MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ - Pdf 67

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.1. Khái niệm
Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền phát sinh có liên
quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ
chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước.
Các quốc gia không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào các giao dịch,
trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động văn hóa, khoa học kỹ thuật và xã
hội của bản thân quốc gia mình. Để có thể tồn tại và phát triển, các quốc gia
phải tiến hành trao đổi kinh tế và thương mại với nhau. Chính việc trao đổi này
đã làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nước này đối với một nước
khác. Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định
những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia như quy định về
chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phương thức
đòi hoặc chi trả tiền tệ. Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành
thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.
Thanh toán quốc tế có những đặc điểm khác biệt rõ ràng so với thanh toán
quốc nội:
Thứ nhất, thanh toán quốc tế khác thanh toán quốc nội là ở yếu tố ngoại
quốc. Hoạt động thanh toán quốc tế cũng có những đặc điểm tương tự như hoạt
động thanh toán trong nước, tuy vậy nó khác thanh toán quốc nội ở yếu tố ngoại
quốc. Trong đó, yếu tố ngoại quốc được thể hiện trên các thành tố cụ thể như:
+ Chủ thể tham gia thanh toán quốc tế là những người cư trú và phi cư trú,
không phân biệt quốc tịch hay khác quốc tịch hoặc giữa những người phi cư trú
với nhau.
+ Tiền tệ trong thanh toán quốc tế được chuyển khoản từ tài khoản người
phi cư trú sang tài khoản người cư trú hoặc giữa tài khoản hai người phi cư trú
với nhau không kể tài khoản đó mở ở một ngân hàng hay ở hai ngân hàng ở
trong cùng một quốc gia hay ở hai quốc gia khác nhau.
+ Tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế phải là ngoại tệ đối với

phần tăng cường mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Việc hoạt động thanh toán quốc
tế phát triển và được tổ chức tốt còn là một động lực đối với các doanh nghiệp
trong nước để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, đem lại lợi ích to lớn cho
quốc gia.
Thanh toán quốc tế giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng được tiến hành an toàn, tiện lợi và tối thiểu hóa chi phí so với việc thanh
toán bằng tiền mặt. Thêm vào đó, khách hàng còn được tư vấn, hướng dẫn các
kỹ thuật trong thanh toán nhằm hạn chế rủi ro và tạo độ tin cậy lớn cho giao
dịch. Mặt khác, với những khách hàng không đủ khả năng tài chính, Ngân hàng
cũng có thể cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh mở L/C, chiết khấu
chứng từ….Qua đó các doanh nghiệp cũng sẽ thuận lợi hơn trong việc sản xuất
cũng như tiêu thụ hàng hóa trên thị trường thế giới.
Thực hiện thanh toán quốc tế, Ngân hàng có thể giám sát được tình hình
kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính
sách kinh tế đối ngoại được đề ra.
1.1.2.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản cho các Ngân
hàng. Điều này xuất phát từ việc khách hàng theo quy định phải ký quỹ một
khoản tiền nhất định khi yêu cầu Ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán
quốc tế cho mình. Nguồn tiền này khá ổn định và phát sinh thường xuyên do
nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi kỳ hạn thực hiện nghĩa vụ
thanh toán chưa đến, đây sẽ là một nguồn tạo thanh khoản cho Ngân hàng
dưới hinh thức tiền tệ tập trung nhờ thanh toán.
Thanh toán quốc tế tạo động lực cho Ngân hàng phát triển ứng dụng
hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Do yêu cầu của dịch vụ cần nhanh
chóng, chính xác và kết nối quốc tế, thanh toán quốc tế luôn đòi hỏi sự đầu
tư lớn về công nghệ, viễn thông và xử lý dữ liệu. Điều này làm nâng cao
tính hiện đại của hệ thống công nghệ trong toàn Ngân hàng,
Thêm vào đó, thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ đòi hỏi trình độ
cao về chuyên môn, ngoại ngữ, luật pháp trong nước cũng như quốc tế. Do

người hưởng lợi.
1.2.1.3. Quy trình chuyển tiền
Ngân hàng chuyển tiền
Người yêu cầu Người hưởng lợi
Ngân hàng trả tiền
4
3 2
1
6
5
Quy trình chuyển tiền của Ngân hàng được thể hiện ở sơ đồ 1.1 sau:Sơ
đồ 1.1: Quy trình chuyển tiền
(1) Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp đồng
hoặc các thỏa thuận.
(2) Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng của nước mình
chuyển ngoại tệ ra nước ngoài.
(3) Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu cầu
chuyển tiền.
(4) Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho ngân hàng trả tiền ở
nước người hưởng lợi.
(5) Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản ngân hàng chuyển tiền.
(6) Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
1.2.1.4. Các hình thức chuyển tiền
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T, có những dạng điện là:
Telex, Fax, EFT (Electronic Funds Transfer) và SWIFT (Society for Worldwide
Interbank Financial Telecommunication). Trong đó SWIFT là hình thức phổ
biến ngày nay do phương thức chuyển tiền này có ưu điểm là chuyển thông tin
thanh toán nhanh chóng với giá thành hạ và an toàn.
Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T): phương tiện này tuy có chi
phí rẻ nhưng tốc độ thanh toán chậm nên ít được sử dụng.

1
3
4 5
Các văn bản pháp lý điều chỉnh: Các quy tắc thống nhất về nhờ thu số 522
của ICC, bản sửa đổi năm 1995, có hiệu lực từ 01/01/1996, viết tắt là URC
(Uniform Rules for Collection revision)
1.2.2.2. Các bên tham gia
Người xuất khẩu, người hưởng lợi (Principal)
Người nhập khẩu, người trả tiền (Drawee)
Ngân hàng nước người xuất khẩu, ngân hàng chuyển (Remitting bank)
Ngân hàng đại lý, ngân hàng nhờ thu (Collecting bank)
1.2.2.3. Phân loại và quy trình thực hiện
a/ Nhờ thu trơn (Clean collection)
Phương thức nhờ thu trơn là phương thức thanh toán mà trong đó người có
các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình thu
được nên phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán đó
không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ.
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu trơn
(1) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc cung
ứng dịch vụ và gửi trực tiếp chứng từ giao hàng cho người nhập khẩu.
(2) Người xuất khẩu hoặc người cung ứng dịch vụ ký phát một hối phiếu,
một hóa đơn đòi tiền người nhập khẩu và viết lệnh nhờ thu ủy thác cho ngân
hàng nước mình thu tiền từ người nhập khẩu.
(3) Ngân hàng chuyển ủy thác cho ngân hàng đại lý của nước mình ở nước
người nhập khẩu bằng thư nhờ thu và kèm với hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu
ngân hàng này thu tiền từ người nhập khẩu.
(4) Ngân hàng đại lý xuất trình hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu người nhập
khẩu trả tiền nếu là hối phiếu trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền nếu là hối
phiếu trả chậm.
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người hưởng lợi, nếu nhờ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status