chuẩn của Mỹ đã khiến cho nền
kinh tế Việt Nam mà nhất là thị trường tài chính tiền tệ có nhiều diễn biến
mang tính phức tạp, điển hình như việc dư thừa vốn khả dụng của các
NHTM kéo dài suốt trong năm 2007 và lại thiếu hụt vốn trầm trọng vào
đầu năm 2008. Việc chỉ số chứng khoán Việt Nam giảm mạnh, hay việc tỷ
lệ dự trữ bắt buộc tăng, NHNN kiểm soát chặt chẽ cho vay đối với đầu tư
chứng khoán và tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng v.v… dường như càng
làm tăng lên những khó khăn mà hệ thống ngân hàng gặp phải. Trước những
biến động đó, hoạt động của SGDI NHĐT&PTVN trong thời gian qua cũng
không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo
quyết liệt, chủ động, linh hoạt bằng những quyết sách mạnh mẽ, kịp thời
của Ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực chung của toàn bộ tập thể cán bộ nhân
viên, hoạt động của SGDI đã đạt được những kết quả rất khả quan, xứng
đáng là cánh chim đầu đàn trong toàn hệ thống NHĐT&PTVN .
2.1.2.1 Đánh giá nguồn vốn huy động
a) Đánh giá tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của SGDI.
(Đvt: triệu đồng)
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Tính đến hết ngày 31/12/2007, số dư huy động vốn của SGDI đạt
13620.6 tỷ đồng, tăng 34.71% so với năm 2006. Nguồn vốn huy động
luôn tăng trưởng như vậy đã đảm bảo cho SGDI lúc nào cũng có nguồn
vốn sẵn sàng bổ sung cho nhu cầu thanh khoản. Tốc độ tăng trưởng nguồn
vốn huy động của năm 2008 cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn của

mình. Tính đến 31/12/2008 tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt 26485,352
tỷ đồng, tiền gửi dân cư đạt 2355,873 tỷ đồng trong tổng nguồn vốn huy động.
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động của SGDI
Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
1.Tiền gửi tổ chức 7.284.959 12.760.106 26.485.352
- TG không kỳ hạn 1.645.390 3.768.506 7.953.210
- TG có kỳ hạn 5.639.569 8.991.600 18.532.142
2.Tiền gửi dân cư 2.791.400 2.491.021 2.355.873
- TG tiết kiệm 2.290.055 2.130.000 1.865.230
- Kỳ phiếu 120.200 125.350 95.023
- CCTG, trái phiếu 379145 235.671 395.620
3. Huy động khác 34.567 53.355 78235
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Điều đó cho thấy SGDI dường như đi đúng hướng trong việc phát triển
hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt cho hệ thống doanh nghiệp nói riêng
và nền kinh tế nói chung, giúp cho việc kiểm soát lưu thông tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước.
2.1.2.2 Đánh giá tín dụng
a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng
Biểu đồ 2.3: Quy mô tăng trưởng tín dụng 2006 – 2008
(Đvt: triệu đồng)
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008
của SGDI
Trong giai đoạn 3 năm 2006 – 2008, dư nợ tín dụng của SGDI liên tục
tăng. Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới, lạm phát tăng cao trong nước đã khiến
NHNN phải thực thi chính sách tiển tệ thắt chặt vào hồi đầu và giữa năm 2008.
Theo chính sách đó, toàn bộ hệ thống ngân hàng phải hạn chế tốc độ tăng
trưởng tín dụng, rà soát chặt chẽ các khoản cấp tín dụng góp phần nâng cao chất

chiếm 12.47% vào năm 2006, tăng lên 18.91% vào năm 2007 và giảm vào năm
2008. Sự tăng tỷ trọng vào năm 2007 được lý giải bởi sự tăng trưởng mạnh của
nền kinh tế (với tốc độ tăng trưởng GDP là 8.5%). Tuy nhiên, những bất lợi
năm 2008 đã khiến SGDI điều chỉnh tỷ lệ cơ cấu tín dụng. Cho vay theo kế
hoạch nhà nước không những không tăng từ năm 2008 mà còn giảm dần qua
các năm.
Tuy nhiên cũng trong giai đoạn 2006 – 2008, cùng với sự tăng trưởng về
quy mô tín dụng, sự thay đổi dần theo chiều hướng tích cực của cơ cấu tín dụng
thì tỷ lệ nợ xấu của SGDI cũng có xu hướng tăng dần. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư
nọ vào năm 2006 là 0.21% đã tăng lên tới 0.27% vào năm 2007, 0.25% vào năm
2008. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu như vậy có thể coi là chấp nhận được nếu không
muốn nói là khá nhỏ so với các chi nhánh cùng hệ thống và các ngân hàng khác.
Để đạt được những kết quả này là nhờ vào sự nỗ lực cũng như hiệu quả của việc
kiểm soát chất lượng tín dụng chặt chẽ của SGDI trong suốt thời gian qua.
c) Đánh giá các chỉ tiêu khác
* Thu dịch vụ ròng
Biểu đồ 2.4: Thu dịch vụ rong giai đoạn 2006-2008
(Đơn vị tính : triệu đồng)
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006,2007,2008 của SGDI
Trong giai đoạn 2006 – 2008, thu dịch vụ ròng luôn luôn tăng trưởng với
tốc độ mạnh và đều đặn. Thu dịch vụ ròng tính đến thời điểm 31/12/2008 đạt
115 tỷ đồng, tăng 49.6% so vói năm 2007. Trước thực trạng cạnh tranh gay gắt
giữa các NHTM trong cung cấp những tiện ích đến khách hàng, đạt được điều
này là do SGDI đã tập trung nguồn lực vào đầu tư phát triển hoạt động dịch
vụ như tài trợ thương mại, bảo lãnh, dịch vụ ngoại tệ…
* Kết quả kinh doanh
Năm 2007 tổng tài sản bình quân đạt 17999 tỷ đồng tăng 27.28% so với
năm 2006. Cùng với đó, tốc độ tăng truởng của lợi nhuận sau thuế cũng đạt mức
bình quân khá cao là 47.06%. Tính đến 31/12/2007, lợi nhuận sau thuế đạt mức
321 triệu đồng, tăng 73.64% so với năm 2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status